Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Phan Khôi (1)

CUỘC ĐỜI PHAN KHÔI (1887 - 1959)

Phan Khôi sinh tại làng Bảo An xã Điện Quang huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam; cha (Phan Trân, 1861-1934) và ông nội (Phan Văn Tự, tức Khắc Nhu) đều đỗ đạt và làm quan; mẹ (Hoàng Thị Lệ, 1867-1893) là con gái cố tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu.

Phan Khôi được học chữ Hán từ lúc 6 tuổi; ban đầu học tại nhà do cha dạy; về sau được gửi đến học trường của thầy Trần Quý Cáp. Trong sự trù định thông thường của cha ông, Phan Khôi sẽ phải theo con đường thi cử để đỗ đạt rồi đi làm quan.

Người ta biết, cuối năm 1906, Phan Khôi ra Huế dự khoa thi Thành Thái Bính Ngọ, chỉ đỗ Tú tài (theo lệ, phải đỗ Cử nhân mới có thể được nhà nước bổ dụng). Cuối năm ấy, khi Phan Châu Trinh từ Nhật Bản về nước, đến thăm nhàPhó bảng Phan Trân (cựu tri huyện Diên Khánh, Khánh Hòa), thì mấy ngày sau, người con trai Phan Trân là Phan Khôi và một số nho sĩ trẻ như Mai Dị, Nguyễn Bá Trác, Lê Dư, đã đi cùng Phan Tây Hồ tới một số cơ sở của “đảng” duy tân trong vùng. Trong chuyến đi này, mấy nhà nho trẻ, được cụ Tây Hồ kích thích, đã cắt tóc ngắn và trở thành thành viên chính thức của “minh xã” duy tân.(1)Phan Khôi sau đấy còn làm ra bài “Vè cúp tóc”, sẽ được coi là “có địa vị lớn trong văn học sử và duy tân sử Việt Nam”. (2)

Công việc thông thường của Phan Khôi trong phong trào, như sau này ông có dịp nhắc đến, là “kiếm tiền, kiếm học sinh gởi ra ngoại quốc”,(3) tức là tham gia công việc vận động Đông du; đây là phạm vi hoạt động thuộc “minh xã”, gắn với Phan Châu Trinh, chứ không nằm trong các hoạt động của “ám xã” vốn gắn với Phan Bội Châu.  Cũng thời gian này, tức là từ 1907, Phan Khôi theo học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ với ông Phan Thành Tài, là người bà con trong họ.

Đầu năm 1908, Phan Khôi ở trong số những thành viên trẻ tuổi được phong trào duy tân Quảng Nam cử ra Hà Nội. Lúc này trường Đông Kinh nghĩa thục vừa bị giải thể, nên một số thành viên đi Nam Định, ở lại nhà riêng cụ Nguyễn Bá Học, được cụ dạy tiếng Pháp. Khoảng tháng 4.1908, nhóm thanh niên này trở lên Hà Nội thì được tin Phan Châu Trinh đã bị bắt giải về Huế; liền đó, chính họ cũng bị bắt giải về Quảng Nam vì bị cáo giác liên can trong vụ “xin xâu” hoặc “dân biến” ở Quảng Nam đầu năm 1908.  Áp dụng luật Gia Long, Phan Khôi bị kết vào nhóm tội “mưu bạn vị hành” (có mưu phản mà chưa làm được); trong hai hạng “vi thủ” (chủ mưu) và “vi tùng” (can dự), ông bị áp vào “vi tùng”; ngoài ra, Phan Khôi và Mai Dị còn bị kết thêm hai tội danh phụ là “Xướng dân quyền tự do chi thuyết, hữu khinh thê tử chi ý” (đề xướng thuyết tự do dân quyền, xem thường trách nhiệm với vợ con) và “Âu trang nhập văn chỉ” (mặc Âu phục vào nơi thờ tự Khổng Tử)! (4)

Phan Khôi chịu hình phạt tù giam 3 năm tại nhà lao Quảng Nam. Đầu năm 1911, hết thời hạn tù giam, ông được thả về nhà, nhưng vẫn bị quản thúc vô thời hạn. Ông thực hiện nghĩa vụ với gia đình là lấy vợ sinh con, đồng thời vẫn tham gia hoạt động của “đảng” duy tân, lúc này không còn “minh xã” mà chỉ còn “ám xã”, hoạt động bí mật, công việc vẫn chủ yếu là quyên tiền và tìm học sinh đưa đi du học. Phần vì bị người cha can ngăn, phần vì tự thấy năng lực mình ít tương thích với hoạt động chính trị, Phan Khôi đã dần dần đi đến quyết định: xin ra khỏi tổ chức hội, chuyển hướng đời mình sang hoạt động học thuật, văn hóa. Tại một cuộc họp, trước mặt một vị thủ lĩnh vùng Quảng Nam-Quảng Ngãi, Phan Khôi đã bày tỏ ý nguyện của mình. “Được đồng ý, tôi về ở nhà vừa dạy học trò vừa tự học”.(5)

Vậy là sau gần 10 năm tham gia phong trào duy tân, Phan Khôi đã tự chấm dứt đoạn đời hoạt động như một chí sĩ. Trước mắt ông, con đường cử nghiệp (đi thi, đỗ đạt, làm quan) cũng đã đóng lại. Ông mày mò tìm thầy học tiếng Pháp, tập viết văn quốc ngữ,“dự định tương lai viết sách làm báo, phục vụtổ quốc về mặt văn hóa”.(6)

Mở đầu là cộng tác với tạp chí Nam phong.Năm 1917 Phan Khôi có bài đầu tiên đăng Nam phong chữ Hán; sang năm 1918 có bài đăng Nam phong chữ quốc ngữ, rồi từ quê ra Hà Nội tham gia bộ biên tập Nam phong, nhưng lại bất đồng với cả hai người chủ trì tạp chí này (Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác) nên bỏ việc sau 8 tháng. Kế đó vào Sài Gòn viết cho tờ Quốc dân diễn đàn, sau sang tờ Lục tỉnh tân văn; nhưng vì một bài báo “kịch liệt quá” (7) lại bị cho thôi việc, về nhà!

Năm 1920, nhân giúp lo việc hiếu nhà ông chú, Phan Khôi từ Quảng Nam ra Hải Phòng, rồi ở lại đây, xin vào hãng tàu biển, làm thư ký cho Bạch Thái Bưởi; 8 tháng sau, cuối năm 1920, ông xin thôi việc, từ Hải Phòng lên Hà Nội. Tại đây, từ đầu năm1921 đến hết năm 1925, Phan Khôi viết cho các tờ Thực nghiệp dân báo, Hữu thanh, nhưng thời gian chính dành cộng tác với hội Tin Lành Hà Nội, dịch Kinh Thánh (Bible) của đạo Thiên Chúa ra tiếng Việt, dưới sự chủ trì của nữ mục sư Grace Hazenberg (1876-1946) và chồng bà là mục sư William Charles Cadman (1883-1948). (Đây là những thành viên của Hội truyền giáo Phúc âm liên hiệp /Christian and Missionary Aliance; viết tắt C&MA/, từ Mỹvào Việt Nam và đã rất thành công tại đây, trong khi các nhóm truyền giáo Tin Lành từ Pháp vào Việt Nam bị Công giáo cạnh tranh, không tìm được công chúng, không còn dấu tích gì).

Việc Phan Khôi có 5 năm liên tục cùng làm việc trong một nhóm dịch giả thuộc những văn hóa khác nhau,là sự kiện chứa đựng những hệ quả tiếp nhận tri thức to lớn đối với chính ông; có thể xem đây như là khóa học lớn nhất ông được trải nghiệm kể từ sau các trường lớp Nho học thời trẻ.

Đầu năm 1926, Phan Khôi đến Huế, ở nhờ nhà riêng Nguyễn Bá Trác, gặp Phan Bội Châu vừa bị chính quyền thuộc địa buộc an trí tại đây. Mục đích của Phan Khôi là gặp Khâm sứ Pasquier điều đình ra một tờ báo tại Huế, nhưng không thành. Sau đó, ông vào Sài Gòn theo lời nhắn của Phan Châu Trinh, khi ấy vừa từ Pháp về. Phan Khôi có mặt trong số những người luôn luôn ở cạnh Phan Châu Trinh trong những ngày giờ hoạt động và chữa bệnh cuối cùng của đời cụ; Phan Khôi cũng có mặt trong nhóm tổ chức đám tang Phan Châu Trinh, được giao viết bản hiệu triệu quốc dân.(8)Song chính ở đây ông lại bị đến vài năm khốn khó.

Chính cụ Tây Hồ nói cho Phan Khôi biết, cụ được tin từ Huế báo: Phan Khôi được Khâm sứ Trung Kỳ phái vào Nam để ám sát cụ, nhưng cụ không tin!(9)

Nguồn tin mà giám đốc sở mật thám Nam Kỳ nắm được, là Phan Khôi được Phan Châu Trinh giao cho viết một tiểu sử của mình và nhiều tác phẩm chính trị khác. Tập bản thảo nhan đề “Phan Châu Trinh” do Phan Khôi viết gồm 94 trang, tuy không in ra được, nhưng đã lọt vào tay mật thám Pháp.(10) Chính mật thám Pháp đã tung tin Phan Khôi làm mật thám hòng mượn tay các cựu đồng chí trong giới sĩ phu để hãm hại hoặc gây khó cho Phan Khôi. Ông phải luân lạc đến một số nơi tại Nam Kỳ, như lên Tây Ninh rồi được một người bạn là Quốc Biểu tìm giúp chỗ ngồi dạy học; hoặc có lúc hơn hai tháng liền phải trú ngụ tại một đồn điền vắng vẻ ở CàMau; thời gian này ông chủ yếu dùng để học tiếng Pháp.

Chỉ từ đầu năm 1928, Phan Khôi mới có thể sống yên ổn tại Sài Gòn, tiếp tục cuộc đời viết báo, làm báo.

Phan Khôi lặng lẽ tái xuất hiện trên tờ Đông Pháp thời báo tại Sài Gòn từ đầu năm 1928 với hai chữ C. D.,ký tắt bút danh Chương Dân ông đã dùng từ mươi năm trước. Ông khởi lên cuộc thảo luận về hiệp ước Versailles 1787, bác bỏ luận điểm “nước Pháp giúp Nguyễn Ánh” đánh bại Tây Sơn. Ông cũng có một loạt bài bình luận về nhiều sự kiện và vấn đề xã hội, chính trị trong và ngoài nước. Ông cũng viết trong mục hài đàm “Câu chuyện hàng ngày” ký Tân Việt, góp phần sáng tạo lối tạp văn hoạt kê châm biếm vốn gắn chặt với báo chí nhưng lại có màu vẻ văn chương.

Sang năm 1929, người chủ của tờ Đông Pháp thời báo lập ra tờ Thần chung thay thế tờ báo cũ, Phan Khôi tiếp tục cộng tác dưới bút danh C.D. Chỉ đến gần cuối năm, ông mới ký họ tên thật Phan Khôi trong loạt bài về “Cái ảnh hưởng Khổng giáo ở nước ta” và một số bài thảo luận việc dịch kinh Phật.

Cũng từ đầu năm 1929, Phan Khôi đã dùng bút danh Khải Minh Tử để ký một số bài viết bằng chữ Hán gửi lai cảo tới tờ Quần báo, một tờ báo chữ Hán của Hoa kiều ở Chợ Lớn.

Giữa năm 1929, Phan Khôi nhận lời mời của một doanh nhân là vợ chồng ông Nguyễn Đức Nhuận, bà Cao Thị Khanh, cộng tác biên tập và xuất bản tuần báo Phụ nữ tân văn, mạnh mẽ nêu ra “vấn đề phụ nữ” trước một xã hội Việt Nam đang bước vào thời hiện đại, những chuẩn mực cũ của xã hội nam quyền, trọng nam khinh nữ càng ngày càng tỏ ra bất cập.

Tháng 3.1930, tờ Thần chung bất ngờ bị thu hồi giấy phép. Phan Khôi và một số đồng nghiệp chuyển sang cộng tác với nhật báo Trung lập, lúc này đã đổi từ chủ Pháp sang chủ nhân người Việt.

Những năm 1930-1933, Phan Khôi cùng lúc viết cho vài ba tờ báo; ngoài mấy tờ ở Sài Gòn, ông còn gửi bài đăng trên các tờ ở Hà Nội như Phổ thông, Đông tây...

Các loạt bài viết, bài thảo luận, tranh luận của Phan Khôi từ báo chí Sài Gòn những năm này, 1928-1933, đã khiến tên tuổi ông nổi bật lên trong dư luận công chúng và dư luận làng báo làng văn.

          Giữa năm 1933 ông ra Hà Nội, viết cho tờ Thực nghiệp dân báo ít lâu rồi nhận lời của chủ nhân Nguyễn Văn Đa làm chủ bút tờ Phụ nữ thời đàm, đổi tờ này từ nhật báo sang tuần báo (1933-34), duy trì tờ báo suốt 22 tuần, nêu “vấn đề phụ nữ” trước dư luận công chúng Bắc Kỳ vốn bảo thủ hơn dư luận trong nam.

          Đầu năm 1934 Phan Khôi về quê chịu tang cha, lại gửi bài cộng tác với các báo ở Sài Gòn như Công luận (1934), Phụ nữ tân văn (1934).

Đầu năm 1935, Phan Khôi tới Huế, làm chủ bút tờ nhật báo Tràng ancủa chủ nhiệm Bùi Huy Tín. Đầu năm 1936 ông thôi chủ bút tờ này, chuyển sang cộng tác viết bài cho tuần san Hà nội báo ở Hà Nội. Sau khi cho in cuốn sách Chương Dân thi thoại (nhà in Đắc Lập, Huế, 1936), Phan Khôi đứng ra sáng lập báo Sông Hương, một tờ tuần báo thiên về học thuật, nhất là sử học, văn học, ngôn ngữ, v.v., tuy vậy ông và tờ báo này vẫn tham dự nhiều hoạt động của báo giới giữa lúc phong trào Đông Dương đại hội đang lên cao. Do báo thất thu, Phan Khôi phải ngừng xuất bản Sông Hương sau 32 số, trước khi bán lại giấy phép Sông Hương cho nhóm cộng sản Nguyễn Cửu Thạnh, Phan Đăng Lưu.

Những năm 1938-1940, Phan Khôi lúc ở Huế, lúc ở Sài Gòn, lúc ở quê Quảng Nam, vừa dạy học, vừa viết bài cho các tờ báo ở Hà Nội như Đông Dương tạp chí (tục bản), Thời vụ, Dư luận, Ngày nay, Tao đàn, Phổ thông bán nguyệt san. Từ 1940 ông hầu như ở Sài Gòn, viết cho tờ Dân báo của Bùi Thế Mỹ. Khoảng cuối 1941 đầu 1942, ông ngừng viết báo, từ Sài Gòn về quê Quảng Nam.

***

Nguồn tư liệu hồi ức gia đình cho biết: khi Nguyễn Bá Trác đến vận động ông tham gia chính phủ Trần Trọng Kim (1945), ông đã tỏ rõ thái độ cự tuyệt, với lý do: từ lâu, ông đã tự xác định không làm chính trị. (11)

Khi Việt Minh tổ chức cướp chính quyền tại địa phương ông cư trú, Phan Khôi giữ thái độ quan sát bình tĩnh, dần dần đi đến chấp nhận chính thể Việt Nam Dân chú Cộng hòa, song cũng phản ứng trước một số hành động cực đoan của chính quyền địa phương, ví dụ việc họ định phá đền thờ Hoàng Diệu, vị Tổng đốc đã tuẫn tiết khi thành Hà Nội bị thất thủ (1882). Phan Khôi giữ lập trường yêu nước, không tán thành hiệp định sơ bộ (6.3.1946) mà chính phủ Hồ Chí Minh ký với Pháp.

Cũng theo nguồn tư liệu hồi ức gia đình thì khoảng tháng 6/1946, tiếp một nhóm trí thức từ Hội An, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Nghĩa tới nhà mình và được họ mời làm Chủ nhiệm Chi bộ Việt Nam Quốc Dân đảng vùng Nam-Ngãi, Phan Khôi đã tạm thời gác ý chí “không làm chính trị” để nhận lời, dù chỉ là cử chỉ đứng tên tượng trưng. (12)

Khoảng tháng 7/1946, ông nhận được giấy mời của Bộ Nội vụ do Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng ký, mời ông ra Hà Nội dự Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, sẽ khai mạc vào ngày 01/8/1946.

Phan Khôi tới Hà Nội vào ngày 6/7/1946, ở trọ tại nhà riêng ông Lê Dư. Ông được Lê Dư cho hay: Huỳnh Thúc Kháng nhắn Phan Khôi đừng tới gặp, vì có thể gây nghi ngờ (?).

Ngày 12/7/1946, Phan Khôi đến trụ sở Quốc Dân Đảng (80 Quán Thánh, Hà Nội) tại tòa soạn báo Việt Nam có Khái Hưng và một số người khác; ngay hôm đó nhà này bị công an ập đến triệt phá, bắt đi một số người, trong đó có Phan Khôi, nhưng tại trụ sở công an Phan Khôi được thả ngay. (13)

Phan Khôi dự Hội nghị văn hóa toàn quốc (24/11/1946). Sau đó, vào ngày bùng nổ Toàn quốc kháng chiến, ông thấy rõ chính phủ Việt Minh quyết tâm chống Pháp, hợp với chủ ý của mình, ông ở lại Hà Nội.

Khoảng 29 Tết Đinh Hợi 1947, Phan Khôi theo dòng người tản cư rời Hà Nội, đi Yên Hạ, Hà Đông, rồi lại theo dòng người quay lên vượt sông Hồng định đi Bắc Giang, bị công an giữ lại, đưa về Hà Đông, rồi ông đề nghị để ông đi Vân Đình, tới đây ông gặp gia đình Thế Lữ tại Hòa Xá. Từ đó ông và những người này gia nhập Đoàn văn hóa kháng chiến do Nguyễn Huy Tưởng phụ trách, tản cư lên Việt Bắc. (14)

          Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (16 – 20.7.1948, tại Đào Giã, Thanh Ba, Phú Thọ) Phan Khôi đọc tham luận “Một phương pháp dạy văn pháp tiếng ta”, sau đó được cử làm trưởng ban Ngôn ngữ-Văn tự của Hội văn hóa Việt Nam. Ông cũng tham dự Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (23-25.7.1948, tại Yên Kỳ, Hạ Hòa, Phú Thọ) thành lập Hội văn nghệ Việt Nam, cộng tác thường xuyên với tạp chí Văn Nghệ của Hội.

Ông tham gia nhiều hoạt động cúa Hội văn nghệ, dự hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (25 -- 28.9.1949), tham gia đoàn văn nghệ đi chiến dịch ngay sau hội nghị kể trên. (15)

Khi Hội văn nghệ Việt Nam đặt ra giải thưởng và xét trao giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1951-1952, Phan Khôi đã được trao giải nhì cho tất cả các bản dịch ông thực hiện tại Việt Bắc. (16)

Sau ngày phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản thủ đô, Phan Khôi trở về Hà Nội (giữa tháng 10/1954) trong tư cách một nhân sĩ, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam.

Năm 1955, ông được cử tham gia Phái đoàn Chính phủ vào thăm Liên khu Năm, nói chuyện về thắng lợi của cuộc kháng chiến tại hai cuộc mít tinh ở Quảng Ngãi và Bình Định.

Cũng trong năm 1955, hầu hết các thành viên gia đình ông, bằng các con đường khác nhau, đều tập kết ra miền Bắc.

Phan Khôi (và Tế Hanh) được cử đại diện Hội văn nghệ Việt Nam đi dự kỷ niệm 20 năm mất nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn (từ 16.10.1956); ông đọc tham luận tại lễ kỷ niệm này. Phan Khôi được kết nạp Hội nhà văn Việt Nam từ 1957.

Tại Hà Nội ông đưa in một số cuốn sách nghiên cứu (Việt ngữ nghiên cứu) dịch thuật (Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn, tập I, tập II; Ánh lửa đằng trước; Anh Hai Đen lấy vợ), viết bài cho các tạp chí Văn Sử Địa, Tập san Đại học Sư Phạm, các báo Nhân dân, Văn nghệ, Văn, Tiền phong, v.v. Ông cộng tác với Ban Văn Sử Địa để viết những bài cung cấp tài liệu cho bộ sách “Tài liệu tham khảo Lịch sử cách mạng Việt Nam”, cụ thể là viết về phong trào “Vụ xin xâu ở Quảng Nam” 1908 và “Duy Tân khởi nghĩa” 1916.

Những năm 1955-1956, cuộc cải cách ruộng đất (1953-56) gây ra những khủng hoảng xã hội trầm trọng, khiến chính phủ và đảng cầm quyền phải xin lỗi dân và tiến hành sửa sai. Trong văn nghệ cũng bộc lộ nhiều vấn đề do việc quản lý tập trung quan liêu gây ra. Phan Khôi viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” nêu ra những cách làm việc thiếu minh bạch, như người trong ban chấm giải (giải thưởng văn nghệ 1954-55) lại có tác phẩm dự xét giải; sự về hùa, ngầm ủng hộ tác giả này hơn hẳn các tác giả khác, thực chất là đã xuất hiện các nhóm lợi ích trong nền văn nghệ nhà nước hóa, v.v. Bài của ông được đăng trong tập Giai phẩm mùa thu (tập 1, 1956) gây dư luận khá mạnh. Tháng 9/1956, Phan Khôi nhận lời với một nhóm nhà báo và văn nghệ sĩ đứng tên làm chủ nhiệm tờ báo tư nhân Nhân văn (xuất bản tại Hà Nội từ 20/9/1956 đến 20/11/1956); tờ báo đăng tải những tác phẩm có những yếu tố táo bạo về sáng tạo hoặc có đề tài không phù hợp với phạm vi các chủ đề của văn nghệ chính thống; đồng thời đăng những ý kiến của văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác, những ý kiến của nhân sĩ trí thức đòi mở rộng dân chủ trong chế độ do đảng cộng sản cầm quyền.

Năm 1958, trong cao trào đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm do đảng cầm quyền phát động và tổ chức, chỉ huy, Phan Khôi bị liệt vào một trong những “phần tử” hàng đầu (Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Thụy An, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán, v.v.), bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Hội nhà văn Việt Nam.

Ngày 16/1/1959, ông qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội, sau thời gian bệnh nặng. Gia đình ông làm bản khai tử cho ông bằng bút danh Chương Dân; trong khi vợ, con, các cháu ông tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng thì những lời phê phán nặng nề trên báo chí vẫn liên tục nhắm vào con người tác giả mang họ tên Phan Khôi.

Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, Phan Khôi được phục hồi hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Các tác phẩm của Phan Khôi được sưu tầm biên soạn và tái xuất bản. Đã có một số hội thảo dành riêng nghiên cứu tiểu sử và sự nghiệp Phan Khôi. 

Chú thích:

(1)Theo Phan Khôi (1939): “Lịch sử tóc ngắn. Cái đầu An Nam kể từ 1906”, Ngày nay, Hà Nội, s. 149 (15.2.1939).

(2)Nguyễn Văn Xuân (1970): Phong trào duy tân, bản tái bản, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 197.

(3)Phan Khôi (1953): “Kiểm thảo sơ bộ, 28/8/53”,rút từ Phan Khôi. Di Cảo, Phan An Sa sao lục và xử lý văn bản, Phan Nam Sinh hiệu đính và chú thích, bản thảo chưa xuất bản.

(4)Phan Khôi (1955): “Vụ xin xâu ở Quảng Nam”, rút từ tập Phan Khôi. Di cảo, tài liệu đã dẫn.

(5)Phan Khôi (1953): “Tự kiểm thảo”, rút từ Phan Khôi Di cảo, tài liệu đã dẫn.

(6)Phan Khôi (1953): “Kiểm thảo sơ bộ, sau đợt học III, 28-8-53”, rút từ Phan Khôi Di cảo, tài liệu đã dẫn.

(7)Phan Thị Nga (1936): “Ông Phan Khôi học chữ Tây và làm quen với cô Luận Lý”, Hà Nội báo, Hà Nội, s. 10 (11.3.1936).

(8)Phương Lan Bùi Thế Mỹ (1970): Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, Ấn quán Thúy Phương, Sài
Gòn, 1970, tr. 130.

(9)Phan Khôi (1953): “Tự kiểm thảo”, rút từ Phan Khôi, di cảo, bản thảo đã dẫn

(10)P. Arnoux (1926): “Mật báo số 239 US ký ngày 1/6/1926 của sở mật thám Nam Kỳ, gửi Ngài Thống đốc Nam Kỳ, và Ngài giám đốc vụ các vấn đề chính trị và an ninh chung tại Phủ Toàn quyền, Hà Nội”. Tài liệu do bà Lê Thị Kinh (Phan Thị Minh) sưu tầm và dịch thuật từ thư khố Pháp quốc hải ngoại tại Aix-en-Provance, Pháp. Chuyển dẫn từ: Phan Thị Mỹ Khanh, Nhớ cha tôi, Phan Khôi, Nxb. Đà Nẵng, 2001, tr. 279-281.

(11)Xem: Phan An Sa (2013): Nắng được thì cứ nắng, Phan Khôi từ Sông Hương đến Nhân Văn, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2013, tr. 265-266.

(12)Xem sách đã dẫn, tr. 288-294.

(13)Xem sách đã dẫn, tr. 300-312.

(14)Xem sách đã dẫn, tr. 312-315.

(15)Thao Trường (Nguyễn Huy Tưởng, 1949): “Văn nghệ sĩ xuất phát đi mặt trận”, Văn Nghệ, [Việt Bắc], s. 17&18, số Tranh luận (tháng 11&12/1949).

(16)“Kết quả giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1951-1952”, Văn Nghệ [Việt Bắc], s. 39 (tháng 2/1953)