Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Gia Viễn - một thuở cờ lau

Tôi không nhớ hồi nhỏ đã học “Tân Quốc Văn Giáo Khoa Thư” hay đọc sách “Tài Trẻ Nước Nam” về chuyện “Cờ lau tập trận” để rồi hễ cưỡi bò ra đồng, là bọn trẻ chúng tôi lại bày trò đánh giặc giả. Hai đứa xếp tay lại làm kiệu cho một đứa sắm vai Đinh Bộ Lĩnh ngồi lên chỉ huy. Bạn bè mỗi đứa bẻ một bông lau làm cờ. Vì thế, “loạn Thập nhị sứ quân” đứa nào cũng thuộc.

Tiểu đoàn 1 trú quân trong nhà dân ở vùng ven thị trấn Nho Quan. Tôi là lính của Trung đoàn 98 được bố trí ở chung nhà với anh Hoàng Chiu, người Tày Cao Bằng vốn là lính của Trung đoàn 176. Lính an dưỡng, Chủ nhật tự do thoải mái. Tôi quen nghề nơm tát, nên thỉnh thoảng kiếm được tép, dam (cua đồng), ốc cho cả tiểu đội “ăn tươi”. Anh Hoàng Chiu thạo nghề rừng, thường rủ tôi vào làng Lạc Bình nhập bọn đi săn. Tôi nhớ Nho Quan thuở đó rừng núi trùng điệp, phần nhiều là người Mường. Một số người Kinh dưới xuôi lên làm phu đồn điền Phạm Lê Bổng, sau ngày mất việc thì tản ra thị trấn Nho Quan và một vài thị tứ như Phố Cát, Rịa, Kim Tân buôn bán vặt.

Dăm bảy bận đi săn thú, đốt tổ ong vò vẽ lấy nhộng, nướng nhím cùng với người Mường Lạc Bình, tôi thấy họ cũng thuần hậu chất phác như cha mẹ anh em mình.

Gia Viễn, Nho Quan, Thạch Thành, Hà Trung… nhìn bản đồ những nơi này phân thành hai phía, bên ngoài Ninh Bình, bên trong Thanh Hóa, lấy đường phân thủy trên dãy núi đá nằm chênh theo hướng tây bắc từ Kim Bôi (Hòa Bình) ra phía đông nam Kim Sơn (Ninh Bình) làm ranh giới. Bởi nhiều lần đi săn với người Mường Lạc Bình, tôi nhận biết rằng họ không mấy quan tâm địa dư hành chính bên này hay bên kia. Núi rừng trùng điệp là địa bàn sinh tụ, cư trú lâu đời của họ chưa hề phân chia nên không ngăn cách. Ai tìm được nương rẫy mới, phát cây trỉa hạt, dựng lán xong là của mình. Cuối những năm chín mươi của thế kỷ XX, người R’măm ở tỉnh Kontum vẫn còn thích du canh du cư như thế.

Sau mấy tháng an dưỡng, tiểu đoàn 1 giải thể, toàn bộ bệnh binh chúng tôi được ra quân. May ơi là may! Tôi biết ơn bác sĩ Nguyễn Sĩ Nghiệp mãi mãi. Từ Nho Quan, qua đò sang sông Hoàng Long ra Gián Khuất thuộc huyện Gia Viễn để xuôi xuống thị xã Ninh Bình đón xe về Nghệ. Đôi chân lính đã từng rèn luyện vào dịp tham gia chiến dịch Tây Bắc nên thênh thang mà tung tăng như chim sổ lồng. Khác với Nho Quan, Gia Viễn toàn núi lẻ đơn độc đứng giữa nước nên có bạn gọi là núi lội. Núi lội giống như những hòn non bộ rải rác chập chùng hai bên đường. Nhiều tảng đá mòn chân bập bềnh theo gợn sóng thoạt nhìn tưởng núi nổi, đang trôi. Bởi những điều như thế, nên có người ví Ninh Bình là Hạ Long cạn. Tôi ngơ ngác hỏi Hạ Long cạn là gì? Quả là ngớ ngẩn.

Bẳng đi một thời gian dài mưu sinh khắc khoải, tôi cũng đến được Bãi Cháy, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông … mới nhớ ra Ninh Bình cũng giống Hạ Long không còn biển. Thuật ngữ Hạ Long cạn là thế. Vẻ đẹp của Hạ Long cũng như Ninh Bình mùa lụt. Mùa này chân núi đá Ninh Bình vùng Non Nước, Gia Viễn, Hoa Lư bồng bềnh hệt như Bái Tử Long.

Thời ấy chờ mua vé đi xe không dễ như ngày nay. Nhất là từ vùng trước đó gọi “tạm chiếm” ra vùng mệnh danh “tự do”. Chờ là đợi. Xem chừng vài ngày mới đến lượt, chúng tôi thường lang thang lên núi Non Nước, núi Khôi Hạc chơi. Non Nước còn có tên là Băng Sơn hay Dục Thúy Sơn (bơi trong màu biếc) như một khối đá dựng bên bờ sông Đáy, trông thì thấp mà trèo mãi, bở hơi tai mới lên đến đỉnh. Trên núi  Non Nước có nhiều thơ, hầu hết là chữ Hán khắc trên vách đá. Tuy không đọc được nhưng ít nhấttôicũng biết đó là tấm lòng và tâm hồn người xưa trân trọng cảnh đẹp của quê hương, Tổ quốc. Đứng trên đầu Non Nước vọng ngắm trời mây sông núi, tâm hồn ai cũng lâng lâng bởi những thực thể hồn nhiên thiên nhiên trời cho.

Khôi Hạc, hay có người gọi là Hồi Hạc lại khác, vách núi không thẳng đứng hoặc có mảng “thượng thách hạ thu” như núi Non Nước mà xoải chân tràn ra bốn phía, trông như một hòn non bộ có lớp lang, hang động, cỏ cây hoa lá. Cỏ với cây bám trên đá có lẽ đã quá lâu ngày nên sần sùi già cỗi mà vẫn tươi xanh. Bonsai! Trong trí tưởng tôi hiện thời lơ mơ một Khôi Hạc có dáng Kim Tự Tháp Ai Cập với vài cây si, cây sanh, cây đa, cây cừa…gân guốc như dáng cổ thụ đổ bóng trên gồ ghề lởm chởm những đá. Cảnhđẹp tự nhiên do “nghệ nhân tài hoa của tạo hóa” đặt bày phô ra giữa trời, hòa với tiếng chim rộn rã náo nhiệt. Khôi Hạc đứng bên cạnh Dục Thúy Sơn và Phi Diên Sơn tạo nên thế “tam sơn” như thể “tam đa” (Phước – Lộc – Thọ) kỳ tú, khó tìm thấy ở bất cứ nơi đâu trên cõi đất này.

Phi Diên Sơn, người địa phương thường gọi là núi Cánh Diều, bởi từ trên cao nhìn xuống, dáng núi như một con diều đang bay giữa đồng xanh bao la, còn có tên nữa là Ngọc Mỹ Sơn. Ngọc Mỹ Sơn hay Ngọc Mỹ Nữ quả là một tuyệt tác hiếm có trên thế gian này.

Dáng núi nhìn từ phía tây nam giống như một nàng trinh nữ nằm giữa đất trời bao la hai chân duỗi thẳng ra phía bắc, đầu gối về phương nam, để mái tóc thề bồng bềnh xoả theo sóng lúa, mắt nhìn thẳng lên cao xa mênh mang.

Chiến tranh triền miên rồi cũng có hồi kết. Sau năm 1975, tôi xin chuyển về Huế. Những ngày đầu bở ngỡ, tôi theo đoàn dukhách leo lên lầu Ngọ Môn để nghe giới thiệu lịch sử kiến trúc Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành. Giọng Huế qua người đàn ông luống tuổi chậm rải mà khúc chiết, gợi nhớ trong tôi sự ấm áp trìu mến của thầy Trần Thanh Hải, Hiệu trưởng trường cấp II Can Lộc thuở nào. Tôi như bị hút vào âm thanh gần gũi thân thương thời học trò. Ít lâu sau, tôi may mắn trở thành đồng nghiệp của người đàn ông xứ Huế ấy. Đó là bác Nguyễn Văn Diệp. Từ buổi khai tâm về tri thức Huế, tôi biết rõ hơn nguồn gốc Kinh đô Huế, nguồn gốc của người quy hoạch và xây dựng công trình mang tầm thế kỷ này.Thế tổ Cao Hoàng đế Nguyễn Phúc Ánh, niên hiệu Gia Long, hậu duệ đời thứ 26 của vị Thủy tổ Định Quốc công Nguyễn Bặc, người đã cùng Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Lưu Cơ, Trịnh Tú…dẹp “loạn Thập nhị sứ quân”, lập nên Vương triều Đinh và Kinh đô Trường Yên/Tràng An tại động Bông Lau/Hoa Lư, khai sinh kỷ nguyên độc lập tự chủ đầu tiên sau nghìn năm Bắc thuộc. Họ Nguyễn có nguồn gốc từthôn Vĩnh Ninh, làng Đại Hữu, xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, nơi có con sông mang tên Hoàng Long gắn bó với lớp trai làng thế kỷ “Cờ lau tập trận” 852 năm trước. Từ đó, Hoa Lư, Gia Viễn, Ninh Bình với những ngày ngây ngô đầu đời, tôi đã từng lang thang một thuở, trở thành “động cơ đốt trong” thường xuyên thôi thúc tôi một lần trở lại.

Dịp may được tháp tùng xếp ra Hà Nội, nhờ diễm phúc trời ban, cùng nằm nhà khách Bộ Văn hóa Thông tin ở 22a Hai Bà Trưng với anh Đinh Thiết Dũng, Trưởng phòng Bảo tồn Bảo tàng Ninh Bình. Hoàn tất công việc tôi xin phép về sau vài ngày. Xếp rộng lòng bởi biết tôi vốn là thổ công Hà Nội. Tiễn xếp lên tàu tại ga Hàng Cỏ xong xuôi tôi theo anh Đinh Thiết Dũng ra bến Kim Liên kiếm phương tiện “bay” về Ninh Bình. Qua Gián Khuất một đoạn, hai chúng tôi xuống xe về nhà anh Dũng. Dọc đường anh hỏi tôi, liệu ở lại Ninh Bình được bao lâu. Tôi lượng số tem phiếu thực phẩm và ngân quỹ của mình không thể nấn ná sang ngày thứ ba nên trả lời ngay, một hoặc hai ngày là cùng.

Anh Dũng vốn hiếu khách trố mắt nhìn tôi rồi dài giọng nhại ‘h…a…i ngày với “Hạ Long Cạn” thì bỏ bèn gì. Rồi như đoán được “tài nguyên” quá “dồi dào” của tôi nên anh trấn an ngay:

“Ông đừng lo. Cá rô Hoa Lư nhiều như trấu. Hoàng Long là rồng vàng. Rồng chẳng thấy đâu mà cá chép thì nhiều vô số. Thả lờ nửa tiếng là có cá rô. Buông câu mươi phút là có cá chép. Cá chép Hoàng Long muốn bắt lúc nào mà chả được. Câu cá chép ở đây không cần mồi. Chỉ thả câu một lúc là có cái mà đưa cay ngay. Chỉ thế thôi. Ông cứ ở lại với tôi. Cao lương mỹ vị thì chịu, nhưng cơm cá Gia Viễn không cần chi tem phiếu. Ông ở bao lâu tôi cũng chiều.”

Quê tôi thường có câu đầu cửa miệng mọi người: “Có cá đổ vạ cho cơm”. Gia Viễn cá với cơm không cần tem phiếu thì còn gì bằng. Tôi biết Đinh Thiết Dũng nhiệt tình, hiếu khách, thực lòng vì bằng hữu, nhưng là nhân viên, tôi không thể ở quá thời gian xin phép.

Hai ngày thôi anh Dũng ơi! Đành cưỡi ngựa xem hoa vậy. Hẹn anh lần sau.

Nói xã giao cho mát lòng nhau vậy thôi! Lần sau là lúc nào chỉ có trời mới biết. Nhân viên như tôi làm sao mà định được.

Nghe anh Dũng nói câu cá không cần mồi tôi cứ ngỡ hoang đường. Thì ra là thật. Một vằng câu dăm bảy chục lưỡi, thả chùng lơ lửng ngang dòng một nhánh sông Hoàng Long rồi buộc hai đầu sợi dây trục vào hai cành tre cắm hai bên bờ. Trên mỗi cành tre treo một ống bơ kèm que sắt như chiếc đũa. Thế là yên chí đi làm việc khác. Hễ nghe tiếng đũa sắt gõ vào ống bơ leng keng đích thị cá đã dính câu đang quẫy là chèo thuyền nan ra nâng đoạn phao chìm lên, y như có chú chép bị ba bốn cái lưỡi thép sắc nhọn uốn cong có ngạnh túm lại. Còn cá rô Hoa Lư từ xưa từng thuộc loại danh ngư quả là đặc sản tuyệt hảo của cố đô Đại Cồ Việt, khỏi bàn. Lượng thời gian của mình và công việc của anh Dũng, tôi chỉ chọn hai điểm để đến. Đó là Trường Yên, nơi có đền thờ vua Đinh, và thôn Vĩnh Ninh, làng Đại Hữu, xã Gia Hưng, nơi có mộ tổ Định Quốc công Nguyễn Bặc.

Đền vua Đinh tọa lạc trên một khuôn viên rộng khoảng 5 mẫu, nay thuộc làng Trường Yên Thượng, nên có tên là đền Thượng. Xa xưa đây là trung tâm kinh đô Trường Yên.

Đã đến đền Thượng thì nên ghé qua đền Hạ. Anh Dũng bảo thế. Đền Hạ dành cho vua Lê nằm trên đất làng Trường Yên Hạ cách đền Thượng khoảng 500m. Nhìn vị thế, quy mô hai ngôi đền tôi cứ ngỡ như là phủ chúa với cung vua cuối thế kỷ XVIII.

Điều làm tôi lưu ý là bên đền Thượng thì thờ vua Đinh Tiên Hoàng, Hoàng Thái tử, Hoàng tử và tứ trụ triều đình. Các quan tứ trụ cũng có tượng được thờ trong một công trình kiến trúc nối tiền điện với hậu cung, mà thuật ngữ kiến trúc dân gian gọi là ống muống gồm bốn vị là Định Quốc công Nguyễn Bặc - Tể tướng đầu triều; Đinh Điền - Ngoại giáp; Trịnh Tú - Sứ quan; Lưu Cơ - Đô hộ phủ Sĩ sứ.

Chỉ từng đó vị mà như đủ cả triều đình. Vua, Hoàng gia, quần thần làm nên quy củ nghiêm minh rõ ràng mang tính chính thống.

Đền Hạ không được thế. Hẵn là người xưa lập nơi thờ chắc cũng có ẩn ý gì! Ngoài vua Lê Đại Hành, quần thần chỉ có một ông quan thuộc loại xu phụ là Phạm Cự Lượng. Kế đó là Lê Long Đỉnh, Ngọa triều, tàn bạo, dâm dục, bất lương, nhiều tai tiếng nhất trong lịch sử, cùng bà Thái hậu Dương Vân Nga, vốn là vợ vua Đinh. Sự có mặt hai nhân vật này (Ngọa triều và Thái hậu) tại đền Lê dường như không mang thiện chí ngợi ca mà có lẽ ngược lại.

Xây dựng đền thờ vua Đinh nguy nga bề thế tại trung tâm kinh đô Trường Yên gọi là đền Thượng để tri ân vua và các bậc khai quốc công thần đã làm nên lịch sử mở đầu thời tự chủ, đồng thời lại lập đền Lê nhỏ hơn gọi là đền Hạ như là một biểu hiện so sánh thượng hạ, cao thấp, chân ngụy, chính tà.   

Cũng là đền. Cũng để thờ. Nhưng một bên vua sáng tôi hiền, một bên gian phu. Chỉ cung cách quy mô thôi, mỗi bên một khác.

Ra khỏi đền Lê, tôi thán phục những người quy hoạch hai ngôi đền vừa có tâm vừa có tình, lại có ý. Thì ra, khen đó mà có lẽ để chê cũng đó. Phe nọ hài lòng. Phe kia không có cớ để trách. Người đời xưa xem vậy mà tinh tế thâm thúy lắm.

Đứng trên đất thôn Vĩnh Ninh, làng Đại Hữu, xã Gia Hưng nghĩ về địa thế Gia Viễn một nghìn năm trước rồi hồi tưởng lại động Bông Lau với những trai làng Việt Mường chưa phân danh tuyến, với những đàn trâu thả rừng chỉ về với con người theo thời vụ, tôi càng biết địa hình sông ngòi, khe suối, thung lũng, đồng đất hẹp giữa núi rừng bao la. Núi đá lẻ. Núi đá kết dải. Tất cả tạo nên thế như chia cắt, như ngăn chặn đối phương để chở che con em của mình. Cũng từ đây, nghĩ về địa thế Gia Viễn, Nho Quan, Thạch Thành, Tống Sơn (nay là Hà Trung), Thanh Hóa, Nghệ An, nghĩ về rừng đầu nguồn trong sự nghiệp chống bành trướng từ phương bắc, mới biết cha ông ta tuy học chưa cao, nhìn chưa xa nhưng tấm lòng trung với nước chỉ qua cung cách ứng xử với rừng đủ tỏ rõ khôn dại, thật giả, chính tà.

Mặt khác, Gia Viễn, Nho Quan vốn đã có địa lợi mà cư dân lại là con em của núi rừng sở tại, sớm tiếp thu chân lý Phật giáo có lẽ từ phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci). Tôi nhớ vào đầu những năm sáu mươi của thế kỷ XX, Giáo sư Hà Văn Tấn đã đọc và dịch văn bia bằng tiếng Phạn từ cột đá Hoa Lư, thể hiện vị trí Phật giáo ở thời kỳ này đã có tầm ảnh hưởng sâu xa trong tâm thức Đại Cồ Việt.

Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lưu Cơ, Trịnh Tú…đứng lên cùng lớp trai làng chăn trâu từng lấy cờ lau tập trận. Người của lau sậy hẵn là người của núi rừng. Thuở đó người sở tại còn nguyên vẹn là người bản địa.

Từ suy nghĩ như thế tôi liên hệ rồi hình dung ra địa bàn các sứ quân như Ngô Xương Xí ở Khoái Châu, Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu (Hưng Yên), Đỗ Cảnh Thạc ở Thanh Oai, Nguyễn Siêu ở Thanh Trì (Hà Đông), Kiểu Công Hãn ở Phong Châu, Kiểu Thuận ở Cẩm Khê (Phú Thọ), Lý Khuê ở Siêu Loại, Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du, Lữ Đường ở Văn Giang (Bắc Ninh), Nguyễn Khoan ở Tam Đái (Vĩnh Phúc), Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm (Sơn Tây), Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu (Kiến Xương, Thái Bình) như manh mún, vở vụn từ một cộng đồng chắp vá lỏng lẻo.

Nghìn năm bị ngoại xâm. Nghìn năm đón nhận cư dân di trú nhập tịch. Hàn gắn và chia rẽ dường như là thuộc tính của sự chắp nối chưa thuần. Bố Hải Khẩu lại thiếu hẵn chỗ dựa vào địa thế non sông. Trần Minh Công đuối sức. Đinh Bộ Lĩnh nhận sứ mệnh thay chủ tướng hàn gắn sự đổ vở đang diễn ra hàng ngày. Nếu chậm, xâm lăng nghìn năm lại có cơ tái diễn. Hẵn là anh con trai họ Đinh ở động Bông Lau đã nghĩ đến Ngô Xương Xí, cháu nội người khai sinh ra nền tự chủ, nhưng cũng đã nhận ra vị sứ quân này không còn đủ sức, đủ tầm làm nên một Vương triều. Quê hương, bản quán, bầu bạn đã vẫy gọi hợp với tư duy dựa vào sức mình, đất nước mình, dân tộc mình mà đứng lên. Cuộc chuyển giao giữa Trần Lãm với Đinh Bộ Lĩnh kế tiếp là chuyển quân từ Bố Hải Khẩu về động Bông Lau (Gia Viễn) vừa là tầm nhìn chiến lược vừa là vận mệnh dân tộc. Và, vào thời điểm đó, hình như các sứ quân khác chưa hội đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” cho một ý tưởng đại sự mà bóng ma nghìn năm Bắc thuộc đang đè nặng thảng thốt lòng người. Họ đứng lên từ sự khủng hoảng, vở vụn chắp vá bởi một thời dài vừa giữ gìn văn hóa Việt vừa phải chấp nhận văn hóa Tàu. Tình trạg cát cứ như là tàn dư, như là hậu quả của nghìn năm Bắc thuộc.

            Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy là khác giống nhưng chung một giàn.

Sự thương khác giống chung giàn không thể bền vững bằng sự thương cùng giống chung giàn. Tình trạng các sứ quân, kể cả Trần Minh Công cũng vậy.

Diễm phúc mà cũng là vận mệnh, Trần Lãm nhìn ra Đinh Bộ Lĩnh như nhìn ra người mình, nhìn ra non sông đất nước mình. Đinh Bộ Lĩnh nhận được “vốn” từ tay chúa công, nhanh chóng kéo lực lượng về núi để tìm chỗ dựa. Bầu bạn, trai làng Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan tức thì hưởng ứng. Nguyễn Bặc tiên phong trong số đó.

Núi non Gia Viễn tuy đứt nối phía trước nhưng lại gắn bó với Nho Quan phía sau. Về địa dư tự nhiên, Nho Quan  là “chân sơn” của dãy núi đá Vạn Sơn được mệnh danh là “thạch thành” hùng vĩ. Vậy là Gia Viễn của Đinh Bộ Lĩnh có Nho Quan là có châu Ái, châu Hoan. Viết đến đây tôi nhớ lại cư dân Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan cuối năm 1954 hình như chưa phân ranh Việt Mường rõ rành như ngày nay. Vậy thì mười thế kỷ trước, dòng Lạc Việt tại vùng đất này còn vẹn. 11 Sứ quân kia khó có một hậu phương như thế.

Nghìn năm bị đô hộ, người Gia Viễn sớm nhận ra tâm địa TÀU. Hai mươi ba năm loạn “Thập Nhị Sứ Quân ( 945-967), Giao Chỉ bị xé thành mười hai mảnh. Ái Châu vẫn đứng ngoài sự biến. Bên trong Ái Châu là Hoan Châu. Thân phụ Đinh Bộ Lĩnh một thời làm quan ở đó. Vậy là hơn các sứ quân khác, Đinh Bộ Lĩnh sớm nhận ra địa thế, dân tình Hoan, Ái. Dựa vào Hoan, Ái để có sức mạnh mà khuất phục 11 Sứ quân kia chắc đã được Đinh Bộ Lĩnh với những người thân tín nhất nghĩ đến.

Là một dũng tướng tài ba mưu lược, đứng bên cạnh Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc hẵn đã nhìn ra thế sông, thế núi để tiến công hay phòng thủ khi sức ép từ bên ngoài càng thôi thúc thì sự co giản vào phía trong càng sớm xuất hiện. Tìm chốn an toàn trong tình thế đó là điều có thể đã diễn ra. Ái Châu với tầm nhìn hậu cứ của vị thủy tổ họ Nguyễn đã được tính đến thuở sinh thời. Hướng mở nước đồng hành với bảo tồn nòi giống gợi nên từ những bước đi ban đầu hẵn thế. Kéo Gia Viễn cố hương lật sang phía sau đèo Ngọc của dãi “thạch thành” để tính kế lâu dài xuất phát từ lẽ đó.  

Nguyễn Bặc với tình làng nghĩa xóm, với thể lực mạnh mẽ và với khí phách cương cường trở thành “con chim đầu đàn” đứng lên vì nghĩa cả. Cư dân Gia Viễn, Nho Quan theo ông nhất tề phò Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh thành Vạn Thắng Vương – Đinh Tiên Hoàng Đế. Nguyễn Bặc được ban phong tước Định Quốc Công Tể tướng đầu triều, Đinh Điền Ngoại giáp, Trịnh Tú Sứ quan, Lưu Cơ, Đô hộ phủ Sĩ sứ, Lê Hoàn, Thập đạo tướng quân quyền coi binh mã.

Anh Đinh Thiết Dũng là hậu duệ của Đinh Tiên Hoàng đế. Dạo đó có người còn cho tôi là “kẻ giữ mả vua”, gặp nhau tại Hà Nội rồi dắt nhau về Hoa Lư để  trao đổi sự biết của nhau chung quanh chuyện cờ lau. Mười bảy năm (951 - 968) với cuộc đấu tranh  xây dựng nền nhất thống giang sơn, họ Đinh, họ Nguyễn là những viên gạch đầu tiên trong sự nghiệp vinh quang và cao cả đó. Say sưa với công trạng và có lẽ cả với người đẹp Dương Vân Nga, Đinh Tiên Hoàng đưa con út Hạng Lang lên chân Thái tử. Đinh Liễn, con trai trưởng từng xông pha chiến trận thế tất phải bất bình mới sai người giết Hạng Lang. Tiếp đó Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết (979). Hành vi “ăn miếng trả miếng” này thể hiện Đỗ Thích phải là người của phe Dương Vân Nga. Lê Hoàn từ khi được giao binh mã có quyền ra vào cung cấm nên “lửa gần rơm” không thuộc phái “Trung thần bất sự nhị quân” đương nhiên là chổ dựa của Thái hậu Dương Vân Nga. Các vị khai quốc công thần trị tội Đỗ Thích, lập Đinh Tuệ lên nối ngôi, tưởng vậy là yên. Đinh ninh phò ấu chúa. “Không ăn được thì đạp đổ”. Dương Vân Nga về hùa với Lê Hoàn hất Đinh Tuệ ra khỏi ngai vua. Lịch sử ca ngợi đó là nghĩa cử cao đẹp vì sự nghiệp chống xâm lăng. Tôi nghĩ Trần Trọng Kim có lý khi hạ bút viết nên hai chữ “tư thông” giữa Lê Hoàn và Thái hậu Dương Vân Nga.

Không có sự tư thông này không thể có hành vi ngang nhiên giết vua của Đỗ Thích! “Sao rơi vào miệng” Đỗ Thích chẳng qua là chuyện chạy tội cho những thế lực đứng đằng sau Đỗ Thích đấy thôi.

Đi trên đất Gia Viễn, nghĩ về hậu vận của mỗi dòng họ, nghĩ về tính chân ngụy trong cuộc đời mới nghiệm ra tạo hóa là một quan tòa công minh và luật vay trả thì thời nào cũng vẫn thế. Không ai có thể biến ngụy thành chân lâu dài trước tạo hóa. Cái kim trong bọc rồi cũng lòi ra, huống chi chuyện động trời trong sinh hoạt xã hội.

Huyên thiên với nhau một lát, tôi nhắc anh Đinh Thiết Dũng xuống thị xã Ninh Bình (nay đã là thành phố) về Sở cất xe đạp rồi hai anh em thả bộ lang thang ra Non Nước, Khôi Hạc chơi.

Anh Dũng khẳng định như đinh đóng cột “làm gì còn Khôi Hạc” và nói tiếp:

“Khôi Hạc bị xóa trong phong trào toàn dân tập thể dục và cổ xúy tinh thần thể thao đồng thời khai thác vật liệu xây dựng. Núi Khôi Hạc bay theo tiếng mìn và khói bụi từ thời đó! Sân đá bóng Ninh Bình hả hê thế chỗ núi Khôi Hạc theo tinh thần “thể dục” của Nguyễn Công Hoan.

  Tôi kêu lên: Trời đất ơi! Ninh Bình vô vàn núi đá vôi sao lại nhè một thắng cảnh đã làm nên ‘tam đa” mà phá. “Mê chuyên gia ngoại mà”. Anh Dũng giải thích ngắn gọn.

Còn núi Cánh Diều – Ngọc Mỹ Nhân thì hai chân bị chặt đến quá đầu gối rồi. Ai bảo đã nằm ngửa lại đạp ra hướng bắc như thể đạp vào mặt láng giềng mà “đại thi hào” xứ Huế nhà ông đã viết “Bên ni biên giới là mình. Bên kia biên giới cũng tình quê hương”. Cũng tình quê hương thì người ta có quyền dọc ngang chỉ bảo, dọc ngang tung hoành. Chuyên gia của mối tình hữu nghị vĩ đại “núi liền núi, sông liền sông, chung một biển đông, chung tình hữu nghị” bày vẽ cho ta cả đó!

Cất xe và hành lý xong, hai anh em tôi lang thang ra ngả ba (giao điểm đường 1A với đường 10 đi Nam Định) ghé vào một quán nhỏ ven đường uống nước chè chén. Quán nhỏ che tạm bằng một tấm ny-lông, khách không đông nhưng có vẻ rôm rả vì đang bình phẩm cột ống khói bằng gạch đỏ cao ngông nghênh đứng bên phía đông ngả ba này. Loáng thoáng nghe câu được câu mất tôi tưởng họ đang xầm xì về một lò gạch nào đó nằm không đúng chỗ, hóa ra không phải.

Anh Dũng giải thích:

Họ đang nói về cái “ống khói nhà máy bụi”.

“Nhà máy bụi!” Tôi ngờ vực nhắc lại.

Anh Dũng nói liền:

Từ lúc có cái ống khỏi đó thị xã Ninh Bình mỗi ngày được hứng hàng trăm tấn bụi nên mới có tên gọi như thế! Chuyên gia mang “tình hữu nghị vĩ đại” từ “bên kia biên giới” sang giúp ta. Ông còn nhớ nhà máy phốt phát Lâm Thao không? Nơi ban phát ung thư từ đầu nguồn. Tâm địa ông anh của ta như vậy đó.

Thì ra là nhà máy nhiệt điện, công trình ra đời do Trung Quốc viện trợ không hoàn lại để giúp Việt Nam “hiện đại hóa”, “công nghiệp hóa” gấp rút bỏ qua thời kỳ quá độ mà tiến nhanh tiến mạnh đến đại đồng. Từ đó, người Ninh Bình quen gọi “nhà máy bụi”. Cũng có người lại gọi là “Lò khải hoàn hỏa táng than”. Vì nghe nói 2kg than được 0,5kw điện.

Bụi là tai họa tày đình đã đành. Điều mà người Ninh Bình và quan khách thập phương không chỉ tức mắt mà còn cảm thấy nhục là cái ống khói mang biểu tượng  dương vật kia lại đứng ngay vị trí mà mọi người đều nhận thấy là vùng nhạy cảm của Ngọc Mỹ Nhân.

“Yểm. Thâm Nho”! Người ta viện trợ. Người ta có quyền quyết định chỗ đứng của nó. Không bằng lòng thì khỏi nhận.

Ai đó trong quán nước phán cộc lốc một cặp từ đã thuộc về ngôn ngữ dân gian mà mọi người Việt ai cũng biết. Nhà máy bụi. Cái ống khói làm hình tượng linga ngất nghểu đứng giữa thành phố Ninh Bình. Càng trông càng thấy xót xa.

Ninh Bình mấy chục năm về trước không ngông nghênh như thế!

Đứng giữa ngả ba trung tâm thị xã Ninh Bình nhìn “nàng mỹ nữ” chân bị chặt đứt quá đầu gối, mái tóc thề thời trẻ không còn, bởi cần đá nung vôi, bộ ngực nỏn nà ngày trước đã trở thành đài quan sát của bộ đội thông tin lố nhố ăng ten mà khuôn mặt thanh tân thuở nào cũng đã biến dạng khi sống mũi không còn. “Quả hồng ngâm đưa cho vượn vọc” bất giác tôi nhớ lại một câu ngạn ngự dân gian. Thời Tây chiếm nước ta xấu gì thì xấu nhưng di sản văn hóa thiên tạo và nhân tạo rất được bảo tồn. Thời ta được Tàu bày phá mọi thứ nhanh như chớp. 

Thế đó! Tàu phá theo kiểu Tàu. Ta phá theo kiểu ta. Thắng cảnh trong tay người mù là vậy. “Tam sơn, tam Đa” Ninh Bình nổi tiếng một thời chỉ còn lại Dục Thúy Sơn. Ống khói cao vừa thải bụi vừa ngang nhiên giữa quê hương Trương Hán Siêu. Thật nhục!

Tạm biệt Ninh Bình. Tạm biệt Gia Viễn. Tạm biệt quê hương Vạn Thắng Vương - Đinh Tiên Hoàng và Định Quốc Công - Nguyễn Bặc. Trước khi lên tàu, tôi đặt một bàn tay từng làm kiệu thuở thiếu thời, lên vai anh Dũng để ngõ lời chào tạm biệt con người rất đỗi tự hào về Kinh đô Hoa Lư.

Hẹn gặp lại! 

Về Huế khoảng nửa tháng sau, tôi nhận được thư anh Đinh Thiết Dũng. Trong thư anh có chép tặng tôi bài thơ “Dục Thúy Sơn Khắc Thạch” của Thăng Phủ - Trương Hán Siêu, khắc trên đỉnh Non Nước. Nội dung như sau:

Sơn sắc chính y y,

Du nhân hồ bất quy.

Trung lưu quang tháp ảnh,

Thượng giới khải nham phi.

Phù thế như kim biệt,

Nhàn thân ngô tạc phi.

Ngũ hồ thiên địa khoát,

Hảo phóng điếu ngư ki.

                           Trương Hán Siêu

Tôi không biết chữ Hán, nên đã nhờ bác Nguyễn Nhuận Đức, nhà Nho xứ Huế giải nghĩa cho. Do Hán tự phiên âm ra quốc ngữ, thiếu bản bản gốc, bác Đức không nhận dạng được mặt chữ nguyên bản đành phải đoán đại khái. Vì vậy tôi chỉ hiểu lỏm bỏm nội dung rồi mượn luật thơ Đường chuyển thành bài thất ngôn bát cú cũng đại khái như sau:

Tạm dịch:

Lưu luyến nơi đây cảnh nước non

Người đi không lại, dấu xưa còn.

Giữa dòng bóng tháp lung linh chảy

Trên cõi Như Lai cửa động dồn.

Trần thế giá mà vứt bỏ đặng

Tấm thân chắc hẵn đỡ chui lòn.

Dạo chơi khắp lượt năm hồ rộng,

Tìm chốn ngồi câu cá tốt hơn.

                         Mai Khắc Ứng

Đã xa rồi cái thời năng nổ ấy, uể oải bước sang ngưỡng “bát tuần”, con lôi sang bên xứ lạnh này trốn nóng. Thời gian thừa, rỗi rải, tôi lang thang tìm một chổ ngồi câu bên bờ sông Saint - Laurent êm đềm với những cánh buồm trắng như bầy cò trên đồng lúa làng tôi ngày trước, để ôn lại chuyện đời, có lúc như còn văng vẳng mấy tiếng “Hẹn gặp lại” của người đã dẫn tôi đi thăm quê hương lớp trai làng thuở “Cờ Lau Tập Trận”, thăm nơi sinh thành Định Quốc Công. Gia Viễn xa vời phía bên kia đại dương như vẫn vang lên tiếng gọi.