Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop

Nguyễn Du - Người đi săn núi Hồng

Nguyễn Du về Hồng Lĩnh trong khoảng thời gian 1794-1796 cùng em Nguyễn Ức với nhiệm vụ được anh Nguyễn Nể giao phó : xây dựng lại từ đường họ Nguyễn Tiên Điền, làng Tiên Điền, đình,chùa Trường Ninh, cầu Tiên. Nguyễn Nể(1761-1805) bận công việc quan về Phú Xuân giữ chức Đông Cácđại học sĩ, gia tặng Thái  sử, thự Tả Thị Lang, tước Nghi Thành Hầu, chức vụ dâng sách cho vua Cảnh Thịnh mới lên mười hai tuổi ,đọc và giảng nghĩa cho vua nghe sách Tiểu Học Diễn Nghĩa do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp và Sùng Chính Viện  vừa mới soạn xong. Ngoài ra còn các công việc giúp vua soạn các chiếu biểu, và kiêm các công việc Cơ Mật Viện, và chức vụ cuối cùng được thăng tới chức  Trung Thư lĩnh hữu đồng nghị, chức vụ ngang hàng với quân sư Trần Văn Kỷ. Nguyễn Nể làm các công việc làm thầy dạy và quân sư cho vị vua trẻ. Nguyễn Nể không thể giao công việc xây dựng lại làng Tiên Điền này cho ai ngoài hai em cùng cha cùng mẹ.

Nguyễn Du được ông anh cả Tiến Sĩ Nguyễn Khản hơn 31 tuổi nuôi dưỡng, khi cha, mẹ mất năm 10, 12 tuổi. Nguyễn Du chịu ảnh hưởngông anhcả cái tài hoa làm thơ Nôm, nhân gian thường truyền tụng các bài hát mới quan Thượng Thư Bộ Lại. Nguyễn Ức chịu ảnh hưởng người anh cả cái tài khéo tay vẽ kiểu xây dựng dinh thự, cung điện. Tất cả việc xây dựng cung vua phủ chúa, cho đến việc thiết trí các hòn non bộ chúa Trịnh Sâm đều giao phó cho Nguyễn Khản. Tiếc thay các công trình xây dựng của Nguyễn Khản cùng sự nghiệp 243 năm các chúa Trịnh. đều bị vua Lê Chiêu Thống sai người đốt cháy hàng tháng trời, sau khi chúa Trịnh Bồng trốn khỏi phủ. Việc xây dựng lại làng Tiên Điền chủ yếu là Nguyễn Ức, người có tài xây dựng, thời Gia Long, Minh Mạng giữ chức Thiêm Sự Bộ Công là người vẽ kiểu,điều khiển việc xây dựng kinh thành Huế.. Nguyễn Du ở cạnh bến sông Quế Giang, cạnh Giang Đình để tiếp nhận gỗ, gạch, vật liệu chở về theo đường sông .

  1. Cuộc sống Nguyễn Du bên bờ sông Quế Giang :

Làng Tiên Điền sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh bị giết năm 1791, cả làng bị làm cỏ,  và đốt cháy rụi  bởi Trấn Thủ Tây Sơn Lê Văn Dụ. Dinh thự Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm bị dùng mở heo đốt  thành tro khói. Thư viện họ Nguyễn Tiên Điền chứa hàng vạn quyển sách không thua gì thư viện Trường Lưu họ Nguyễn Huy, mười phần chỉ còn một hai. Nguyễn Du về quê cha đất tổ, trên một bãi chiến trường còn sót lại, không vợ con, không công danh sự nghiệp nên vẫn xem ba năm ở Tiên Điền là thời gian gió bụi. Các bài thơ làm ở Hồng Lĩnh, cho thấy Nguyễn Du sống độc thân trong một gian nhà tranh, bên bến sông, bốn vách là sách vở thư viện Nguyễn Tiên Điền còn sót lại. Những chồng sách nằm chống đỡ thân bệnh, bên đèn nhấp rượu cho hồng hào dung nhan. Suốt ngày trên bếp không đun lửa. Ngoài song no với khóm cúc vàng. Những chi tiết này bác bỏđiều các sách vở chép Nguyễn Du có vợ họ Đoàn năm 17 tuổi, nếu Nguyễn Du đã có vợ thìít ra cũng có người làm bếp núc trong thời gian này. Sở dĩ Nguyễn Du có vợ muộn năm 30 tuổi  vì anh Nguyễn Khản, người nuôi nấng Nguyễn Du từ năm 1780 hết bị tù tội vì vụán Trịnh Tông, lại bị kiêu binh phá dinh thự và mất năm 1786. Người anh thứ hai Nguyễn Điều cũng mất cùng năm. Từđósau cuộc khởi nghĩa ở Tư Nông Thái Nguyên thất bại, bị bắt  được tướng Vũ Văn Nhậm tha không giết. Nguyễn Du đi giang hồ ba nămở Trung Quốc cùng Nguyễn Đại Lang.  Ba năm trở về Thăng Long, câu cáở Gác Tía của anh, cạnh đền Khán Xuân, yêu cô hàng xóm Xuân Hương Hồ Phi Mai.

Trở về Tiên Điền, Nguyẽn  Du bị bệnh mười tuần (ba tháng mười ngày) vào cuối năm 1794 trên bến sông Quế Giang(Sông Lam) .

Ba bài Tạp ngâm cho ta thấy cảnh sống nhà thơ tại bên bờ sông Quế Giang.

Bài I : Tiếng thu một tối vượt qua sông Lam, không bóng không hình lọt vào nhà ta. Gió Tây muôn dậm làm cho mái tóc thêm bạc (Quân Tây Sơn ra Bắc làm cho Nguyễn Du lo lắng mà bạc tóc). Sắc thu đầy trên cửa sổ trên khóm hoa vàng. Cuộc vui buồn trăm năm bao giờ hết ? Sách vở đầy bốn vách, bao nhiêu cũng vừa. Trước sân trồng một cây tùng cao trăm thước, không biết chúa Xuân sẽ làm gì được người (trồng cây). Bài này cho thấy số sách vở họ Nguyễn Tiên Điền không cháy hết còn lại 1,2 phần mười mà vẫn còn lại một số chất đầy bốn vách. Đáng tiếc nhất là bộ sưu tập thơ văn của Đoàn thịĐiểm của cụ Nguyễn Nghiễm bị cháy.

TẠP NGÂM I

Tiếng thu một tối vượt Lam Hà,

Vô ảnh vô hình đến với ta.

Muôn dậm Tây phong đầu bạc tóc,

Một song thu sắc cúc vàng hoa.

Trăm năm vui khổ bao giờ hết,

Bốc vách thi thư mấy cũng vừa.

Trước ngõ cội tùng trăm thước đứng,

Chúa Xuân ghen có được gì   a ?

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP NGÂM I

Thu thanh nhất dạ độ Lam hà,

Vô ảnh vô hình nhập ngã gia.

Vạn lý Tây phong lai bạch phát,

Nhất song thu sắc tại hoàng hoa.

Bách niên ai lạc hà thời liễu ?

Tứ bích đồ thư bất yếm đa.

Đình thực cô tùng cao bách xích,

Bất tri thanh đế nại nhân hà ?

Chú thích:

Lam hà : tức sông Lam

Thanh đế: thần mùa xuân, còn gọi Đông đế hay Đông quân. Ý nói cây thường xanh tươi mùa xuân, tiêu điều rụng lá mùa thu, nay trồng một cây tùng xanh tươi suốt năm, chẳng hay chúa Xuân có làm gì được người trồng cây tùng không ?

Xích:  thước đo ngày xưa bằng ba gang tay.

Bài Tạp ngâm  II:  Đầu sông Long Vĩ có một gian nhà, ởẩn buồn đến cực độ, bỗng thấy vui. Cõi lòng người khoáng đạt sáng tỏ như vầng trăng. Trước cửa nhàẩn dật toàn là núi xanh. cạnh gối có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật. Trước đèn uống chén rượu cho vẻ mặt tiều tụy vui tươi  lên. Suốt ngày bếp không đỏ lửa, ngoài cửa sổ hoa cúc vàng tươi tốt có thểăn được. Bài viết này thêm một bằng chứng Nguyễn Du còn độc thân.

TẠP NGÂM II

Long Vĩ đầu sông nhà một gian,

Ẩn sầu chót vót bỗng vui tràn.

Đạt nhân lòng tỏ như trăng sáng,

Xử sĩ trước nhà vọng núi xanh.

Gối sách đỡ thân nằm bệnh tật,

Bên đèn rượu nhắp thắm dung nhan.

Suốt ngày bên bếp không đun lửa,

Ngoài song no với khóm hoa vàng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

TẠP NGÂM  III

Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian,

U cư sầu cực hốt tri hoan.

Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,

Xử sĩ môn tiền thanh giả san.

Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt,

Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan.

Táo đầu chung nhật vô yên hỏa,

Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.

Bài Tạp ngâm III: Tháng tám cảnh thu già lặng lẽ, khí trời mênh mang nửa rạm mây nửa nắng. Bụi trúc cao gió thổi, tiếng sáo trời nổi lên, hoa cúc sau trận mưa, rơi xuống rắc hoa vàng trên mặt đất. Khí lạnh rặng núi xa thấm vào giấc mộng người du tử. Nước đầm trong suốt giống như lòng chủ nhân. Ra trước cửa thong thả ngắm sắc thu, thấy một nửa trên dải rừng phong mé đầu sông.

TẠP NGÂM III

Tháng tám thu tàn vương mác man,

Khí trời nửa nắng mây mênh mang.

Gió đùa cao trúc trời vang sáo,

Mưa ướt  hoàng hoa đất rãi vàng.

Núi lạnh gió lùa du tử mộng,

Đầm sâu trong suốt chủ nhân lòng.

Cửa ngoài dạo gót nhìn thu sắc,

Thoáng nửa đầu sông, rừng lá phong.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP NGÂM III

Mạc mạc thu quang bát nguyệt thâm,

Mang mang thiên khí bán tình âm.

Thu phong cao trúc minh thiên lại,

Linh vũ hoàng hoa bố địa câm (kim).

Viễn tụ hàn xâm du tử mộng,

Trừng đàn thanh cộng chủ nhân tâm.

Xuất môn từ bộ khan thu sắc,

Bán tại giang đầu phong thụ lâm.

Bài Tạp thi I  Ghi lại tâm sự Nguyễn Du: Tráng sĩ bạc đầu bùi ngùi ngẫng nhìn trời, hùng tâm sinh khí mờ mịt cả hai. Chuyện tình với cô Xuân Hương làng Nghi Tàm, cô Cúc làng Trường Lưu thành chuyện hão. Lần lửa đông rét hè nóng, cướp cả tuổi trẻ. Dắt chó vàng mãi vui thú dưới Hồng Lĩnh. Trông mây trắng nằm bệnh bên bờ sông Quế. Ở thôn quê, thích được mua rượu luôn. Trong túi hãy còn ba mươi đồng tiền.

TẠP THI I

Bạc đầu tráng sĩ ngẩng trời than !

Đựng nghiệp, mưu sinh thảy lỡ làng.

Thu cúc, xuân lan thành mộng ảo,

Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh.

Chó vàng vui thú quanh Hồng Lĩnh,

Mây trắng, nằm đau cạnh Quế Giang.

Vẫn thích làng quê hằng có rượu,

Ba mươi tiền sẵn túi con mang.

Thơ chữ Hán Nguyẽn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

TẠP THI I

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,

Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.

Xuân lan, thu  cúc thành hư sự,

Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.

Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,

Bạch vân ngọa  bệnh Quế Giang biên.

Thôn cư bất yếm tần cô tửu,

Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

Bài Tạp Thi II. Non Hồng một màu soi bóng xuống làn nước phẳng, nơi thanh tú tĩnh mịch này, kẻ hàn sĩ có thểở được. Mây trắng từ ngàn dậm đến bay in bóng trên giường chiếu, Trăng sáng soi qua cửa sổ chiếu vào cặp sách túi đàn. Nguyễn Du luôn có bên mình thanh gươm và cây đàn nguyệt. Lúc loạn lạc cười khóc cũng theo đời. Thân  già yếu nên yên lặng để giữ mình. Chuyện đời trước mắt thay đổi như hoa nở lá rụng. Quanh năm cõi lòng vẫn thản nhiên như không .  Tình hình Hồng Lĩnh từ sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, công an quận công Thận đang kiểm soát gắt gao, tai vách mạch rừng, nói gì cũng phải cẩn thận, cười khóc phải theo thời, thiên hạđang cười mà mình khóc, thiên hạđang khóc mà mình cười công an bắt ngay !. Từ khi vua Quang Trung mất, chúa Nguyẽn Ánh nổi dậy đang hùng cứ Nam Hà, chuyện đời sẽ đổi thay như hoa nở lá rụng .

TẠP THI  II

Núi Hồng soi bóng nước xanh trong,

Hàn sĩ nơi đây ẩn cảnh nhàn.

Ngàn dậm mây về quanh chiếu chỏng,

Một song trăng sáng rọi thư đàn.

Khóc cười thời loạn theo trần thế,

Bệnh yếu lặng câm mà giữ thân,

Trước mắt nở hoa rồi rụng lá,

Bốn mùa thanh thản có như không.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP THI II

Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ,

Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.

Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch.

Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư.

Tiếu đề tuẫn tục can qua tế,

Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư.

Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,

Tứ thời tâm kính tự như như.

                Trong thời gian ở Hồng Lĩnh,Nguyễn Du trao đổi thơ với Hồ Xuân Hương (Xem Phạm Trọng Chánh, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương Nguyễn Du trên các site Vanhoanghean, chimvietcanhnam, khoahocnet..). Nguyễn Du chia tay với Xuân Hương Hồ Phi Mai nơi Thạch Đình đình đá bến  Vị Hoàng (Nam Định) Nguyễn Du đã ứng khẩu  bài Thạch Đình tặng  và Hồ Xuân Hương đã đáp lại bằng bài Họa Thanh Liên (Chí Hiên) nguyên vận. Hồ Xuân Hương viết cho Nguyễn Du 17 bài thơ và Nguyễn Du gửi Hồ Xuân Hương 11 bài. Câu xướng và thơ họa ý tứ và từ ngữăn khớp nhau:Bài Thu Dạ I Nguyễn Du  cho biết mình bị bệnh:Cùng niên ngoạ bệnh Quế Giang tân (Cuối năm nằm bệnh bến Quế giang). Hồ Xuân Hương trả lời bằng bài Thu vũ, khóc thương chàng: Đoãn trường khô thụ chi đầu lệ (cây khô dài ngắn tuôn hàng lệ) Thâm khuê tối khổ như hoa diện, Nhất phiến sầu dung họa bất thành (Khuê phòng riêng khổ người nhan sắc, Một phiến sầu vương vẽ chẳng thành).  Bài Cố kinh thu nhật, Xuân Hương viết: Đăng nguyệt thanh chiên bi cổ vật (Đèn nguyệt chăn xanh thương vật cũ;  Nguyễn Du trả lời lại bằng bài Khai song: Thanh chiên cựu vật khổ trân tích (Chăn xanh vật cũ khư khư giữ).  Bài Thu nhật tức sự, Hồ Xuân Hương viết: Tây phong tạc dạ áp hàn chi (Đêm qua lành lạnh gió Tây về), Nguyễn Du bài Thu Nhật ký hứng trả lời: Tây phong tái đáo bất quy nhân (Gió Tây mới đến khách chưa về), Gió Tây là quân Tây Sơn. Nguyễn Du viết bài Ký Mộng: Mộng lai cô đăng thanh, Mộng khứ hàn phong xuy. Mỹ nhân bất tương kiến Nhu tình loạn như ti (Mộng đến đèn côi sáng, Mộng tan gió lạnh lùng, Giai nhân nào thấy nữa, Lòng ta rối tơ vương). Hồ Xuân Hương nhắc lại trong bài: Cảm cựu kiêm trình.. Giấc mộng rồi ra nửa khắc không. Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh Ký: Tây Hồ hoa uyển tẩn thành khư. (Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu, vì thiếu nàng chăm sóc) Hồ Xuân Hương dứt tình Tổng Cóc trở về trả lời bằng bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn: Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa, Người đồng châu trước biết bao giờ..

                Thuyền Nguyễn Du từ giả bến Thạch Đình sông Vị Hoàng, Sơn Nam Hạ,( Nam Định)ra đi và về đến bến Giang Đình làng Tiên Điền. Giang Đình là một trong 8 cảnh đẹp huyện Nghi Xuân.

                Về bên bến Giang Đình, Nguyễn Du nhớ lại nơi này năm Tân Mão (1771) triều Lê năm ấy Nguyễn Du lên sáu tuổi. Cụ Nguyễn Nghiễm (1708-1776) tể tướng xin về hưu được thăng Đại Tư Đồ. Chúa Trịnh cho ba chiếc thuyền hải mã đưa về làng, cụ làm quan to nên có xe tứ mã, bốn ngựa kéo, có lót cỏ bồ cho êm. Quan trấn thủ, quan huyện địa phương cũng cho đoàn thuyền đón rước, thuyền xô nước như rồng đấu nhau, tàn lộng phất phới như chim hạc bay báo điềm lành. Ngày đón rước như hội vui chưa từng thấy ghi sâu trong ký ức ngày Nguyễn Du mới sáu tuổi. Từ độ ấy áo xiêm không còn thấy nữa. Hai bên bờ cây cỏ ngậm ngùi nhớ thuở xa xưa. Trăm năm cuộc đời có biết bao nhiêu việc thương tâm. Gần đây, nơi kinh đô cũng đã khác lắm rồi. Sau đó năm 1774 cụ Xuân Quận Công lại được triệu ra phong Tả Tướng Quân, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn. Trận chiến thắng vẻ vang chiếm được Phú Xuân, nhưng năm 1775 cụ bị bệnh dịch, đưa về làng dưỡng bệnh, cụ mất năm Nguyễn Du mới lên mười.  Đây là kỷ niệm duy nhất Nguyễn Du viết về cha mình, năm 28 tuổi.

CẢM XÚC THẤY CẢNH GIANG ĐÌNH

Chạnh nhớ cha ta xưa cáo lão,

Xe bồ ngựa tứ bến sông này.

Thuyền tiên lướt lướt như rồng đấu,

Tàn lộng dập dìu ngỡ hạc bay.

Từ độ áo xiêm không thấy nữa,

Hai bờ cây cỏ chạnh sầu bi, 

Trăm năm buồn biết bao tâm sự,

Nay chốn Trường An khác những ngày.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

GIANG ĐÌNH HỮU CẢM

Ức tích ngôông tạ lão thì,

Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi.

Tiên chu kích thủy thần long đấu,

Bảo cái phù không thụy hạc phi.

Nhất tự y thường vô mịch xứ,

Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi.

Bách niên đa thiểu thương tâm sự,

Cận nhật Tràng An đại dĩ phi.

Chú thích:

Giang đình: Cái đình bên bến sông Lam gần làng Tiên Điền. Ngày xưa trên đường cái quan cứ một đoạn đường khoảng5 dậm cất đoãn đình,  10 dậm cất một cái đình gỗ, gạch gọi là trường đình, trên bến sông cất giang đình, và miền biển vì gió biển, giông bão nên cất đình bằng đá gọi là thạch đình.Đình là nơi nghĩ ngơi các phu chạy ngựa trạm nghỉ ngơi đổi phiên, đổi ngựa, gửi chiếu lệnh triều đình về phủ huyện và các biểu, tấu  ngược lại tâu lên triều đình. Trên sông biển được đi bằng thuyền.

Bồ tứ: bồ luân, xe bọc cỏ bồ cho êm. Ngày xưa vua dùng xe bồ luân đểđi đón người hiền tài, tỏý tôn kính. Xe tứ mã, bốn ngựa ngày xưa dùng cho người làm quan to, nhà cao sang.

IIHồng Sơn Liệp Hộ

                Hết bệnh Nguyễn Du đi săn, trở thành Hồng Sơn Liệp Hộ (người đi săn núi Hồng) đi săn với con chó đốm vàng, nhưng chỉ để lòng thư thái không mong gì được, không hại điều nhân từ diệt các loài. Đến nơi các hươu nai vừa chạy mất hương còn hương thơm trên cỏ ướt.. Nghe tiếng chó sủa, Nguyễn Du không theo kiếm tìm mà bỏ ngoài tai. Nguyễn Du thích đi săn nhưng chỉ mang về măng tre, củ mài củ sắn và rau rừng.. Nguyễn Du thấy lòng mình nhẹ nhàng, mặc ai ra làm quan hưởng phú quý vinh hoa, nhưng lòng đầy lo âu vì những phe phái triều đình Tây Sơn đang tiêu diệt lẫn nhau.  Anh Nguyễn Nể về triều giữ chức Đông Các và lên chứcTrung Thư, quân sư nhà vua trẻ trong hoàn cảnh đó. Chức vụ không thực quyền vì quyền hành trong tay Thái Sư Bùi Đắc Tuyên, vua Quang Trung mất năm 1792 bất ngờ, sự nghiệp còn dang dỡ,  vua Cảnh Thịnh làm vua từ năm 10 tuổi, trước các biến loạn triều đình vua chỉ đứng khóc, thì  Nguyễn Nể, ông quân sư của nhà vua chỉ có công việc dâng nhà vua « vài cây kẹo » và dỗ vua cho nín khóc. Tài năng như Khổng Minh cũng thất bại trước ông vua trẻ con Lưu Thiện, con Lưu Bị, ông quân sư Trần Văn Kỷ bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên đày làm lính thú, Ngô Thời Nhiệm sau khi đi sứ báo tang  trở về Bích Câu Hà Nội, xuất gia thành hoà thượng Hải Lượngviết Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh quên sự đời, Phan Huy Ích thành Bảo Chân đạo sĩ mở Bảo Chân Quán hồ Kim Âu cạnh bên, Đoàn Nguyễn Tuấn về ẩn trong Phong nguyệt sào (Tổ gió trăng), quyền hành Nguyễn Nể cũng rung rinh.  Lần thứ nhất Nguyễn Nể phải xin ra trấn đóng Bình Định, mới vừa thu phục sau khi chiếm được từ tay vua Tây Sơn Trung Ương Nguyễn Nhạc.Ra trấn đóng Bình Định chưa tròn một năm, cuối năm 1795  Nguyễn Nể được cử  đi sứ làm Chánh Sứ sang dự lễ vua Càn Long nhường ngôi cho con là Gia Khánh. Trở về năm 1796lại được phong thưởng cho 40 mẫu ruộng, Nguyễn Nểđem hết tiền bạc Tây Sơn thưởng cho mình để xây dựng lại làng Tiên Điền bị Tây Sơn đốt phá, lần này Nguyễn Nể nhận lãnh trách nhiệm xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô ở Nghệ An để xa lánh những xung đột trong triều đình.  Thời gian Nguyễn Du ở Hồng Lĩnh là lúc Nguyễn Nể mới về Phú Xuân,  cuối năm 1794 Nguyễn Du có vào Phú Xuân thăm anh. Khi anh đi trấn nhậm Bình Định đầu năm 1795  Nguyễn Du có viết bài thơ Ức Gia huynh.  Bài thơ viết khoảng cuối năm 1794 lúc Nguyễn Nể được thăng Tả Phụng Nghị Bộ Binh  vào thành Quy Nhơn giữ chức Hiệp Tán Nhung Vụ (Trấn Thủ). Một chức vụ buộc anh ở phía Nam toà thành sáu tháp. Nguyễn Du không đồng ý với anh nên cho rằng chức quan chỉ là sự bó buộc. Ban đêm vượt đèo Hải Vân đá lởm chởm, đi gấp để ra trấn đóng. Ba năm trấn đóng vùng núi sơn lam chướng khí. Quy Nhơn, thành Đồ Bàn, kinh đô cũ Chiêm Thành, kinh đô của vua Trung Ương Tây Sơn Nguyễn Nhạc  mới thu hồi, ấp thang mộc Tây Sơn  nơi hiểm yếu, khác với thái độ Phan Huy Ích trong bài Tiễn Binh Bộ Tả phụng nghị Nghi Thành Hầu phó Qui Nhơn thành lời lẽ phấn khởi ca tụng tiễn đưa Nguyễn Nể,  Nguyễn Du vẫn xem đó là vùng lam chướng hẻo lánh.(xem bài Nguyễn Nễ bậc kỳ tài site ditichnguyendu..). Tiết tháng hai lạnh lẽo nhìn hoa khói quê nhà. Một phen từ biệt rồi không biết mai ra sao ? Cuộc trùng phùng có lẽ phải đợi đến kiếp sau. Trời bể mênh mông, đường xa nghìn dậm. Hồn phách tìm nhau dù trong mộng cũng khó. Một biệt phương nào ai biết nhỉ ? Nguyễn Du trong lòng đã nghĩ đến chuyện đi vào Nam theo Nguyễn Ánh, nên nghĩ rằng sẽ không còn gặp anh nữa.

NHỚ ANH

Lục Tháp thành Nam buộc chức quan,

Gập gềnh đá vượt Hải Vân đêm.

Chướng lam ba tết xa, đồn trú,

Hoa khói tháng hai , nhớ cố hương.

Một biệt phương nào ai biết nhỉ ?

Kiếp sau hẹn đến cuộc tương phùng;

Biển trời mù mịt đườngngàn dậm,

Trong mộng tìm nhau cũng khó khăn.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

ỨC GIA HUYNH

Lục Tháp thành Nam hệ nhất quan,

Hải Vân dạ độ thạch toàn ngoan.

Cùng xu lam chướng tam niên thú.

Cố quốc yên hoa nhị nguyệt hàn.

Nhất biệt cách tri hà xứ trú,

Trùng phùng đương tác tái sinh khan.

Hải thiên mang điểu thiên dư lý,

Thần phách tương cầu mộng diệc nan.

Chú thích:

Lục tháp thành: chỉ thành Bình Định, có 8 cụm tháp, nhưng chỉ có 6 cụm ở gần đường chỉ thấy có sáu nên người xưa gọi là thành Lục Tháp.

Hải Vân đèo nằm giữa Thừa Thiên và Quảng Nam rất hiểm yếu nên được gọi là Đệ Nhất Hùng Quan.

                Nguyễn Hành viết về Phi Tử Nguyễn Du trong bài Ca tụng việc đi săn (Trương Chính. Thơ chữ Hán Nguyễn Du  Nxb Văn Học, Hàn Nội 1965,  tr 38) :

Đó là ông nói việc đi săn của người tầm thường, chứ ông đâu có biết việc đi săn của bậc đại nhân. Bậc đại nhân đi săn không ở chỗ đi săn. Họ nhỡn nhơ chỗ nọ chỗ kia, ngắm núi ngắm rừng. Họ trèo lên đỉnh cao để nhìn vực thẳm, tắm gội nơi suối trong, thơ thẩn giữa cây tùng cây bách,nhìn tạo vật biến hóa, đùa giỡn với hươu nai, do đó mà tinh thần được thư thái, ý chí được trau giồi, lòng dạ thảnh thơi không bận bịu, mây nhẹ nhàng luồn trong tay áo, gió phất phơ thổi đưa tà áo, trông thấy kinh kỳ trong gang tấc, hứa hẹn những cuộc ngao du. Bậc đại nhân đi săn như thế, người tục đâu có biết !

Bài Liệp, Đi săn Nguyễn Du viết :  Những người áo mũ hiển đạt để chí mình ở đường mây, còn ta, ta vui với bầy hươu nai của ta, cốt là để khuây khỏa trong lúc nhàn chớ đâu phải ham được thịt thú. Diệt trừ giống khác hại chăng đến đức nhân ? Con xạ ngủ nơi đồng cỏ non hương thơm còn ướt. Con chó vượt qua nhiều lớp núi, tiếng sủa không còn nghe thấy. Tìm thú vui chơi trong cuộc phù sinh mỗi người một sở thích. Những người lọng đón xe đưa là người nào thế nhỉ ?

ĐI SĂN

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,

Còn ta vui thú với hươu nai.

Cốt lòng thư thái không mong được,

Không hại điều nhân diệt các loài.

Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,

Núi xa,  chó sủa tiếng ngoài tai.

Thú vui phù thế âu tùy thích,

Xe đón lộng che ấy những ai ?

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

LIệP

Y quan đạt giả chí thanh vân,

Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.

Giải thích nhàn tình an tại hoạch,

Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.

Xạ miên thiển thảo hương do thấp,

Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.

Phù thế vi hoan các hữu đạo,

Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:

Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt.

Bài Hành lạc từ Nguyễn Du viết Bài I :

Chó tốt lông vàng đóm trắng, cổđẹp đeo chuông vàng, chàng trai trẻ mặc áo cộc, dắt về núi phía nam.  Núi phía nam có lắm nai hương, huyết thơm thịt lại béo, dao vàng thái thành món ăn quý, rượu ngon uống hàng trăm chén. Đời người ai sống trăm tuổi, vui chơi nên kịp thì, tội gì giữ nếp nghèo nàn, suốt năm không mở mặt mở mày. Di Tề chẳng có danh lớn. Đạo Chích, Trang Cược hai tay trộm cướp thời Xuân Thu cũng chẳng giàu to. Sống lâu cũng chỉ tám mươi tuổi, cần gì tính chuyện nghìn năm.Có chó cứ giết ăn thịt, có rượu cứ uống cho hết; chuyện trước mắt hay dỡ khó mà biết được, cần gì phải lo cái danh xa xôi sau khi chết rồi.

Bài II:  Trên núi có hoa đào tươi đẹp như tấm lụa đỏ, sáng sớm còn đùa giỡn với màu xuân đẹp, chiều tối đã nằm giữa bùn lầy. Hoa đẹp không được trăm ngày, người sống lâu mấy ai trăm tuổi, chuyện đời lắm đổi thay, kiếp phù sinh nên cứ vui chơi. Trên tiệc có gái đẹp như hoa, trong vò có rượu quý như nổi sóng vàng, tiếng thúy quản, tiếng ngọc tiêu (tiếng kèn, tiếng sáo) khi mau khi chậm, được dịp hát to cứ hát to. Người không thấy ông Vương Nhung cầm thẻ ngà, ngày nào cũng tính toán mà trong bụng vẫn thấy chưa đủ. Đài Tam công cũng đổ, cây mận ngon cũng chết, bạc vàng tiêu tan cho người khác hưởng. Lại không thấy ông Phùng Đạo lúc về già  phú quý xiếc bao, trải mấy triều vua không rời gôi khanh tướng, thế mà miếng đỉnh chung rốt cuộc vẫn không, nghìn năm chỉ lưu lại bài Trường Lạc Tự. Phú quý trước mắt không khác gì phù vân, người nay chỉ biết cười người xưa, người chết mồ mảđã ngổn ngang, người sau vẫn bôn tẩu rộn ràng ? Xưa nay kẻ hiền người ngu cũng chỉ trơ lại một nấm đất, không ai vượt qua cửa ải sống chết, khuyên anh nên uống rượu rồi vui chơi, kìa trong cửa sổ phía tây, bóng mặt trời đã xế.

                Bài thơ phản phất không khí thơ bài Lý Bạch mời ruợu, Trương Tiến Tửu, hãy vui chơi hôm nay. Đừng lo danh tiếng hảo xa vời khi đã chết, công danh, giàu sang trần thế như phù vân, có rồi lại mất, đời người ai sống được trăm tuổi, làm chi cho mệt cuộc đời. Đọc bài này rồi ta không thể nghĩ rằng Nguyễn Du có thể viết ngược lại đòi ba trăm năm lẻ nữa có người khóc mình trong bài Độc Tiểu Thanh Ký.

BÀI TỪ HÀNH LẠC I

Chó săn vàng đốm trắng,

Cổ đẹp đeo chuông vàng.

Chàng trai mặc áo ngắn,

Dắt về phía núi Nam.

Núi Nam nhiều nai hương,

Huyết ngọt thịt thơm ngon.

Dao vàng thái món quý,

Rượu ngon uống trăm chung.

Đời ai sống trăm tuổi,

Gặp thời cứ vui chơi.

Tội chi sống bần tiện,

Lo âu suốt đời người.

Di Tề chẳng danh lớn,

Chích Cược không giàu to.

Sống lâu chỉ tám chục,

Tội gì ngàn năm lo.

Có chó cứ làm thịt,

Có rượu cứ nghiêng bầu.

Hay dỡ trên đời sao biết được,

Cần gì lo tiếng hão về sau.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

HÀNH LẠC TỪ  I

Tuấn khuyển hoàng bạch mao,

Kim linh hệ tú cảnh,

Kinh sam thiếu niên lam,

Khiển hướng Nam sơn lĩnh.

Nam sơn hương đa mi,

Huyết nhục cam thả phì.

Kim đao thiết ngọc soạn,

Mỹ tửu lũy bách chi.

Nhân sinh vô bách tải,

Hành lạc dương cập kỳ.

Vô vi thủ bần tiện,

Cùng niên bất khai mi.

Di Tề vô đại danh,

Chích Cược vô đại lợi,

Trung thọ chỉ bát thập,

Hà sự thiên niên kế.

Hữu khuyển khả tu sát,

Hữu tửy thả tu khuynh.

Nhãn tiền đắc táng dĩ nan nhận,

Hà sự mang mang thân hậu danh.

Chú thích :

Di, Tề : Bá Di, Thúc Tề con vua Cô Trúc, một nước thuộc nhàÂn nay thuộc tỉnh Trực Lệ, Khi nhàÂn bị nhà Chu lấy, hai người không phục nhà Chu, lên núi Thú Dương ởẩn rồi nhịn đói mà chết chứ không thèm ăn thóc nhà Chu.

Chích, Cược : Đạo Chích và Trang Cược hai tên trộm cướp nổi tiếng thời Xuân Thu. Đạo Chích em của Liễu Hạ Huệ có khoảng chín ngàn lâu la, đi bắt bò trâu trộm, cướp vợ người. Trang Cược em Sở Trang Vương cũng là tay cướp đại bợm.

Trung thọ : Người xưa chia tuổi làm ba bậc : Hạ thọ (60 tuổi), Trung thọ (80 tuổi), Đại thọ (90 tuổi).

BÀI TỪ HÀNH LẠC  II

Núi cao hoa đào nở,

Tươi như màu lụa đỏ.

Sáng mai đùa xuân xanh,

Chiều tối rơi bùn nhọ.

Hoa nào đẹp trăm ngày ?

Người sống ai trăm tuổi ?

Chuyện đời lắm đổi thay,

Kiếp phù sinh chơi mãi.

Trong tiệc mỹ nữ đẹp như hoa,

Trong hồ có rượu như vàng pha,

Tiếng kèn tiếng sáo như khoan nhặt,

Được dịp hát to cứ hát ca.

Anh có thấy ông Vương Nhung tự tay cầm bàn ngà,

Ngày ngày tính toán lòng chưa vui sướng,

Đài Tam công đổ, cây mận ngon tàn,

Bạc vàng tiêu tán người khác hưởng.

Lại thấy không, ông Phùng Đạo khi về già còn phú quý.

Trải mấy triều vua ngôi cao khanh sĩ,

Chuông minh đỉnh vạc lại hoàn không,

Nghìn năm lưu bài Trường Lạc Tự.

Giàu sang trước mắt như phù vân,

Người nay chỉ biết cười người trước,

Người trước chết chôn đầy tha ma,

Người nay sao vẫn còn xuôi ngược.

Hiền ngu xưa nay một nấm mồ,

Nào ai vượt qua được sống chết.

Anh ơi uống rượu rồi vui chơi,

Kìa trông phía Tây trời đã xế.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

HÀNH LẠC TỪ   I I

Sơn thượng hữu đào hoa,

Xước ước như hồng ỷ,

Thanh thần lộng xuân nghiên,

Nhật mộ trước nê trỉ.

Hảo hoa vô bách nhật,

Nhân thọ vô bách tuế,

Thế sự đã suy di,

Phù sinh hành lạc sự.

Tịch thượng hữu kỹ hiểu như hoa,

Hổ trung hữu tửu như kim ba,

Thúy quản ngọc tiêu hoãn cánh cấp.

Đắc cao ca xứ thả cao ca.

Quân bất kiến:

Vương Nhung nha trù thủ tự tróc,

Nhật nhật cối kê thường bất túc,

Tam công đài khuynh hảo lý tử,

Kim tiền tán tán tha nhân phúc.

Hựu bất kiến:

Phùng Đạo vãn niên xung cực quý,

Lịch triều bất ly khanh tướng vị,

Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không,

Thiên trải đồ lưu  Trường Lạc Tự.

Nhãn tiền phú quý như phù vân,

Lãng đắc kim nhân tiếu cổ nhân.

Cổ nhân phần doanh dĩ luy luy,

Kim nhân bôn tẩu hà phân phân,

Cổ kim hiền ngu nhất khâu khổ,

Sinh tử quan đầu mạc năng độ.

Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan,

Tây song nhật lạc thiên tương mộ.

Chú thích:

Vương Nhung: một trong Trúc Lâm thất hiền đời Tấn, nhà giàu ruộng vườn khắp các châu, nhưng lại là tay biển lận, ngày nào cũng cầm bàn tính, thẻ ngà trong tay để tính toán, trong nhà có cây mận rất ngon, bán quả sợ người ta được giống, nền dùi nát hột đi rồi mới bán.

Phùng Đạo, người đời NgũĐạo, tính chất phát văn chương hay, làm khanh tướng dưới bốn triều Đường, Tấn.. tự đặt hiệu là Trường Lạc lão có làm bài Trường Lão lạc tứ tự kể chuyện mình thờ bốn họ, sáu ông vua.

Đọc bài thơ Hành Lạc Từ của Nguyễn Du chúng ta tìm lại được cái an vui thanh thản của nhà nho ngày xưa. Cái triết lýÁĐông  chấp nhận cuộc đời có sống có chết lẽ thường.  

Bài Lam Giang Nguyễn Du tả cảnh hùng tráng sông Lam. Theo GS Hoàng Xuân Hãn La Sơn Phu Tử sđd tr 44, 45. Sông Lam Giang ở phương tây bắc chảy  xuống, len vào giữa ba huyện Thanh Chương, Lương Sơn và Nam Đàn, về phía nam có hai nguồn : Ngàn Phố ở huyện Hương Sơn tự phía tây lại. Ngàn Sâu ở huyện Hương Khê từ phương nam ra. Hai nguồn này len núi mà tới, hợp nhau ở ngã ba Tam Soa, dưới chân núi Tùng Lĩnh và đầu dãy núi Thiên Nhận. Hai dòng hợp thành sông La Giang. Tam Soa còn cách bể 40 cây số. La Giang quanh co hai khúc đông tiến rồi lại bắc tiến, gặp sông Lam Giang ở chân núi Nghĩa Liệt (Lam Thành), gần bến đò Phù Thạch. Bến đò Phù Thạch là nơi hiểm yếu của vùng Hồng Lam. Bên bắc có phủ Hưng Nguyên. Bên nam có phủ Đức Thọ ( huyện La Sơn). Chỗ này còn cách cửa Hội 30 cây số. Từ đó Lam Giang chảy sang phương đông, gặp núi Hồng Lĩnh ở chân núi Ngũ Mã, cho nên đổi hướng lên phương bắc. Chảy qua gành Bến Thủy gần núi Mèo và ngăn chia núi Dũng Quyết ở Bắc và núi Hồng Lĩnh phía Nam (Phượng Hoàng Trung Đô được xây dựng nơi này). Vượt qua chổ hẹp liền chảy vào hai huyện Nghi Xuân và  Nghi Lộc mà vào Đông Hải ở cửa Hội Thống. Triền sông Lam là nơi có nhiều thắng cảnh. Đứng chỗ nào cũng trông thấy núi. Mà núi nào cũng đầy dấu tích xưa: đền cũ, thành xưa, bãi chiến trường, nơi ẩn dật..

                Sáng mai trông sông Lam, tràn đầy nước lụt mùa thu, cá giải bơi đùa nơi gò đẫy, trâu ngựa không nhận ra bờ nước. Bờ sông lở sụp ầm ầm như sóng dữ. Sóng lớn thấy như có quỷ lạ. Hiểm nguy thắng lòng người, nghiêng đổ cũng do ý trời. Ta nhìn đầu sông Lam, tất lòng thường lo rầu. Thường lo lỡ sẩy chân, chìm ngỉm không đáy. Thế sao người trên đời, dựa vào hiểm mà không biết sợ. Người xưa qua sao cuồn cuộn, người sắp đến còn chưa thôi. Trới vốn có đức hiếu sinh, sao cứ để thế mãi. Muốn đẩy núi Thiên Nhận, lấp bằng năm trăm dậm.

LAM GIANG

Sáng sớm nhìn sông Lam,

Mùa thu nước sông tràn,

Cá dải bơi gò bãi,

Trâu ngựa lạc đường sang.

Bờ lỡ ầm như sấm,

Sóng xô như quỷ hiện,

Nguy hiểm nản lòng người,

Sụt lở ý trời khiến.

Ta trông đầu sông Lam,

Lòng thường lo áy náy,

Nếu không may sẩy chân,

Hẳn chìm sâu tận đáy.

Thế sao người thế gian,

Hiểm nghèo không sợ hãi.

Người trước cuồn cuộn đi,

Người sau ào ào tới,

Lòng trời vốn thương người,

Sao cứ để vậy mãi.

Muốn đem Thiên Nhận Sơn,

Lấp năm trăm dậm lại.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

LAM GIANG

Thanh thần vọng Lam Giang,

Lam Giang trướng thu thủy,

Ngư miết du khâu lăng,

Ngưu mã mê nhai sĩ.

Dỉ ngạn băng bạo lôi,

Hồng đào kiến kỳ quỷ.

Hiểm nguy thắngnhân tâm,

Khuynh phúc diệc thiên ý.

Ngã vọng Lam Giang đầu,

Thốn tâm thường chủy chủy.

Thường khủng nhất thất túc,

Cốt một vô để chỉ,

Như hà thế gian nhân,

Thừa hiểm bất tri úy.

Khứ giả hà thao thao.

Lai giả thượng vị dĩ,

Đế đức bản hiếu sinh,

Ná đắc trường như thị.

Nghĩ khu Thiên Nhận Sơn,

Điền bình ngũ bách lý.

Chú thích:

Thiên Nhận Sơn: núi giáp giới hai huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) và Thanh Chương (Nghệ An). Mạch núi này ngăn sông Phố và sông Lam nơi chổ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ởẩn bên cạnh thành Lục Niên của vua Lê Thái Tổ.

                Bài Ninh Công Thành. Thành ông Ninh tức Trịnh Ninh hay Trịnh Toàn, làm trấn thủ Nghệ An, có xây thành để chống nhau với quân chúa Nguyễn. Từ Nghệ An vào Quảng Bình, có nhiều thành không phải của Trịnh Ninh làm ra, nhưng người địa phương vẫn quen gọi thành ông Ninh, vì không hiểu rõ lai lịch. Ởđây là thành cũ trên núi Dũng Quyết sát bờ sông Lam ở gần Bến Thủy tại đây đã diễn ra nhiều trận đánh quyết liệt giữa quân Nam Hà và Bắc Hà. Bức thành cũ nay còn dấu vết, người địa phương gọi là Thành ông Ninh.

                Một mình trèo lên núi cao tầm mắt mới, chuyện cũ anh hùng như còn treo ở bến sông. Trên dưới bức thành đều là cây cao, mười dậm thành còn như thấy oai phong người xưa. Nơi đây Nam Bắc đã quy về một mối. Đây là nơi còn giếng bếp của thuở xưa đồn trú ba quân. Mười năm chưa rửa được mối hận Nam nhi, gõ kiếm hát bài trường ca trước mây trắng. Hai câu cuối thật tuyệt tác.

THÀNH NINH CÔNG

Một mình lên núi đứng cao trông,

Chuyện cũ anh hùng đây bến sông.

Cây lẫn một thành cao lớp lớp,

Người xưa mười dậm ngợp oai phong.

Đất này nam bắc liền giềng mối,

Giếng bếp xưa kia ngày đóng quân.

Chưa rửa mười năm hờn tráng sĩ,

Vỗ gươm mà hát, ngóng mây bồng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

NINH CÔNG THÀNH

Độc thướng cao sơn nhãn giới tân,

Anh hùng vãng sự quải giang tân.

Nhất thành thượng hạ tận kiều mộc,

Thập lý uy phong kiến cổ nhân.

Thử địa bắc nam qui nhất trục,

Đương thì tỉnh táo trú tam quân.

Thập niên vị tiếng nam nhi hận,

Đàn kiếm trường ca đối bạch vân.

Chú thích:

Qui nhất trục: Trục xe lồng giữa hai bánh xe, ý nói  thống nhất quốc gia. Hai bánh cùng một cỡ.

                Trong những ngày đi săn, đi tìm những di tích nơi khởi nghĩa cuả anh Nguyễn Quýnh(1761-1791). Nguyễn Du khâm phục ông anh thứ tư này, nhưng không muốn làm nhưông, từ lúc chia tay tại Liễu Châu năm 1787: Nguyễn Quýnh tức Nguyễn Sĩ Hữu muốn về làm chủ Hồng Lĩnh, Nguyễn Du từ biệt người anh vì lòng chỉ muốn như chúa Trịnh Bồng thành nhà sưđi ngao du đóđây, như Lý Bạch ngao du giang hồ thời tuổi trẻ, không bận danh lợi.  Trong gia đình  người hoài Lê nhất  là Nguyễn Quýnh. Nguyễn Hành có viết bài thơ Viếng Chú Nguyễn Quýnh  trong  Minh Quyên thi tập.  Đạo lớn thành người sinh ra chẳng đồng đều. Gặp hiểm nguy khẳng khái chỉ có một mình ông. Một thân ông gánh vác cả cương thường, muôn thuở vang danh  phong cách tráng liệt. Nhìn sự việc ngày nay buồn biết bao nhiêu. Nhớ chú ngày xưa thật ung dung không sợ gì cả.  Đau lòng không nởđi qua miếu thờ nơi chú bị hành hình, hát khúc hát một mình mà lệ ướt đầm.

VIẾNG CHÚ NGUYỄN QUÝNH

Đạo lớn thành người sinh chẳng đồng,

Gặp nguy khẳng khái một mình ông.

Một thân gánh vác cương thường trọng,

Muôn thuở danh vang tráng liệt phong.

Nhìn việc ngày nay buồn biết mấy,

Nhớ xưa người trước thật ung dung.

Đau lòng không nở đi qua miếu,

Hát khúc độc ca lệ thắm dòng.

Thơ Nguyễn Hành, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

THƯỚNG THÚC PHỤ NGUYỄN QUÝNH

Đại đạo thành nhân nỗi bất đồng

Lâm nguy khẳng khái nghĩa duy không.

Nhất thân độc nhiệm cương thường trọng.

Vạn cổ do văn tráng liệt phong.

Cổ thi kim triều hà truật bức,

Hồi huy đương phạt thâm trung dung.

Thông tâm hồi ngại kinh từ miếu,

Độc lập ca thành lệ mãn không.

III       Bạn hữu tại Hồng Lĩnh:

                Những ngay ở Hồng Lĩnh, Nguyễn Du có viết thơ tặng Thực Đình, người bạn đồng môn, thi đồng khoa. Thực Đình có nghĩa làăn ởđình làng, anh bạn này ngày hai bữa vỗ bụng rau bình bịch, ăn cá gỗ, đói cả năm, chỉ chờ khi cóđám tiệc ởđình làng mới được no.  Hạc trời cá đầm biết đâu mà tìm. Từ ngày chia tay ở La Thành, chốc đã mười năm. Nguyễn Du viết bài này khoảng năm 1794, chia tay với bạn ở thành Nghệ An. Nguyễn Du ra Sơn Nam thi 1783 Nguyễn Du có thời gian thuở nhỏ ở Tiên Điền học với chú là Nguyễn Trọng. Bạn đồng niên giáp mặt mà như trời đất xa cách, chuyện cũ nhìn lại thành xa xôi như cổ với kim. Gặp lại bạn cũ, bạn vẫn ở lại Hà Tĩnh, dạy học, làm thầy đồ, làm kẻ hàn sĩ trong xóm làng hẽo lánh. Nguyễn Du ở kinh đô, rồi đi trấn đóng Thái Nguyên, đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc có cái nhìn thoáng rộng: nói chuyện dạo Ngũ Hồ, chuyện Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch..,  còn bạn chỉ kể chuyện ngày xưa trong làng mạc, chuyện hát phường nón, chuyện tế sốnghai cô gái làng Trường Lưuđi lấy chồng, nên giáp mặt nhau mà như trời với đất, chuyện mười năm trước đã thành chuyện cổ. Tóc bạc làm tiêu ma chí khí kẽ sĩ nghèo. Chiếc áo sồi trân trọng tấm lòng người cũ. Bạn sống đời nhọc nhằn, tóc đã bạc, lo với miếng ăn cuộc sống, không còn chí khí trị nước, bình thiên hạ của kẻ sĩ, không còn mộng làm quan vì thời thế vua Lê, cúa Trịnh đã sụp đổ, không muốn tôi trung thờ hai chúa. Gặp bạn, bạn tặng cho manh áo sồi như Tu Giả tưởng Phạm Tuy nghèo đói mà tặng cho manh áo vải thô, đủ tỏ lòng quyến luyến đến bạn cũ rồi. Từ nay ta lại có nhau là bạn. Chớ lo ở nơi hẻo lánh không có bạn. Sông Lam, núi Hồng đủ để ngâm vịnh.

TẶNG ANH THỰC ĐÌNH

Hạc trời cá nước biết đâu tìm,

Một biệt La Thành đã chục năm.

Bạn cũ gặp nhau : trời với đất,

Việc xưa nhìn lại: cổ cùng kim.

Tiêu ma sĩ khí nghèo đầu bạc,

Trân trọng áo thô tặng cố nhân.

Chớ bảo quê xa không bạn hữu,

Hồng Sơn, Lam thủy đủ ca ngâm.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẶNG THỰC ĐÌNH

Thiên hạc đàm ngư hà xứ tầm,

La Thành nhất biệt thập niên thâm.

Đồng niên đối diện cách thiên nhưỡng,

Vãn sự hồi đầu thành cổ kim.

Bạch phát tiêu ma bần sĩ khí,

Đề bào trân trọng cố nhân tâm.

Mạc sầu tịch địa vô giai khách,

Lam thủy,  Hồng sơn túc vịnh ngâm.

Chú thích:

La Thành: Thành Nghệ An.

Đồng niên: bạn cùng tuổihay cùng khoa.

Đề bào: Áo vải thô. Tích trong Xuân Thu Chiến Quốc. Phạm Tuy người nước Ngụy, thuyết khách, nhà nghèo, giúp việc cho Tu Giả , Trung đại phu. Tu Giảđi sứ Tềđem Phạm Tuy theo, thấy Tề biếu vàng cho Tuy nghi Tuy tiết lộ bí mật của Ngụy. Giả về nói với công tử Ngụy Tề, Ngụy Tề giận sai lấy roi đánh Tuy gãy cả xương sườn, rụng răng, lấy chiếu bó lại, vất trong nhà xí, khách khứa uống rượu tiểu lên người. Thoát chết Tuy sang Tần đổi tên là Trương Lộc, thuyết phục được vua Tần theo kế sách mình, được phong làm Thừa Tướng. Ngụy sai Tu Giả sang xứ Tần. Phạm Tuy mặc áo rách đi bộ lẽn tới gặp Tu Giả. Tu Giả cả kinh vì tưởng Tuy đã chết. Tuy nói mình đang làm thuê. Tu Giả trong lòng thương hại, giữ lại cùng ăn uống, nói:  Phạm Thúc nghèo đến thế sao ? bèn lấy một cái áo vải thô để tặng Phạm Tuy. Khi vào tướng phủ mới vỡ lẽ Phạm Tuy đang làm Thừa Tướng. Tu Giả cả kinh tạ tội. Phạm Tuy kể ba tội đáng chết của Tu Giả, nhưng sỡ dĩ khỏi chết, vì có tình quyến luyến tặng cho chiếc áo đề bào, có tình nghĩa với người cũ nên tha cho. Vì vậy đề bào nói tình cố nhân quyến luyến.

Bài Phúc Thực Đình.Đông lạnh hạ nóng lần lửa trôi qua. Năm tháng chồng chất trên mái đầu già cốc. Cảnh chim hoa, phồn hoa  chốn kinh kỳở ngoài nghìn dậm. Sống giang hồáo tơi nón lá mười năm nay (1786-1796); Tụ họp thường khó gặp những người bạn mắt xanh, gỡ tóc biết lòng mình chưa giải tỏ. Sông Lam núi Hồng đẹp vô cùng, tha hồ anh thu thập làm đề tài ngâm vịnh. Về Hồng Lĩnh, Nguyễn Du có tụ họp nhiều người bạn, nhưng chẳng có ai hiểu mình trừ Thực Đình, tuy nhiên cũng chưa phải là bạn tri kỷ để giải toả hết tâm sự mình, lòng Nguyễn Du như tóc rối vẫn chưa được gỡ ra. Tóm lại tại Hồng Lĩnh Nguyễn Du không tìm ra bạn đồng chí hướng, nên không thể thực hiện một hoạt động gì. Cũng nên nhắc lại ngày xưa các cụ ta búi tóc, cái răng cái tóc là gốc con người, các cụ ta không hớt tóc, cũng không cắt móng tay

TRẢ LỜI BẠN THỰC ĐÌNH

Đông lạnh hạ nồng lần lửa qua.

Tháng năm chồng chất tuổi thêm già.

Chim hoa thành thị xa ngàn dậm,

Tơi nón sông hồ mười năm  qua.

Họp bạn khó tìm người mắt biếc,

Gỡ đầu còn rối cõi lòng ta.

Hồng sơn, Lam thủy vô cùng đẹp,

Hứng sẵn tha hồ anh vịnh ca.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

PHÚC THỰC ĐÌNH

Đông hàn hạ thử cố xâm tầm,

Lão đại đầu tô tuế nguyệt thâm.

Kinh quốc anh hoa thiên lý ngoại,

Giang hồ soa lạp thập niên câm (kim).

Tụ đầu nan đắc thường thanh mục,

Lý phát đương tri vị bạch tâm,

Lam thủy, Hồng sơn vô hạn thắng,

Bằng quân thu thập trợ thanh ngâm.

Chú thích:

Thanh mục: mắt xanh Nguyễn Tịch đời Tấn gặp bạn tri kỷ thì mắt xanh, gặp tục khách thì mắt trắng.

IV. Đi tìm Minh Chúa. Nguyễn Du không có tâm sự hoài Lê.

                Các sách đều cho rằng Nguyễn Du có tâm sự hoài Lê. Theo tôi,  Nguyễn Du không hoài Lê gì cả. Nguyễn Du ở Thăng Long (1790-1793), thì vua Quang Trung chết bất ngờ năm 1792, sự nghiệp Tây Sơn dang dỡ. Nguyễn Du không thấy minh chúa nơi ông vua trẻ Cảnh Thịnh lên mười, không thấy lối thoát nơi Thái Sư Bùi Đắc Tuyên cũng như tướng Vũ Văn Dũng. Các quân sư tài năng  như Trần Văn Kỷ, tài năng như anh Nguyễn Nể, không có một người biết dùng và biết lắng nghe thì tài năng đó cũng đành bỏ không ! Chúa Trịnh Bồng đi tu biệt tăm biệt tích, Nguyễn Du ba năm (1787-1790) thành nhà sư Chí Hiên như chúa Trịnh Bồng,đi giang hồ muôn dậm Trung Quốc, đọc kinh Kim Cương ngàn lượt, nhưng cuối cùng tại Hàng Châu  tìm thấy ý nghĩa đời mình trong việc diễn nôm truyện Kim Vân Kiều để mua vui một vài trống canh. Nguyễn Du từng đến Bắc Kinh năm 1790 nhìn thấy vua Lê Chiêu Thống bị nhà Thanh bạc đãi nơi xứ người, không tìm thấy lý tưởng hoài Lê nơi ông vua sống lây lất xứ người.

                Vào thời điểm năm 1796, bốn năm sau khi vua Quang Trung mất,  Nguyễn Du chỉ có sự chọn lựa giữa  tướng Vũ Văn Dũng và chúa Nguyễn Ánh.Tình hình triều Tây Sơn,  Thái Sư Bùi Đắc Tuyênđày quân sư Trần Văn Kỷ làm lính thú, trước các biến động triều đình  Ngô Thời Nhiệmđi tu, Phan Huy Ích thành đạo sĩ,Đoàn Nguyễn Tuấn, Ninh Tốn cũng vềởẩn, anh Nguyễn Nể phải tìm cớ trốn khỏi kinh đô Phú Xuân bằng cách ra trấn thủ Qui Nhơn. Bùi Đắc Tuyên đang chuẩn bị những bước tiếm quyền nhà Tây Sơn thì bị giết. Việc giết Nguyễn Bảo năm 1798 con vua Nguyễn Nhạc, lịch sử đổ tội cho vua Cảnh Thịnh, nhưng  Cảnh Thịnh chỉ là một cậu bé con không thể làm việc đó, cả việc vu cáo Nguyễn Bảomuốn trốn theo Nguyễn Ánh cũng chưa chắc là sự thực. Trong mắt người đời thời bấy giờ Bùi Đắc Tuyên chỉ là một gian thần, tướng  Vũ Văn Dũng không đủ tài điều khiển triều đình Tây Sơn.  Thực sự nếu Thái Sư Bùi Đắc Tuyên muốn phụng sự nhà Tây Sơn, thì phải cộng tác với quân sư Trần Văn Kỷ và các nhân vật đã được vua Quang Trung dùng, có lẽ tình hình nhà Tây Sơn đổi khác. Thái Sư Bùi Đắc Tuyên  cùng con là Bùi Đắc Trụ và tướng Ngô Văn Sở lại bị tướng Vũ Văn Dũng  bắt vàtrấn nước giết chết. Triều đình cũng chẳng yên các phe phái ganh ghét hiềm kích lẫn nhau. Trần Quang Diệu bị thu cả binh quyền chỉ giữ chức tại triều.Trấn thủ Lê Trung bịnói gièm là giúp Tiểu triều Nguyễn Bảo làm phản bị giết, con rể là tướng Lê Chất sang đầu hàng Nguyễn Vương.  Ít lâu sau quan Thiếu Phó Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết, tướng sĩ Tây Sơn nhiều người nản lòng bỏ theo Chúa Nguyễn . Tướng  Vũ Văn Dũng điều khiển quân độiđánh thành Quy Nhơn năm 1799, một đêm có một con nai chạy qua, có người gọi: con nai, con nai ,  quân sĩ  Tây Sơn  nghe lầm  tưởng quân Đồng Nai của chúa Nguyễn đến, thế là quân sĩ bỏ chạy trốn hết. Quân dưới trướng Vũ Văn Dũng  không đánh màbị tan rã, Trần Quang Diệu phải  che dấu cho Vũ Quang Dũng chuyện này để khỏi bị tội.(Trần Trọng Kim VNSL tr 159)Điều đó chứng tỏ tinh thần quân sĩ Tây Sơn đã xuống thê thảm đến mức độ nào. Trần Quang Diệu là một tướng tài cũng không điều khiển được triều đình,. Trong tình trang tê liệt của Triều đình Tây Sơn, Nguyễn Ánh không nhọc công lắm đểđánh bại Tây Sơn , bắt được  hầu hết cả triều đình.

                Nguyễn Nhạc, không quân sư tài giỏi, chỉ là một tên cướp núi, chiếm được thành Bình Định xưng là chúa Chiêm Thành, thỏa mãn với danh vua Tây Sơn Trung Ương, có lúc lại xung đột với cả Nguyễn Huệ, bị em đem quân vây thành, phải đứng trên thành mà khóc, Nguyễn Huệ mới lui binh. Quân sĩ Nguyễn Nhạc hèn kém không đủ sức đương đầu với quân chúa Nguyễn phải cầu viện triều Cảnh Thịnh, khi quân Cảnh Thịnh đuổi xong quân chúa Nguyễn lại chiếm Bình Định, Nguyễn Nhạc uất ức mà chết.

                Nguyễn Lữ, người em út trong ba anh em Tây Sơn  làm Tiết ChếĐông Định Vương, trông coi đất Nam Hàđa nghi nên hỏng việc, tướng Phạm Văn Tham đem bức thư phản gián đến phân giải, tưởng Tham đã đầu hàng Nguyễn Ánh đem quân đến đánh, bỏ Biên Hoà chạy về Bình Định và chết..

Nguyễn Ánh thế lực ngày càng mạnh  biết dùng người không câu nệ: dùng những tay anh chị hảo hớn nhóm Đông Sơn như Võ Thành Nhân, Võ Nhân, Võ Tánh, dùng những hàng tướng của Tây Sơn như Nguyễn Văn Trương, Lê Chất,  dùng những người Thiên Địa Hội Trung Quốc, quân người Thái, người Miên;;dùng cả những người Pháp theo BáĐa Lộc làm tướng, làm kỹ sư xây dựng kiểu thành Vauban, đúc súng, gã vợ Việt Nam cho họ và về sau phong quan tước đặt tên Việt Nam làm quan triều đình.

                Ngược với nhà Tây Sơn, người tài bỏđi, dưới trướng Nguyễn Ánh, chiêu hiền đãi sĩ,  người tài về ngày thêm đông, chúa Nguyễn sử dụng không chừa một ai, thì việc chiến thắng thống nhất đất nước chỉ là thời gian.

Vị minh chúa bấy giờ không ai khác hơn là chúa Nguyễn Ánh. Nguyễn Du  về lại Hồng Lĩnh tìm lại dấu tích nơi khởi nghĩa của Nguyễn Quýnh, Nguyễn Du hiểu rằng không thể lập lại việc như Nguyễn Quýnh. Việc hoài Lê, tái lập vua Lê, chúa Trịnh chỉ là một ảo mộng. Tại Hồng Lĩnh Nguyễn Du không tìm ra bạn mới chỉ có người bạn cũ Thực Đình tặng cho manh áo vải, lòng nhớ bạn xưa, nhưng ởđây tai vách mạch rừng, người sống trong sợ hải sau cuộc tàn sát của tướng Lê Văn Dụ, ăn nói phải giữ lời .

Thế kỷ qua, có những người viết sử vì yêu vua Quang Trung, nên sinh ra ác cảm với vua Gia Long, ác cảm cả với các chúa Nguyễn. Họ quên cái công lao mở nước của các chúa Nguyễn(1558-1775), từ chúa Nguyễn Hoàng đi trấn nhậm Thuận Hóa năm 1558 với vài ngàn quânđem theo cả vợ con từ Thanh Hóa. Thuận Hóa  nguyên là hai châu Ô Lý quà sính lễ cưới Huyền Trân Công Chúa.  Từ Phú Xuân, Quảng Trị217 năm đã mở nước đến tận Hà Tiên gấp đôi đất nước, biến nhiều vùng đất hoang vu thành trù phú, biến những người dân Chiêm Thành, Miên, người Minh Hương Trung Quốc lánh nạn nhà Thanh, các bộ tộc miền núi, dân giang hồ tứ chiến thành người Việt Nam. Dưới thời các chúa Nguyễn,các chúa mời và trọng đãi các nhà sư Trung Quốc như Thích Đại Sán, Liễu Quán, Nguyễn Thiều.. sang lập dòng thiền,đạo Phật hưng thịnh, làm thuần hóa phong tục đạo lý, biến miền đất mới thành nơi đất lành, giàu có và sung túc. Chiêm Thành vốn là nước Phật Giáo bị Hồi Giáo du nhập từ thế kỷ 13 , cưỡng bức vào đạo bằng gươm dao tàn sát các vị sư, hủy hoại các tượng Phật, đốt phá các thánh địa Phật Giáo Mỹ Sơn, Dông Dương... Người Phật Tửđã tìm thấy nơi các Chúa Nguyễn một vịân nhân che chỡ, các Chúa Sãi, Chúa Hiền là những vị  Chúa nhân từ, các chúa Nguyễn là chúa của chung hai dân tộc Việt Chiêm .. Đó là lý do các sử gia quên lãng, không cắt nghĩa được vì sao các Chúa Nguyễn mở mang về phương Nam rất nhẹ nhàng, không có chiến tranh diệt chủng, không có chuyện người Việt ồạt vào Nam chiếm cứ đất đai. Người dân nơi nào làm ăn dễ dàng giàu có thì tìm đến sống chung đụng với nhau không phân biệt chủng tộc.. Miền Trung Việt Nam không phải mới có Phật Giáo, mà Phật Giáo có từ lâu đời từ thời Chiêm Thành, nó là nền tảng để thống nhất hai dân tộc Việt Chiêm, chứ không phải là cuộc chiến tranh diệt chủng giữa hai chủng tộc.Đất nước Việt Nam từ Bắc chí Nam như ngày nay, không phải sẵn có như hiện tại rồi chia hai thành Trịnh Nguyễn phân tranh đánh nhau ? Mà cả một công cuộc tổ chức cai trị,  khai thác dinh điền, đào hàng chục ngàn cây số kinh đào, khẩn hoang rừng rậm, đầm lầy lập nên làng xóm, thành một nước thịnh trị,  giàu có, công trình của hơn hai trăm năm các chúa Nguyễn.  Các sách sử nói về cuộc Nam tiến của người Việt về phương Nam, nhưng suy nghĩ lại, vùng Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng  cai trị chỉ có khoảng vài trăm ngàn dân người Việt, tráng đinh, ba người lấy một chỉ bảy chục ngàn, lính tráng chỉ năm ngàn. Phía Bắc bị ngăn chận bởi sông Gianh,từ năm 1627 Trịnh Tráng đem quân đánh Chúa Nguyễn lần thứ nhất? Bảy lần đánh nhau bất phân thắng bại, đến năm, đến năm 1774  Trương Phúc Loan chuyên quyền tham lam, tàn ác lòng dân oán hận, chế độ mục nát vì tham nhũng. Tây Sơn dấy binh chiếm từ Quy Nhơn đến Bình Thuận năm 1777 Nguyễn Huệ bắt được Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương giết đi chấm dứt nhà Nguyễn.. Tướng Hoàng Ngũ Phúc nhà Trịnh nhân cơ hội đánh chiếm được Phú Xuân. Nhưng chỉ 10 năm saunăm 1786  nhà Tây Sơn đánh ra Bắc làm sụp đổ chế độ nhà Trịnh. Và năm 1802 chúa Nguyễn Ánh thống nhất đất nước từ Nam ra Bắc chấm dứt nhà Tây Sơn. Các triều đại Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh, Tây Sơn nối tiếp nhau sụp đổ là vì lý do nội tại: vì tham nhũng, vì kiêu binh, vì tranh chấp quyền lực khiến cho chính trị bị tê liệt, lòng dân không còn, các trận chiến chỉ là các cơn gió nhẹ, quân sĩ tan hàng bỏ trốn, vua, chúa, tướng bị bắt, ván cờ kết thúc.

Gần 200 năm, người vượt vào Nam nhưĐào Duy Từ vì gia đình làm nghề ca hát nên không được thi cử nên đi tìm minh chúa cũng không nhiều, lịch sử không thấy chép chuyện người Việt di tản bỏ Bắc Hà vào Nam Hà thời Trịnh Nguyễn  nhiều như năm 1954 hay sau năm 1975. Vậy thì dân ởđâu ra mà thành người Việt phía Nam cũng nhiều như phía Bắc ? Câu ca dao: Thương anh em cũng muốn vô, sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang. Truông nhà Hồ cóđám cướp tại Hồ Xá, phá Tam Giang sóng to gió lớn làm đắm thuyền, chặn đường Nam Bắc, nhưng chính sự Nhà Trịnh với những văn thần võ tướng tài giỏi,  Chúa Trịnh Giang vôđạo, triều đình đảo chính thay bằng chúa Trịnh Doanh, chính sự nhà Trịnh  không đến nổi phiền hà dân phải sợ hơn rắn độc, hay sợ hơn hải tặc. Người Việt di dân vào phương Nam thật sự chỉ có vào Triều Nguyễn (1802-1945), nhưng cũng chỉ chiêu dụ dân nghèo đi khai thác đất hoang, hoạt động bình thường qua các thời đại . Sự đồng hóa nước Việt Nam trải qua trong nhiều thế kỷ nó là sự dung hợp nhiều chủng tộc khác nhau có lâu đời trên bán đảo Đông Dương: Người Việt, Chàm, Miên, các sắc dân thiểu số, người Minh Hương Trung Quốc sang tỵ nạn nhà Thanh.. Tiếng  Việt qua các miền bịâm hưởng bởi thổâm địa phương và văn hóa Việt Nam đã pha trộn để thành hình một nền văn hóa mới:   cái váy phụ nữ miền Bắc bị thay thế bởi cái quần ca dao có câu: Lệnh vua mười tám tháng ba, cấm quần không đáy người ta hãi hùng.. chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam, áo dài khăn đóng  hiện đại ảnh hưởng từ chiếc áo dài của Chiêm Thành và nền văn minh Ấn Độ. Âm Nhạc cũng chịu nhiều ảnh hưởng Chiêm Thành. Vụ mùa lúa Chiêm là một kỷ thuật canh tác của Chiêm Thành..

Người Việt  mới đến hơn ba trăm năm chỉ là một thành phần, chủ yếu vẫn là dân địa phương, có mặt từ thời thượng cổ. các di chỉ khảo cổđào được có di vật từ thời đồđá, đồ sắt, thậm chí tại Óc Eo Kiên Giang có cả một nền văn minh Phù Nam từng giao lưu với La Mã, Ấn Độ, đi khắp các đảo Thái Bình Dương đến tận Mễ Tây Cơ..Dân bản địa vẫn có mặt tại đó và được du nhập thêm những nhân tố mới.  Đất miền Nam, miền Trung không  phải là đất hoang vu hoàn toàn không có người ở, mà là nơi từng có nền văn minh Phù Nam, Angkor,  Chiêm Thành rực rỡ. Việt Nam  tiến về phương Nam không bằng việc tiêu diệt tàn sát các dân tộc bản địa rồi xua dân đến ở lập thành nước của mình mà bằng văn hóa, bằng sự bao dung, nhân đạo của nền văn hóa Phật Giáo thời  Lý Trần, bằng sự tổ chức làng mạc, khai thác dinh điền, đào kênh .

Thời xưa, người Việt Nam dùng chữ Hán đọc âm Hán Việt làm ngôn ngữ hành chánh, các chiếu, biểu, văn tế, kinh Phật Giáo, Khổng Giáo  đều bằng tiếng này, cả các vở tuồng hát bội, nghệ thuật ngày xưa mọi người đều yêu thích, đều hiểu:  80 phần trăm đều dùng câu chữ Hán Việt. Ngày nay muốn đọc một vỡ tuồng hát bội như tuồng Sơn Hậu của Đào Duy Từ ta phải dịch trở lại mới hiểu được. Do nhu cầu làm sổđinh, thuế bạ phải viết tên họ mọi người: các họ tên Chiêm Thành có nguồn gốc từẤn Độđa âm đều trở thành độc âm: thành họ Nguyễn, Trần, Phạm, Phan, Bùi, Lê,Đinh, Võ, Huỳnh,  Trà, Chế.. Bà chúa cuối cùng Chiêm Thành tên Nguyễn thị Tranh, các ông vua đầu tiên Chiêm Thành năm 192 tên Khu Liên, Phạm Hùng, Phạm Dật, Phạm Phật..

Thời Lý, Trần dân tộc Đại Việt và Chiêm Thành ngang ngữa nhau khoảng 5 triệu. Cuối đời Trần, vua Trần Duệ Tông (1372-1377)đem quân đánh Chiêm Thành bịđại bại, hai trăm ngàn quân Đại Việt bị tiêu diệt, vua bị tử trận. Đoàn ThịĐiểm qua chuyện Hải Khẩu Linh Từ, trong Truyền Kỳ Tân Phả dám viết lên tấm gương bại trận vì vua không nghe lời điều trần của nàng Bích Châu, thật đáng kính phục, xứng danh là một nhà văn phụ nữ lớn nhất nước ta. Chế Bồng Nga (1360-1390) từng đem quân ba lần đánh phá Thăng Long, nếu không có tên đầy tớ họ Chế bịđánh đòn mà sang hàng chỉ cho tướng Trần Khắc Chân thuyền Chế Bồng Nga thì bán đảo Việt Nam sẽ thống nhất dưới tên Champa và toàn dân theo Hồi Giáo, theo trào lưu đương thời đã chinh phục được Indonésia, Mã Lai, Chiêm Thành và một phần Phi Luật Tân. Chiến tranh giữa Đại Việt và Chiêm Thành lúc bấy giờ là một cuộc chiến không khoan nhượng, nếu Đại Việt bịđại bại thì số phận có lẽ rất tàn bạo: tất cảđàn ông bị giết, vàđàn bà bị bán làm nô lê. Người sống sót phải cải đạo thành Hồi Giáo.

Người Việt Nam vùng đồng bằng sông Hồng tâm tình quyến luyến với làng mạc, với lũy tre làng,đi ra khỏi làng là sự bất đắc dĩ, chỉ khi nào đê vỡ, nạn đói trầm trọng lắm mới bỏ xứ màđi, họ chỉ sống quanh đồng bằng, ít ai lên miền núi để khai phá. Đóng con thuyền để vượt đại dương, hay đi phiêu lưu các nước lân cận càng không nghe nói đến. Nghề hàng hải và hải quân Việt Nam rất kém. Trận Bạch Đằng nước ta đóng cọc dòng sông rồi dùng thuyền nhẹ ra đánh. Đến đời các chúa Nguyễn mới học được của Chiêm Thành, đóng được chiếc ghe bầu với trử lượng lớn. Thời Tây Sơn ghe bầu chỡ cả voi, là một yếu tố quyết định trong các trận đánh. Đời Nguyễn mới có  ghe bầu từ trong Nam chỡ lúa gạo, nước mắm Phan Thiết, QuI Nhơn  ra Nghệ An, ra Hà Nội  bán.

Người đi nhiều nhất nước ta có lẽ là các ông đồ, thầy thuốc người Nghệ An, Hà Tĩnh.. làng mạc nào từ Bắc chí Nam cũng có các ông đồ xứ Nghệ, ăn nói trọ trẹ đến dạy học, làm thuốc, có lẽ các ông thầy xứ Nghệ là nhân tố quan trọngđã tạo nên sự phát triển văn hóa Việt, thống nhất đất nước.

Trừ những vùng mới khai thác, làng xóm tại miền Trung và miền Nam đã có sẵn từ các làng mạc Chiêm Thành, Phù Nam, Chân Lạp. Người Việt đến dùít đông hơn nhưng đã làm thay đổi tiếng nói và đồng hóa bằng tiếng Việt, ngược lại ngôn ngữ Việt cũng phong phú hơn với các thổâm gốc Chàm và Miên. Sự đồng hóa tiếng nói  không phải một sớm một chiều mà trải qua một thời gian rất dài hai trăm năm, ba trăm năm.

Đất Bình Thuận chúa Nguyễn đánh chiếm năm 1697 nước Chiêm Thành mất hẳn, năm 1905 cụ Huỳnh Thúc Kháng vào thăm đã viết:” Bình Thuận xứ này mới trải qua, Nửa Hời, nửa Mọi  nửa dân ta”. tức là hai trăm năm mới cóphân nửa dân nói tiếng Việt. Ngày nay người Chăm tại Bình Thuận  còn vài ngàn chục ngàn chủ yếu là người theo Hồi Giáo vàBà La Môn. Năm 2010 thăm Viện Bảo Tàng Dân Tộc Học  nhìn kiểu các ngôi nhà người Chăm, vách và cửa bằng các cây cột vuông chấn song từ trần đến thềm nhà, thời thơấu cách đây 50 năm tôi thấy các nhà tại Bình Thuận đều như thế này mà nay không còn ngôi nhà nào như thế. Kết luận: người Chăm đã bị đồng hóa thành người Việt. Ngày nay chúng ta nên nhìn việc hình thành nước Việt Nam là một sự thống nhất giữa hai vương Quốc Đại Việt và Chiêm Thành, vì phân nửa dân tộc từ Quảng Trị vào Nam có dòng máu tổ tiên người Chiêm Thành và lịch sử Chiêm Thành là một phần của lịch sử Việt Nam. Tương lai trong cuộc hội nhập vào Đông Nam Á, chúng ta còn nhìn ra những bà con người Môn ở Miến Điện có thể từ cuối đời Hùng Vương đã ra đi lập một vương quốc hùng mạnh từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ 10 tại Miến Điện,chúng ta nhìn ra những ngôi nhà sàn trên trống đồng Ngọc Lũ, những người mang lông chim tại các dân tộc tại Mã Lai, Indonésia.., chuyện trăm trứng trăm con, Tấm Cám có quan hệ đến những chuyện cổ tích Ấn Độ, chuyện Phù Đổng Thiên Vương đi từ kinh điển Phật Giáo, buổi nhà sư Khuông Việt cùng LêĐại Hành đánh Tống.. Con cháu chúng ta sẽ học lịch sửĐông Nam Á thay vì lịch sử Việt Nam.

Công lao đáng kể bị các sử gia quên lãng là công lao các nàng công chúa xinh đẹp Việt Nam, từ Huyền Trân công chúa đến Ngọc Vạn công chúa bị mang tiếng đời: Tiếc thay cây quế giữa rừng, để cho thằng mán, thằng mường nó leo. Cưới gã, kết hôn lẫn nhau giữa các vương quốc là một phương tiện đểđi đến thống nhất hòa bình không cần đến chiến tranh là chuyện bình thường trên thế giới. Nước Pháp xưa chỉ có Ile de France chung quanh vùng Paris, nhờ sự kết hôn với Anne de Bretagne mà có thêm vùng Bretagne..

Nhiều sử gia đã gán cho vua Gia Long cái tội: Cõng rắn cắn gà nhà. Gán cho triều Nguyễn cái tội vì cấm đạo Thiên Chúa, mà người Pháp đem quân chiếm nước ta.  Thậm chí gán cho tội làm mất nước cuối đời Tự Đức, Thành Thái năm 1762, 1885, sau khi  vua Gia Long chết hơn 40 năm, 60 năm.

Việc gửi Hoàng Tử Cảnh năm 1783, bốn tuổi sang Pháp cùng Giám Mục BáĐa Lộc. Đến Pháp năm 1787, triều đình Pháp, thời vua Louis XVI trong cơn hấp hối, sắp bị Cách Mạng Pháp 1789 lật đổ, nên tiếp đón miễn cưỡng gần từ chối việc giúp đỡ vua Gia Long, giao việc cho De Conway tổng trấn nhượng địa Pondichéry tại Ấn Độ,ông này lại từ chối. BáĐa Lộc phải mời cá nhân vài người Phápđánh thuêtừẤn Độ sang giúp, gần 20 người  là:  Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng) chúa tàu Long, Vannier (Nguyễn Văn Chấn) chúa tàu Phụng, De Forçant (Lê Văn Lăng) Victor Olivier (Ông Tín), Dayot.. người những người đó giúp cho việc luyện tập binh sĩ, làm tàu đúc súng, chỉnh đốn mọi việc vũ bị.. họ về đến Việt Nam tháng 6 năm 1789đã được vua Gia Long trọng thưởng và cho làm quan, phong tước cất cho dinh thự, vợ thê thiếp người Việt, kẻ hầu hạ.. (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược sđd  tr 152.)

Giám Mục BáĐa Lộc khi mất cũng được xây Lăng Cha Cảở Tân Sơn Nhất Sài Gòn tử tế, vua  Gia Longân oán sòng phẳng, Triều Nguyễn không có nợ gì với nước Pháp. Sau  Cách Mạng Pháp 1789, đạo Thiên Chúa tại Pháp bịđàn áp tàn bạo, nhà thờ bị biến thành vựa chứa thóc, tượng Chúa, tượng thánh bị chặt đầu, tu viện bị tịch thu làm trường học, nhà thương, tại Paris và một số nơi khác  hàng trăm linh mục bị bắn tại Viện Công Giáo Paris đem chôn vào hố tập thể.. Nếu  Giám Mục BáĐa Lộc ởPháp chắc chắn không có được ngôi lăng mộ và nghi lễ an táng trang trọng như thế.

Việc cấm đạo thời Nguyễn là do các Giám Mục Pháp can thiệp quá sâu vào nội bộ Việt Nam. Việc vua Gia Long chọn lựa  thái tửĐảm tức Minh Mạng sinh năm 1791 làm vua năm 1820 lúc đóđã 30 tuổi, đã trưởng thành, mà không chọn lựa cháu nội là con Hoàng Tử Cảnh đã mất. Biết con không ai bằng cha, chọn lựa Minh Mạng là một chọn lựa đúng đắn của triều đình và vua Gia Long, không để nước Việt Nam cai trị bởi một vị vua còn nhỏ và quyền lực về tay các giám mục Pháp. Thất bại trong kế hoạch biến Việt Nam thành Thiên Chúa Giáo qua con Hoàng Tử Cảnh,  các nhà truyền giáo xoay qua làm quân sư cho  vụ khởi loạn Lê Văn Khôi ở thành Gia Định lập một triều đình riêng, và dàn dựng Tạ Quang Phụng một người gác cổng nhà truyền giáo thành con cháu nhà Lê để khởi nghĩa. Việc thành bại trong chính trị nào cũng trả giá bằng xương máu, lôi kéo cả những giáo dân vô tội.Nếu vua Gia Long cấm đạo, thì hẳn không cho BáĐa Lộc làm Chánh Sứ của mình hoàn toàn tự do trong các việc thương thuyết, và con cả Hoàng Tử Cảnh theo đạo Thiên Chúa, vua Gia Long cũng không cấm cản.  Ngày nay tên Nguyễn Hoàng,  Gia Long, Minh Mạng bị xóa các tên đường, chúng ta không công nhận những giai đoạn lịch sửđó của nước ta hay sao ?.Điều này nên xét lại.

Vua Gia Long, Minh Mạng là những vị vua anh minh, trong thời đại này đất nước ta rộng lớn. Cả Cam Bốt cũng thành Trấn Tây Thành. Thời đại này quân sự và chính trị nước ta rất vững vàng và hùng mạnh. Nguyễn Du có lý khi chọn Nguyễn Ánh làm minh chúa để phụng sự mà không chọn Thái Sư Bùi Đắc Tuyên hay tướng Vũ Văn Dũng, sau khi vua Tây Sơn Nguyễn Huệ mất. Đất nước Việt Nam đâu phải là của riêng của nhà Tây Sơn ?

Nguyễn Du sau khi làm Hồng Sơn Liệp Hộ làm thợ săn đi tìm lại các nơi khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, Nguyễn Du thấy không thể nào lập lại việc này, và chẳng có ai theo. Nguyễn Du xoay ra làm Nam Hải Điếu Đồ, người câu cá biển Nam Hải đi câu đảo Song Ngư cửa biển Nghệ An, tìm manh mối theo các thương thuyền. Thuởấy có những ghe bầu lớn trọng lượng đến năm, mười tấn, có nguồn gốc từ Chiêm Thành đi từ Phan Thiết, Nha Trang chỡ nước mắm,  gạo ra Nghệ An, ra  Bắc bán và trở về.

 Có lẽ Nguyễn Du muốn đến Nha Trang tìm  chúa Nguyễn Ánh năm 1796 vừa chiếm được thành Diên Khánh. Nhưng Nguyễn Du chưa kịp đi thì bị Trấn Thủ Nguyễn Văn Thận bắt được và giam mười tuần. Tuần ngày xưa là 10 ngày, một tháng có ba tuần, tức ba tháng 10 ngày.  Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền chép: “Buổi ấy Nguyễn Du thường tỏý chí mình trong những câu thơ: Hán mạt nhất thời vô nghĩa sĩ,  Chu sơ tam kỷ hữu ngoan dân (Buổi nhà Hán sắp mất không có người nghĩa sĩ. Lúc nhà Chu mới dấy, dân vẫn còn ngoan cố không chịu theo Chu). Hán là triều đình nào, Chu là ai ? Trong thời điểm năm 1796, vua Lê, chúa Trịnh đã mất từ 10 năm.  Hán sắp mất phải chăng Nguyễn Du muốn nói đến nhà Tây Sơn trong tay Thái Sư Bùi Đắc Tuyên, Vũ Văn Dũng  các nghĩa sĩ đang bỏ đi, và nhà Chu đang dấy lên là Nguyễn Ánh đang chiến thắng từ trận này sang trận khác, và lòng dân đang khát khao: Lạy trời cho có gió Nồm, cho thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra..

Bài My Trung Mạn Hứng, Nguyễn Du viết: Chung Tử ôm đàn gảy theo điệu Nam. Trang Tích ốm nằm rên bằng tiếng Việt. Bốn bể gió bụi nghĩ tình nhà việc nước mà rơi lệ, mười tuần trong lao tù coi thường sống chết. Mối hận Bình Chương nhà Tống mất nước rơi vào tay Mông Cổ bao giờ hết. Khó tìm được phong cách cao thượng của Bá Di, Thúc Tề con vua Cô Trúc không ăn thóc nhà Chu. Ta có một chút tâm sự không biết tỏ cùng ai. Lòng như sông Quế Giang sâu thẳm dưới núi Hồng ?

CẢM HỨNG TRONG TÙ

Ôm đàn Chung Tử gảy bài Nam,

Trang Tích nằm đau tiếng Việt rên.

Bốn bể phongtrần nhà nước khóc,

Mười tuần lao ngục tử sinh cam.

Bình Chương di hận bao giờ hết,

Cô Trúc cao phong khó kẻ tìm.

Tâm sự chút lòng ai biết tỏ,

Như sông Quế sâu dưới non Hồng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

MY TRUNG MẠN HỨNG

Chung Tử viên cầm tháo nam âm,

Trang Tích bệnh trung do Việt ngâm.

Tứ hải phong trần gia quốc lệ,

Thập tuần lao ngục tử sinh tâm.

Bình Chương di hận hà thời liễu ?

Cô Trúc cao phong khả bất tầm,

Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ,

Hồng Sơn giang hạ, Quế Giang thâm.

.............................

Chú Thích:

Chung Tử: tức Chung Nghi, người nước Sở, bị nước Tấn bắt, người ta đưa đàn cho ông gảy, nhưng ông chỉđàn bài hát phương Nam (nước Sở) Người Tấn khen ông không vong bản.

Trang Tích: người nước Việt làm quan nước Sở. Khi ông ốm Sở Vương hỏi mọi người: “Tích là kẻ tầm thường ở nước Việt, nay làm quan nước Sở, được phú quý rồi, thì còn nhớ nước Việt nữa không ? “ Viên thị thưđáp: “Phàm người ta có nhớ nước cũ hay không thường tỏ ra lúc ốm đau. Nếu lúc này ông ta nói tiếng Việt tức là còn nhớ nước Việt, bằng không thì nói tiếng Sở. Sở Vương sai người nghe lén thì thấy Trang Tích rên bằng tiếng Việt.

Bình Chương: Núi Bình Chương. Tống sử chép: Trương Thế Kiệt tướng giỏi đời Tống, đồng thời với Văn Thiên Trường, Lục Tú Phu phò Đế Bính chống quân Nguyên Mông Cổ, mong khôi phục nhà Tống. Sau thua lên thuyền chạy đến núi Bình Chương, gặp bão thuyền đắm, Thế Kiệt chết, nhà Tống mất.

Cô Trúc: Một nước lập từ đời nhàÂn (nay tỉnh Trực Lê). Khi Ân bị Chu lấy, Bá Di, Thúc Tề con vua Cô Trúc, không phục nhà Chu  lên ẩn núi Thú Dươngf rồi nhịn đói mà chết, chứ không thèm ăn thóc nhà Chu.

Trong anh em Nguyễn Du có 4 người cuối cùng không ra làm quan, nhưng không hẳn có tâm sự hoài Lê, Nguyễn Nhưng , Nguyễn Nghi , Nguyễn Tốn và Nguyễn Lang..

Nguyễn Nhưng (1758-1824) cha Nguyễn Y người viết gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, con cụ Nguyễn Nghiễm và bà Hồ Thị Ngạn, người xã Xuân Yên, Nghi Xuân. Còn có tên là Toàn, tự Vân Nham, hiệu Tốn Trai, tập ấm Hoàng tín đại phu, tước Trung Nhạc Bá. Đậu Tứ Trường thi Hương đời Lê Trịnh năm 1783 cùng khoa với Nguyễn Du. Ông trung với nhà Lê nhưng năm 1801 cuối đời Tây Sơn ông ra nhận chức Trấn Thủ Sơn Tây thay thế Nguyễn Công Tấn, thân phụ Nguyễn Công Trứ, nhưng nhà Tây Sơn mất năm 1802 ông trở về quê nhà dạy học và làm thuốc từ đó ông không ra làm quan với nhà Nguyễn.

Nguyễn Nghi (1773-1845) con bà Nguyễn thị Xuân, ở Bắc Ninh, ông thọ 72 tuổi người sống lâu nhất trong 12 anh em.  Ông viết truyện thơ Quân Trung Đối đặt ra chuyện nàng Đậu Tuyến Nương tức Dũng An Công Chúa chỉ lấy một chồng, trung trinh với La Thành kết thề nơi trận tiền.Suốt đời ông làm nghề thầy thuốc tại Xã An Lạc, Châu Kiều, Bắc Ninh nhưng con ông là Nguyễn Toản đỗ Tiến Sĩ làm quan đến chức Viên ngoại Lang  đời Minh Mạng.

Nguyễn Tốn (1767-1789) con bà Hoàng Thị Thược người xã Đoàn Hải, Xuân Hải, huyện Nghi Xuân tập ấm Hoàng tín đại phu, tước Vĩnh Nhạc Bá, ông chết trẻ năm 22 tuổi.

Nguyễn Lang (1768-1824), con bà Phan thị Diễn người xã Hải Lê, huyện Nam Chân tỉnh Sơn Nam, tập ấm Hoàng tín đại phu tước Văn Chính Công. Ông thi Hương trường thi Sơn Nam ở Nam Định đậu Tú Tài, ông mất năm 56 tuổi, sau Nguyễn Du bốn năm.

Chúng ta có thểđi đến kết luận. Nguyễn Du không có tâm sự hoài Lê gì cả, anh em Nguyễn Du có Nguyễn Quýnh thực sự là người hoài Lê muốn khôi phục nhà Lê và bị thất bại. Nguyễn Du hoàn toàn theo chúa Nguyễn Ánh. Vì Nguyễn Ánh là người sáng suốt nhất có khả năng lãnh đạo đất nước thành công trong thời điểm, vua Quang Trung chết bất ngờ năm 1792. Vận nước không thể nằm  trong tay một cậu bé Cảnh Thịnh  lên mười.  Năm 1795 Nguyễn Du  toan trốn theo Nguyễn Ánh, năm 1802 dâng lương thực , bò ngựa tiếp tế cho vua Gia Long tại Phù Dung được trọng dụng ngay. Ra làm quan được vua Gia Long  xem trọng thăng tiến rất nhanh, chỉ là người đỗ Tam Trường (Tú Tài) mà vua Gia Long thấy tài phong làm tri huyện Thường Tín đặc trách tiếp sứ nhà Thanh sang phong vương, rồi thăng Đông Các học sĩ, chức vụ kế cận vua, năm 1809 thăng làm quan Cai Bạ Quảng Bình, chức vụ trấn thủ một trong bốn doanh đất kinh kỳ, năm 1813 được phong làm Chánh Sứđi sứ sang nhà Thanh, Nguyễn Du là người hiếm có không phải là bậc Tiến Sĩ trong chức vụđi sứ.. Khi thấy Nguyễn Du cứầm ừ không tâu gì vua Gia Long trách móc, muốn cóý kiến của Nguyễn Du. Giữa Nguyễn Du và vua Gia Long có sự tương đắc, giữa một vị vua sáng suốt và người hiền tài. Nguyễn Du hoàn toàn có lý trong quyết định phò Nguyễn Ánh làm minh chúa. Tôi cho rằng hiểu như thế là hiểu được tấm lòng Nguyễn Du sâu như nước sông Quế Giang./.

Paris 12-9-2013