Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Phạm Vĩnh Cư tìm kiếm nơi cư trú vĩnh hằng

Đầu 1981, trước khi giải lính về làm Ngoại văn, cô Hoàng Oanh, con dâu cả cụ Đào Duy Anh, cô giáo tiếng Nga của tôi thời đại học, bảo: Thúy về đấy có vướng mắc gì về tiếng Nga, cứ hỏi anh Phạm Vĩnh Cư. Anh ấy học Liên Xô từ phổ thông, qua đại học, rồi phó tiến sĩ, nên tiếng Nga cực giỏi. Đến giữa năm ấy, khi đã vượt qua được một rừng thủ tục để về nhà xuất bản, thì anh Cư đã rời cơ quan đi rồi. Nhưng dấu vết của anh để lại ở mọi người thì còn khá đậm. Người ra rỉ tai tôi rằng anh Cư giỏi nên được bác Viện ưu ái cho lên một lần mấy bậc lương. Hoặc kháo nhau chuyện, do sống lâu năm ở Nga, nên nhiều khi anh rất ngỡ ngàng về cách cư xư và cũng rất lớ ngớ tiếng Việt. Rằng, thời nào thì cũng có những ông Tây An Nam...

Riêng tôi, tôi thấy anh hiện diện ở chỗ khác. Trong thư viện - tư liệu của nhà xuất bản có rất nhiều sách tiếng Nga, tất thẩy đều có chữ của anh chọn/ đặt mua ở cửa hàng ngoại văn Tràng Tiền. Nhưng điều đáng nói là những sách ấy với những vấn đề nghiên cứu rất lạ mà tác giả thì lại càng lạ hơn: M.Bakhtin, N.Berdiaev, D.Likhachev, S.Averintsev, F.Losev... Những cái tên suốt mấy năm học tiếng Nga về văn học Nga tôi chưa từng được nghe thầy cô nào nhắc đến! Tôi hỏi Diệp - thư - viện xem anh Cư chuyển đi đâu, thì anh lắc đầu, hình như một nhà xuất bản hay trường nào đó. Rồi, mải bận việc mình, tôi để mất hút anh từ đó.

Dăm năm sau, khi đã có một vài thử bút, tôi gặp lại anh Cư trong một bài viết của anh về tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, đặc biệt bài viết gây xi - căng - đan lớn về văn học Nga - Xô viết. Tôi choáng vì những thần tượng văn học thời sinh viên của tôi như Maiakovski, A.Tolstoi (với tiểu thuyết Con đường đau khổ), L.Leonov (với tiểu thuyết Rừng Nga), M.Solokhov - của - Đất vỡ hoang... bị anh coi không phải là những tác giả văn chương đích thực. Anh chỉ thừa nhận rất ít người như Platonov, Bulgakov, Pasternak, Essénin, Solokhov - của - Sông Đông êm đềm... Nhưng, có lẽ, những người cùng được nuôi ăn nuôi học ở Liên Xô như anh còn choáng hơn. Một hôm, ở tòa soạn báo Văn Nghệ, tôi chứng kiến, anh Vĩnh "tồ", một dịch giả văn học Nga - Xô viết nói trước mặt Niculin và dăm người khác rằng Phạm Vĩnh Cư là thằng ăn cháo đá bát. Đây, có lẽ, là tâm thế chung của số đông bấy giờ, kể cả những người chưa từng thấy mặt một đồng cô - pếch.

Tôi không đánh giá sự kiện trên ở cạnh khía đạo đức. Bởi lẽ, chân lý, kể cả hoặc nhất là, chân lý nghệ thuật, có giá trị tự thân của nó, nên cao hơn hoặc khác những mục tiêu chính trị hay đạo đức. Điều làm tôi ngạc nhiên là tại sao anh, con một cán bộ cốp, được nuôi nấng, dạy dỗ ở thiên đường xã hội chủ nghĩa từ nhỏ, lại có thể đi đến nhận thức ấy, vượt thoát được cái ách của chính trị chính thống và thứ đạo đức theo lẽ phải thông thường? Tôi bao giờ cũng đánh giá cao những thay đổi do sự nhận thức tự giác, dù nó ngược lại với quyền lợi trước mắt của mình, chứ không phải ăn theo, bám càng, hoặc chạy theo số đông.

Phạm Vĩnh Cư, không nói đến năng lực trời cho, có cái may là thời đại học anh đã gặp được Thầy, chứ không chỉ thầy giáo, như Radtsig, chuyên gia văn học Hy Lạp, Bondi, chuyên gia Pushkin, và đặc biệt đích thân được gặp Bakhtin ở nơi lưu đày Saransk, một thị xã hẻo lánh, thủ phủ của người Mordva, một trong hàng trăm tộc người thiểu số ở Liên Xô. Hạnh ngộ với Bakhtin, hẳn, đã đóng đinh anh Cư vào việc nghiên cứu văn học, văn hóa Nga và, quan trọng hơn, cấp cho anh một cái nhìn khác, phi chính thống để phân biệt được đâu là nghệ thuật đích thực và đâu là các món hàng dỏm cao cấp với đủ các nhãn hiệu trình tòa hay các tem/ dấu đảm bảo chất lượng.

Có lần, khi đã quen thân, tôi hỏi cái gì là "cú hích thượng đế" khiến anh thay đổi. Anh trả lời là không phải Bakhtin, mà Solzhenitsyn. Tôi nhớ vào năm 1978, tôi cũng đã từng đọc Tầng đầu địa ngục Quần đảo ngục tù của nhà văn này. Cả người tôi như pho tượng đất sét cứ vỡ ra từng mảng và sau đó nhiều ngày tôi sống trong trạng thái "mất hồn". Đó là tôi, một thằng đã trải qua Cải cách Ruộng đất thời thơ ấu, rồi chiến trường chống Mỹ thời thanh niên mà còn bị chấn động như vậy huống chi anh, kẻ mất thiên đường. Nhưng rồi nghĩ lại thì chính anh, người luôn đi trên đất bằng, mới là người cảm thấy sâu sắc hơn khi đất sụt dưới chân mình. Có điều không phải ai cũng có cảm giác ấy. Thiếu gì người bình chân như vại, hay, đúng hơn, như vại không chân.

Phát hiện ấy hẳn làm Phạm Vĩnh Cư thấy chán ghét cái công việc "dịch ngược" ở nhà Ngoại văn, nơi anh đã được nhiều ưu ái, để chuyển sang Trường Viết văn Nguyễn Du và dịch Bakhtin. Rồi lần theo đường dây Bakhtin → Dostoievskif → Soloviev → Tiutchev... để tìm đến với dòng sông ngầm của tư tưởng triết học Nga, sâu sắc và độc đáo. Nhưng, có lẽ, quan trọng hơn, làm cho công việc (giới thiệu, dịch thuật) tưởng như đơn thuần, rũ bụi sách vở này có một ý nghĩa thời sự, đúng hơn ý nghĩa thời đại. Hóa ra, các sự kiện văn hóa xã hội đương đại Nga - Xô viết, tích cực hoặc tiêu cực, đều bắt nguồn từ những trào lưu tư tưởng, triết học đã có từ những thời trước đó. Nhờ thế, cái nhìn thời cuộc của ta thoát khỏi cái nhìn chính trị, hoặc tình cảm yêu ghét cá nhân, thành cái nhìn văn hóa. Mà cái nhìn văn hóa thì không chỉ chiếu sáng những khoảng tối ở thời nào, một đất nước nào.

Bởi thế, đọc Phạm - Vĩnh - Cư - đọc - Bakhtin, tôi bất ngờ với nhận định rằng nghiên cứu Rabelaire, Bakhtin muốn chỉ ra vai trò của cộng đồng, đặc biệt là tiếng cười vui sống của cộng đồng là thứ mà nước Pháp hiện đại đã đánh mất; còn nghiên cứu Dostoievsky, ông muốn chỉ ra vai trò của cá nhân là thứ mà nước Nga bấy giờ và hiện thời chưa có. Đây là hai chiều kích cơ bản trong con người cũng như trong một nền văn hóa dân tộc. Thiếu một trong hai chiều kích ấy thì còn người trở nên tàn tật, không thể hạnh phúc được. Chọn nghiên cứu Rabelaire và Dostoievs, Bakhtin muốn gửi thông điệp này tới không chỉ đồng bào của hai nhà văn. Và, đấy cũng là lý do khiến nhiều khi Phạm Vĩnh Cư thấy khó chịu với những ai nghiên cứu Đốt, hoặc Bakhtin, mới chỉ dừng ở cấp độ thi pháp, quẩn quanh trong văn bản mà chưa tới được triết học bản thể của Bakhtin.

Mặc dù lần đầu tiên xuất hiện với tư cách dịch giả, nhưng sự ham thích triết học, tính thích đi đến tận cùng trong mọi việc, khiến càng ngày các hoạt động chữ của Phạm Vĩnh Cư càng nghiêng về phía học giả. Từ việc chọn dịch các tác phẩm của Bakhtin (Thi pháp tiểu thuyết, 1998), Soloviev (Siêu lý tình yêu, 2005), thơ Pasternak, thơ Tsvetaieva (Tâm, 1912), Tolstoi (chủ biên và dịch - Đường sống)..., đến những bài viết giới thiệu, nghiên cứu về Dostoievski, Gogol, Vũ Như Tô... đều mang những điểm mạnh và điểm yếu của một tri thức bách khoa: biết nhiều, hiểu lắm, cầu toàn, thích nói cho có đầu có cuối, hết nhẽ (Sáng tạo và giao lưu, 2004). Bởi vậy, đôi khi tôi cứ thầm nghĩ, với những điểm mạnh tuyệt đối như trên, nên dùng Phạm Vĩnh Cư cho vai trò chủ biên những công trình dịch thuật, biên soạn, những tủ sách dài hơi, có chiều sâu, có tư tưởng. Loại người quý hiếm này ở Việt Nam, hay chí ít ở Việt Nam hiện nay, còn chưa hoặc có ít. Mà người đọc, hoặc giới đọc tinh hoa (nếu như hiện nay nó đã có trở lại), đang mong mỏi.

Năm 2005, cầm trên tay cuốn Siêu lý tình yêu ­- Những tác phẩm triết - mỹ chọn lọc của Soloviev do Phạm Vĩnh Cư (tuyển chọn, dịch, giới thiệu và chú giải, gần 1000 trang khổ lớn, chữ nhỏ) tặng, ngay lập tức tôi nghĩ rằng giá công sức này tác giả dùng để dịch hết Bakhtin thì sẽ tốt biết bao. Nhưng đọc vào, tôi mới biết anh có cái nhìn xa hơn, không nhằm đáp ứng nhu cầu "văn học vị văn học", thường dừng lại ở cấp độ nội văn bản, mà muốn vươn tới những giá trị triết mỹ có khả năng khai minh. Soloviev, một mặt đi ngược lại truyền thống triết học châu Âu, xây dựng một nền triết học Nga, mặt khác chống lại những tư tưởng thân Slave dân tộc chủ nghĩa. Ông cho rằng nước Nga (và cả nước kém phát triển khác cũng vậy) phải đi theo con đường phát triển của phương Tây như là một thành tựu chung của nhân loại. Nhưng, đóng góp đặc sắc hơn cả của Soloviev, hạt nhân triết học của ông, là thuyết Thần - nhân loại, trong đó cá nhân được tôn trọng như một giá trị thiêng liêng, sống một lần nhưng trở thành vĩnh cửu. Một xã hội vì cá nhân như vậy mới là một xã hội có cấu trúc mở, mới có dân chủ cá nhân, chứ không chỉ dân chủ đám đông, mới đảm bảo hạnh phúc cho mỗi người. Dường như Phạm Vĩnh Cư tìm thấy ở giá trị cá nhân - thần nhân ấy nơi cư trú vĩnh hằng cho tâm hồn nhiều trăn trở của mình./.