Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Dường như được “mặc khải” để nghiên cứu văn hoá Đông Sơn, cho đến nay Tạ Đức đã có ba chuyên khảo: 1. Nguồn gốc và sự phát triển của Kiến trúc – Biểu tượng và Ngôn ngữ Đông Sơn (1999); 2. Nguồn gốc người Việt – người Mường (2013). 3. Nguồn gốc và sự phát triển của trống đồng Đông Sơn (2017). Tác phẩm thứ 3 có tính cách tiêu biểu, đại diện cho cả 2 tác phẩm trước đó.

Đầu 1981, trước khi giải lính về làm Ngoại văn, cô Hoàng Oanh, con dâu cả cụ Đào Duy Anh, cô giáo tiếng Nga của tôi thời đại học, bảo: Thúy về đấy có vướng mắc gì về tiếng Nga, cứ hỏi anh Phạm Vĩnh Cư. Anh ấy học Liên Xô từ phổ thông, qua đại học, rồi phó tiến sĩ, nên tiếng Nga cực giỏi. Đến giữa năm ấy, khi đã vượt qua được một rừng thủ tục để về nhà xuất bản, thì anh Cư đã rời cơ quan đi rồi. Nhưng dấu vết của anh để lại ở mọi người thì còn khá đậm. Người ra rỉ tai tôi rằng anh Cư giỏi nên được bác Viện ưu ái cho lên một lần mấy bậc lương. Hoặc kháo nhau chuyện, do sống lâu năm ở Nga, nên nhiều khi anh rất ngỡ ngàng về cách cư xư và cũng rất lớ ngớ tiếng Việt. Rằng, thời nào thì cũng có những ông Tây An Nam...

Trong thế kỷ XX, nếu lấy chính trị và văn hóa như là hai chiều kích đối lập nhau trong một khung lịch sử, thì con đường của người trí thức Việt Nam diễn ra theo các chuyển động rất phức tạp. Tuy vậy, có thể khái quát thành những xu hướng cơ bản sau: 1) từ chính trị sang văn hóa; 2) từ văn hóa sang chính trị; 3) từ văn hóa đến văn hóa; 4) vừa chính trị vừa văn hóa. Trong các xu hướng này, con đường từ chính trị sang văn hóa, tuy không được số đông hành cước, nhưng lại là con đường phát lộ nhiều vấn đề của xã hội Việt Nam hiện đại, và có ý nghĩa đặc biệt trong sự hình thành tầng lớp trí thức độc lập. Bởi vậy, suốt thế kỷ trước, người ta thường thấy một hiện tượng rất đáng lưu ý: một nhân vật đang mải mê hoạt động, sau một sự cố nào đó, liền từ giã sự nghiệp chính trị chuyển sang hoạt động văn hóa. Phan Khôi là một trường hợp đầu tiên và tiêu biểu.

Từ Chân trời có người bay (2002, 2006) đến Vẫy vào vô tận (2014), Đỗ Lai Thúy vẫn giữ nguyên một bút pháp, một écriture: viết chân dung học thuật, một thứ chân dung nhìn nghiêng, chân dung - tùy bút, "có ấn tượng, ký ức, cảm nghĩ, tán thưởng, tranh luận, thóc mách, và đôi lúc vượt quá cả khoảng cách sử thi" (1). Vẫn giữ nguyên một lựa chọn: "...các nhà nghiên cứu, nhà tư tưởng, ...những người bị đời thường che khuất, thậm chí oan khuất, ...những người nguyện hiến cuộc đời mình cho sự tìm kiếm sự thật, mà sự thật nào thì cũng là một cái khác, hay ít nhất cũng làm đổi khác một nếp cảm, nếp nghĩ, hay một cái nhìn đã đóng cặn. Điều gây bất ổn cho đám đông" (2). Nhưng, nếu Chân trời có người bay thiên về "trục vớt" những đóng góp học thuật, nêu ra những giá trị nhân cách, kinh nghiệm ứng xử của từng người như Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Huy, Trần Đức Thảo, Nguyễn Ngọc Chương, Thái Bá Vân..., thì Vẫy vào vô tận ưu tiên những vấn đề tư tưởng, văn hóa, xã hội, hệ hình và chuyển đổi hệ hình tư duy thông qua cuộc đời hoạt động của 17 nhân vật như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Nhất Linh, Nguyễn Hiến Lê, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Tài Cẩn, Đặng Nghiêm Vạn, Hà Văn Tấn...

Hơn một tháng đã trôi qua, giới khoa học nước nhà cũng như đông đảo cư dân mạng “nóng” lên quanh cuộc trao đổi về cuốn sách Nguồn gốc người Việt - người Mườngcủa tác giả Tạ Đức.

Tạm tính từ ngày 16/ 5/ 2014 được coi là “khởi điểm” của cuộc tranh luận với bài của Trần Trọng Dương trên Tạp chí Tia sáng, đến nay, đã có trên 20 bài (thống kê chưa đầy đủ), được đưa lên các trang mạng (không tính các bài trùng nhau), thuộc các thể loại, chủ yếu là trao đổi: tin tức, phỏng vấn, bài viết dài mang tính nghiên cứu, bình luận, trả lời, thư ngỏ…; trong đó 18 bài có tính chất học thuật. Để bạn đọc nào chưa có điều kiện theo dõi liên tục cuộc tranh luận này, chúng tôi điểm lại những nét chính của các luận điểm đưa ra.

Chuyên mục: Diễn đàn

Vấn đề nguồn gốc người Việt, người Mường, rộng ra nguồn gốc dân tộc Việt Nam, là một câu hỏi cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Trong cuộc tìm kiếm lâu dài, từ huyền thoại đến khoa học, đã dần dần hình thành nên hai mô hình tìm kiếm. Một là giả thuyết tiến hóa - bản địa, tức cội nguồn của người Việt (và các cư dân khác sống trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay) là người bản địa do sự tiến hóa xã hội mà thành. Những sự giống nhau về văn hóa giữa những cư dân bản thổ của quốc gia này với/ của quốc gia khác chủ yếu do sự phát triển tương ứng trên cơ sở những điều kiện kinh tế - xã hội tương tự nhau. Hai là giả thuyết truyền bá - thiên di, coi người Việt là những hậu duệ xa xôi từ phía Bắc thiên di tới thành nhiều đợt do những biến động xã hội diễn ra nhiều lần trong lịch sử. Cơ sở văn hóa của thuyết thiên di cho rằng các phát minh lớn chỉ diễn ra một lần, ở một nơi nào đó vào một thời nào đó, về sau được truyền bá đi các nơi khác, qua một quá trình hỗn dung vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính áp đặt gắn liền với trao đổi hôn nhân, buôn bán làm ăn, chiến tranh.

Lời Tòa Soạn: Văn hóa của một dân tộc là một dòng chảy liên tục, tuy nhiên, có lúc nhanh, lúc chậm, có lúc bình lặng, lúc dữ dội, có bằng phẳng, có thác có ghềnh, và thẩm mỹ về dòng sông mỗi người, mỗi thời có thể khác nhau. Tạm hình dung như vậy để có một cái nhìn khách quan về văn hóa, đừng quá áp đặt cái chủ quan trong ứng xử với văn hóa để tránh làm cho văn hóa méo mó, biến dạng. Tất niên năm nay, với tâm niệm đó, chúng tôi đã đón PGs, ts Đỗ Lai Thúy làm khách của Văn hóa Nghệ An và đã có cuộc trao đổi ngắn nhưng thú vị.

Thứ sáu, 03 Tháng 1 2014 20:56

Đào Hùng nhìn từ phía tôi

Đào Hùng là một nhân cách đa dạng, nhiều trong một. Ở anh, nhà báo, nhà biên tập, nhà nghiên cứu, dịch giả, người biên soạn không hề mâu thuẫn nhau, trái lại được thống nhất với nhau bởi một người chơi: chơi mình, chơi người, chơi công việc, thậm chí chơi chơi, tức chơi cả sự chơi.

Chuyên mục: Cuộc sống quanh ta

Đỗ Đức Hiểu, hoạt động văn học sớm (nếu kể từ khi tham gia “nhóm Lê Quý Đôn, 1955) và nhiều lĩnh vực: dạy học, làm tu thư, viết lịch sử văn học Việt Nam, lịch văn học Pháp, chủ biên từ điển văn học, viết chuyên luận về văn học hiện sinh chủ nghĩa, văn học Công xã Paris… Nhưng, cái làm cho Đỗ Đức Hiểu trở thành Đỗ Đức Hiểu, hay nói khác, cái làm cho Đỗ Đức Hiểu trở thành chính mình, tôi nghĩ, đó làphê bình văn học, dù ông đến với phê bình khá muộn. Muộn nhưng lại kịp thời, vì thứ công việc ông làm là phê bình văn họcđổi mới.

...
2. Bùi Giáng, từ chơi chữ đến trò chơi ngôn ngữ
Văn chương Việt đầy rẫy những chơi chữ với nhiều hình thức khác nhau.
Page 1 of 4