Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Sự biến đổi ngôn ngữ trần thuật của Nguyễn Du khi miêu tả Thuý Kiều ở các không gian khác nhau

SỰ BIẾN ĐỔI TINH TẾ TRONG NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT

CỦA NGUYÊN DU KHI MIÊU TẢ THÚY KIỀU

Ở NHỮNG KHÔNG GIAN SỐNG KHÁC 

 

Ở Truyện Kiều, khi xây dựng những nhân vật phản diện mang tính chất đơn tính như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh, ngôn ngữ tác giả rất thống nhất trong việc bộc lộ bản chất nhân vật ở mọi không gian và thời gian hoạt động của nó. Nhưng với các nhân vật có tính chất đa diện như Thúy Kiều, Kim Trọng…, ngôn ngữ của tác giả lại luôn thay đổi. Sở dĩ có sự “không thống nhất” đó, bởi hoàn cảnh giao tiếp nào sẽ đòi hỏi thứ ngôn ngữ ấy.

Tìm hiểu về cách thể hiện ngôn ngữ của Nguyễn Du khi xây dựng nhân vật Thúy Kiều, ta thấy sự hoạt ngôn rất rõ nét. Nguyễn Du từng đãđề cao tài sắc vô giá của nàng, khi mà bản thân nàng đang biết quí nó. Nhưng khi nhân vật không còn có ý thức gìn giữ những giá trị tốt đẹp của mình, ông đã có cách nhìn về nhân vật khác đi, và như vậy, ngôn ngữ cũng bắt đầu thay đổi. Bởi lý do đó, nên chăng đặt nhân vật Thúy Kiều trong những không gian giao tiếp cụ thể để thấy được ý đồ sử dụng ngôn ngữ của tác giả khi xây dựng nhân vật này?

 

1. Không gian giang hồ

Có thể nói, đối với nhân vật Thúy Kiều, ngay từ khi nàng xuất hiện cho đến bên này ngưỡng cửa lầu xanh, Nguyễn Du đã rất công phu trong việc đề cao nàng. Dù trong mọi cảnh ngộ, ông luôn biết cách làm cho cái đẹp tỏa sáng, khi mà chủ thể của nó vẫn có ý thức gìn giữ! Nhưng từ thực tế diễn biến họat động của Thúy Kiều, khi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa lầu xanh, nàng đã không còn ý thức về nhân phẩm, bởi thế ngôn ngữ Nguyễn Du cũng bắt đầu khác đi. Mặc dù nàng đã bộc bạch nỗi niềm:

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

Giật mình, mình lại thương mình xót xa.

Khi sao phong gấm rủ là,

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

Mặt sao dày gió dạn sương,

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?

Mặc người mưa Sở, mây Tần

Những mình nào biết có xuân là gì? 

Nhưng nàng sao biện hộ nổi, bởi thực tế sự hành nghề của Kiều theo bản năng tự nhiên, thoải mái thả mình, thỏa mãn đến độ cao trào “Biết bao bướm (lả) ong (lơi) / Cuộc say (đầy tháng), trận cười (suốt đêm)”. Và cũng nhận thấy được khả năng Kiều trong việc chọn lựa “khách hàng” rất khôn ngoan, lọc lõi “Dập dìu lá gió cành chim / Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh” để thích ứng với “giá ngọc” của mình. Phải thừa nhận rằng, trong cuộc chơi này, từ cách “đưa”, cách “tìm”, ta thấy Kiều đã hành nghề rất chuyên nghiệp, đầy tính chủ động, dấu hiệu của một sự thỏa hiệp êm thấm. Ở lầu xanh, ranh giới giữa ý thức/ vô thức rất mong manh, cũng là nơi thử thách phẩm giá con người. Với cách thức sống như thế, Kiều chẳng thể đổ lỗi cho hoàn cảnh, khi mà chính nàng là chủ thể tung hứng cảm xúc xô bồ trong những cuộc chơi.

Trước việc Kiều không vượt qua ranh giới gìn giữ con người ý thức, Nguyễn Du đành phải nhìn nhận nàng ở mặt hiện thực của nó. Hình ảnh Kiều quấn quýt cùng Thúc Sinh giữa chốn lầu xanh được tác giả miêu tả bằng từ ngữ giàu sức gợi:

Hải đường mơn mởn cành tơ

Ngày xuân càng gió, càng mưa, càng nồng!

Nguyệt hoa, hoa nguyệt não nùng,

Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng!

Lạ gì thanh khí lẽ hằng

Một giây một buộc ai giằng cho ra?

Sớm đào, tối mận lân la,

Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng.

Miệt mài trong cuộc truy hoan,

Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình.

Cuộc chơi phóng túng của Kiều – thân phận gái lầu xanh, và Thúc Sinh –  khách làng chơi mới buổi đầu tìm đến đã được Nguyễn Du đã dùng một chuỗi ngôn ngữ giàu tính hình tượng. Nào là các cặp điệp từ ngày xuân –  đêm xuân, nguyệt hoa –  hoa nguyệt, càng gió –  càng mưa – càng nồng, càng quen thuộc nết –  càng dan díu tình, một giây –  một buộc, ai dễ cầm lòngai giằng cho ra; nào là cặp từ chỉ thời giansớm –  tối, trước – sau, nào là cặp từ chỉ tính chất trăng gió – đá vàng, nào là một loạt từ láy mơn mởn, não nùng, lân la, miệt mài. Chính sự liên hoàn về ngôn ngữ này đã tạo nên những nốt nhấn đặc biệt trong việc khắc họa các cuộc mây mưa lạc thú theo mức độ tăng tiến của Thúy Kiều và Thúc Sinh. Mới buổi đầu chập chững chốn lầu xanhcòn đang cảm giác Những nghe nói đã thẹn thùng, vậy nhưng khi vào cuộc, nàng đã nhanh chóng thành thạo trong việc sớm đưa, tối tìm. Như thế, việc Kiều tiếp Thúc Sinh – tư cách khách làng chơi đâu phải theo kiểu nạn nhân  đang trải qua bi kịch. Với lối sử dụng ngôn ngữ như thế, tác giả đã bộc lộ cách nhìn vô cùng thâm thúy trước dục vọng của nàng. Đẩy mức độ thụ hưởng lạc thú của Kiều ngày càng cao, hệ thống ngôn ngữ biểu đạt của Nguyễn Du đã căng lên đến mức tột cùng. Mở đầu cuộc chơi Hải đường mơn mởn cành tơ/ Ngày xuân càng gió, càng mưa, càng nồng; kết thúc bằng hình ảnh Miệt mài trong cuộc truy hoan/ Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình, rõ ràng khao khát về thân xác của Kiều rất mạnh mẽ chứ đâu phải gượng gạo hay bị thúc ép gì. Cách hành xử ấy của Kiều rõ ràng thuộc về yếu tố chủ quan chứ đâu phải do khách quan. Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Du đã sử dụng tình thái từ lạ gì trước những biểu hiện hành nghề của nàng giữa chốn thanh lâu. Lạ gì, chủ ý của tác giả trong việc dùng ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm làm ta thêm một lần nhìn lại Kiều ở góc nhìn  khách quan nhất. Xây dựng hình ảnh Kiều hành nghề ở chốn lầu xanh từ những bài học vỡ lòng bằng ngôn ngữ sống động, chẳng phải Nguyễn Du đã bộc lộ thái độ thiếu trân trọng đối với cách ứng xử của nàng hay sao? Liệu đây có phải đó là cách ông muốn bộc lộ quan điểm của mình khi xây dựng nhân vật này?

Biết thế, nhưng rồi ta cứ đôi chút phân vân. Tại sao song song với thứ ngôn ngữ mỉa mai, Nguyễn Du lại có vẻ vẫn như đề cao nàng bằng những lời ưu ái rất mực:

Rõ ràng trong ngọc, trắng ngà

Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên!

Bức tranh khỏa thân –  vẻ đẹp da thịt Kiều được Nguyễn Du lột tả bằng ngôn ngữ mê hoặc –  đỉnh điểm của cái đẹp. Tái hiện bức tranh hội tụ tất cả nét đẹp tự nhiên say đắm hồn người của Kiều như thế, kể ra cụ Nguyễn Du cũng rất công bằng, khách quan khi nhìn nhận về vẻ đep hình thức của nàng. Nhưng rồi, một câu hỏi đặt ra làm ta suy nghĩ: Ai là người được thưởng thức giá trị hình thể tuyệt mĩ của Kiều? Chẳng phải chỉ mình Thúc Sinh? Mà Thúc Sinh, ở thời điểm này đang là khách chơi chốn lầu xanhrất ngạo mạn, bất cần cốt để mua vui một cách trác táng hay sao (Về nhân vật Thúc Sinh trong “Truyện Kiều”, rút trong sách“Truyện Kiều”, chưa xong điều nghĩ…– Cùng tác giả, Nhà xuất bản Hội nhà Văn, năm 2016, trang 32)? Thì ra, từ cách tạo nên tình huống gặp gỡ Thúc Sinh, rồi để cái đẹp ấy – chỉ là vẻ đẹp hình thức bên ngoài – được nhìn qua lăng kính của chàng họ Thúc (Sinh càng tỏ nét càng khen), Nguyễn Du đang cố tình phát huy bút pháp miêu tả tối ưu của mình để chỉ ra cái đẹp ấy được sử dụng không ngoài mục đích lôi cuốn, thỏa mãn khách làng chơi. Ở chính thời điểm Kiều thể hiện thái độ sống hời hợt của mình, thì cái đáng giá nhất của nàng chỉ còn là sắc đẹp, vậy nhưng cũng là thứ để làm nền cho bức tranh thế giới thanh lâu nổi bật trong việc thu hút khách hàng. Vẻ đẹp cơ thể Kiều từ điểm nhìn Thúc Sinh, kèm theo cao trào của cung bậc cảm xúc Một dây, một buộc ai giằng cho ra, chẳng phải sự cộng hưởng ấy đã rõ lên mồn một bức chân dung Thúy Kiều hài hòa giữa chốn lầu xanh, nơi mà nàng đang thích ứng với nó hay sao? Không oan, nếu như ta nghĩ rằng, Kiều là hiện thân sự phóng túng trong đam mê lạc thú. Điều này cũng dễ dàng lí giải, bởi nếu là người sâu sắc thì trong hoàn cảnh của mình, những cuộc mây mưa chốn lầu xanh nàng chẳng tạo nên cảm giác thỏa mãn đến độ cùng cực ấy. Qua miêu tả bức tranh khỏa thân Thúy Kiều như thế, ta thấy Nguyễn Du thật biết cách cân bằng ngôn ngữ khi xây dựng nhân vật này.

Ở chốn lầu xanh lần thứ nhất, ngôn ngữ Nguyễn Du đã bóc trần mọi hành vi ứng xử của Kiều một cách trần trụi nhất. Liệu lần thứ hai, ngôn ngữ tác giả có chùng xuống hay không? Hiển nhiên, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ sống của nàng ra sao. Bị Bạc Bà, Bạc Hạnh lừa, nàng cay cú nên chẳng thể bình tâm nhìn lại:

Chém cha cái số hoa đào,

Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!

Nghĩ đời mà ngán cho đời,

Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!

Tiếc thay nước đã đánh phèn,

Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!

Hồng quân với khách hồng quần,

Đã xoay đến thế còn vần chưa tha.

Lỡ từ lạc bước, bước ra,

Cái thân liệu những từ nhà liệu đi.

Đầu xanh đã tội tình chi?

Má hồng đền quá nửa thì chưa thôi!

Biết thân chạy chẳng khỏi trời,

Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

Nguyễn Du đã xây dựng hình ảnh Thúy Kiều thực sự dày dạn trong thế giới giang hồ. Bằng dòng ngôn ngữ độc thoại, một nàng Kiều từng xuất hiện dưới ngòi bút Nguyễn Du Êm đềm trướng rủ màn che, e lệ nép vào dưới hoa ngày nào đã không còn nữa. Thay vào đó, giờ đây một nàng Kiều xuất hiện với ngôn ngữ tự xưng, nào là chém cha, ngán cho đời, liều mặt phấn…, nghe mà chua chát, từng trải, phong sương như gái giang hồ vậy. Kể ra thì cũng thương cho lời than thân trách phận của nàng trong lúc này. Tưởng thoát cảnh lầu xanh, ai ngờ Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi.  Vận mệnh một con người trong vòng luẩn quẩn gỡ >< buộc mà tác giả lại nhìn bằng cái nhìn hờ hững như chơi hay sao? Đã thế, giọng điệu câu thơ nghe cứ nhịp nhàng, nhẹ tênh, khiến ta không khỏi giật mình trước những dấu hiệu bất thường về ngôn ngữ. Thúy Kiều đang lâm vào cảnh ngộ cùng cực bế tắc, nỡ nào nhà thơ để nàng nhẹ lòng đến vậy? Phải chăng ngôn ngữ Nguyễn Du đã biến đổi khi tái hiện một nàng Kiều đã hoàn toàn buông xuôi, mặc cho dòng đời xô đẩy? Để diễn tả thái độ sống phó mặc hoàn cảnh của Kiều, bên cạnh thứ ngôn ngữ bế tắc, chát chúa, buông xuôi, tác giả đã dành cho nàng thứ ngôn ngữ không kém phần tự cao, tự đại (Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!). Một nàng Kiều từ khi mới bài học vỡ lòng đã sống theo kiểubướm (lả), ong (lơi), thì giờ đây chấp nhận (liều)mặt phấn như thế cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên. Phải chăng đó là biểu hiện sự “tiến triển” về cấp độ phóng túng của nàng nơi lầu xanh? Thế mới biết cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du dành cho Kiều nơi thế giới thanh lâu không có chút thiện cảm nào. Tại sao Thúy Kiều lại phải tiếp tục vào chốn lầu xanh? Nói đi thì cũng phải nói lại cho hợp tình, hợp lí. Có lẽ chính Nguyễn Du cũng lấy làm tiếc cho nàng đã có cơ hội hoàn lương, nhưng nay phải tiếp tục sa vào vũng bùn nhơ nhớp. Quay lại dòng thời gian, nếu nàng bình tâm tu tịnh đúng nghĩa ở Quan Âm các thì sao hôm nay gánh thêm nghiệp chướng? Nếu nàng có cách sống tự chịu trách nhiệm trước bản thân mình về những điều đã gây nên thì phải lấy kinh nghiệm từ lần vào lầu xanh đầu tiên để sống theo chiều hướng không thỏa hiệp chứ sao giờ cứ liều mặt phấn?

Về đoạn thơ này, sư Thích Nhất Hạnh cho rằng đây là lời tác giả: Hai chữ “chém cha” là một lời chửi. Chửi bằng thơ. Rất mạnh. Cụ Nguyễn Du chửi, tại cái đau xót không diễn tả được nữa. Chém không phải là chém ai. Giận không phải giận ai. Chỉ phẫn nộ, giận cho cái số phận mình, cái số hoa đào (“Truyện Kiều”, khảo – chú – bình, TS Phan Tử Phùng chủ biên, Nhà xuất bản Lao động, năm 2015, trang 609). Nếu là lời tác giả, hẳn không có câu thơ ngạo mạn Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!, khi mà cái tài của Kiều đã không được Nguyễn Du đề cao. Bởitài mà không biết ứng dụng vào cuộc sống để đưa lại điều tốt đẹp thì cái tài đó cũng trở nên vô dụng. Chắc cụ Nguyễn Du đã rất đau đớn khi viết những câu thơ đả kích Có Tài mà cậy chi Tài?/ Chữ Tài liền với chữ Tai một vần? Nguyễn Du không hạ thấp chữ Tài, thật ra cái Tài nhà thơ đề cập ở đây là cái Tài đang bị chính chủ thể sở hữu vô hiệu hóa. Không chỉ thế, có Tài mà không biết vận dụng vào cuộc sống thì còn gây nên tai họa (Chữ Tài, chữ Mệnh trong “Truyện Kiều”,rút trong sách“Truyện Kiều”, chưa xong điều nghĩ…– Cùng tác giả, Nhà xuất bản Hội nhà Văn, năm 2016, trang 175). Và nếu là lời tác giả, chắc ông sẽ không để cho Kiều Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh, bởi Nguyễn Du đã bộc lộ một triết lí sống rất rõ ràng: con người muốn tồn tại, muốn khẳng định mình cần phải có khả năng ứng xử thích hợp (Triết lí sống trong “Truyện Kiều”, rút trong sách“Truyện Kiều”, chưa xong điều nghĩ…– Cùng tác giả, Nhà xuất bản Hội nhà Văn, năm 2016, trang 267). Xây dựng dòng độc thoại nội tâm như thế, Nguyễn Du giúp người đọc nhận thức quan điểm sống Thúy Kiều – một cách sống buông trôi, luôn đổ lỗi cho hoàn cảnh khách quan. Qua hai lần bước vào lầu xanh, xét từng hành vi ứng xử của Kiều, Nguyễn Du đã dùng thứ ngôn ngữ giàu sức gợi nhằm tái hiện bản chất nhân vật một cách mỉa mai nhất.

Điểm lại, ta thấy dù bất cứ hoàn cảnh nào Nguyễn Du cũng đã rất thống nhất trong việc sử dụng ngôn ngữ biến đổi phù hợp với mọi thời điểm hoạt động của Thúy Kiều. Càng theo dõi câu chuyện lưu lạc của Kiều trong thế giới giang hồ, khi tận đáy khổ đau hay lúc giàu sang danh giá, ta càng thấy cách ứng xử của nàng đã không còn dính dáng chút truyền thống dòng nho gia. Điều này được kiểm chứng thêm trong màn báo ân, báo oán do nàng sắp đặt.

Lẽ thường, khi báo ân, chủ thể chịu ân nghĩa biết cách tạo nên một không gian vui vẻ, thoải mái cho cả đôi bên. Vậy nhưng đối với Kiều thì nàng đã không có cách cư xử như thế. Với trình tự kế hoạch “Báo ân rồi sẽ trả thù”, cũng là cơ hội cho Kiều bộc lộ uy quyền của mình. Màn báo ân báo oán, hai việc hoàn toàn khác nhau nhưng (rất lạ?!) cùng chung trong không gian đằng đằng sát khí:

Đạo trời, báo phục chỉn ghê,

Khéo thay một mẻ tóm về đầy nơi,

Quân trung gươm lớn giáo dài,

Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi.

Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,

Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân.

Trướng hùm mở giữa trung quân,

Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi.

Tiên nghiêm, trống chửa dứt hồi,

Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên.

Việc báo ân của Kiều, về bản chất của nó là đền ơn đáp nghĩa những người đã giúp đỡ nàng trong quá khứ lưu lạc khổ đau. Vậy sao ngôn ngữ tác giả lại diễn tả một cảnh tượng kinh hãi đến thế? Ta bỗng chột dạ, tại sao Nguyễn Du đang cố tình xây dựng tình huống truyện bằng thứ ngôn ngữ bất thường không phân biệt ranh giới báo ân/ báo oán? Uy quyền nàng thể hiện ở chỗ mà đáng ra không nên có. Ấy là, mới đầu, Kiều Lại sai lệnh tiễn truyền qua/ Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên/ Mụ quản gia, vãi Giác Duyên/ Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời, có vẻ như đối tượng báo ân rất được tôn trọng. Những tưởng Kiều xử sự theo chiều hướng cung kính trước ân nhân, nhưng trái lại, cách tiếp đón của nàng hoàn toàn bất cập. Tại sao đối tượng được báo ân cũng nằm trong một mẻ, cũng theo kiểutóm về, cũng chực giữa không gian trướng hùm ghê rợn? Tác giả đã dùng chuỗi ngôn ngữ diễn đạt cách xử sự của Kiều với ân nhân theo kiểu bầy đàn như thế, xem ra không phù hợp trong môi trường giao tiếp của nàng với những người từng ân nghĩa. Phân tích chi tiết về sự kiện, mục đích, hành động của Kiều trong màn báo ân, ta nhận thấy tình thái từ khéo thay đã được cụ Nguyễn Du sử dụng thật đúng chỗ. Theo lối nói ngược đầy hàm ý, bề ngoài tưởng có vẻ như khen, nhưng ẩn chứa sâu xa trong lớp vỏ ngôn ngữ của ông là một thái độ chê trách về cách hành xử kém hiểu biết của Kiều. Vậy là, ngay điều tối thiểu nhất của con người trong giao tiếp Kiều cũng chẳng biết cách xử sự. Để minh chứng điều này, Nguyễn Du đã xây dựng những tình tiết bất ngờ trong màn báo ân với các đối tượng cụ thể. Trước tiên là việc Kiều báo ân Thúc Sinh:

Cho gươm mời đến Thúc lang

Mặt như chàm đổ, mình dường giẽ run.

Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non.

Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?

Sâm, Thương, chẳng vẹn chữ tòng,

Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?

Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,

Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là.

Vợ chàng quỷ quái, tinh ma,

Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau!

Kiến bò miệng chén chưa lâu,

Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa!”

Thúc Sinh trông mặt bấy giờ,

Mồ hôi chàng đã như mưa ướt đầm.

Lòng riêng mừng, sợ khôn cầm,

Sợ thay, mà lại mừng thầm cho ai.

 Cách hạ bút của cụ Nguyễn qua câu thơ Cho gươm mời đến Thúc lang hẳn làm bạn đọc không khỏi giật mình. Ta thử tưởng tượng về thái độ của Kiều đối với ân nhân trong giao tiếp bằng ngôn ngữ công cụ (gươm mời) –  thứ công cụ giết người chứ chẳng chơi! Chả thế mà người sắp sửa được báo ân đã rơi vào trạng thái tâm lí Mặt như chàm đổ, mình dường giẽ run. Kiều trả ơn Thúc Sinh Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân, về vật chất như thế xem ra cũng đã nhiều, nhưng điều đáng nói ở đây là kẻ được trả ân vừa nhận xong lễ vật lại thêm một phen hú vía. Trước lời đe dọa của Kiều đối với vợ chàng, hình ảnhThúc Sinh trông mặt bấy giờ/ Mồ hôi chàng đã như mưa ướt đầm trông mới thảm thương làm sao. Ở góc nhìn khách quan, Nguyễn Du cho ta thấy Thúc Sinh là kẻ chẳng ra gì (mừng/ sợ). Nhưng dẫu sao, đây là lúc Kiều trả ơn, mà sao lúc này, trước mặt Thúc Sinh nàng nỡ đe dọa Hoạn Thư, đẩy chàng lâm vào trong những tình thế hãi hùng đến vậy. Qua bức tranh ngôn ngữ miêu tả tâm lí theo chiều hướng tăng tiến (Mặt như chàm đổ, mình dường giẽ run àMồ hôi chàng đã như mưa ướt đầm), tác giả giúp ta hình dung về hình ảnh chàng Thúc – người được báo ân mà khác nào kẻ trọng tội trong giây phút chờ tòa tuyên án.

Không chỉ với Thúc Sinh, ngay cả với Mụ quản gia, vãi Giác Duyên, cách tiếp đón của Kiều cũng được Nguyễn Du diễn tả bằng thứ ngôn ngữ thật “đặc biệt”:

Mụ già, sư trưởng, thứ hai

Thoạt đưa đến trước, vội mời lên trên.

Dắt tay, mở mặt cho nhìn

Dù được Kiều vội mời lên trên, dù được Kiều báo đáp Nghìn vàng gọi chút lễ thường, nhưng qua hình ảnh mụ già, sư trưởng đang bị Dắt tay, mở mặt cho nhìn, rồi nửa phần khiếp sợ, ta thấy họ không khác gì đang bị cưỡng chế. Phải chăng với cách diễn đạt ngôn ngữ “khập khiễng” như thế, Nguyễn Du không ngoài mục đích nhấn mạnh sự hiểu biết kém cỏi của Kiều? Ta không thể phủ nhận việc Kiều có ý tốt trong việc báo ân, nhưng lại tiếc cho cách ứng xử của nàng đã đánh mất niềm vui của người được thụ hưởng ân nghĩa đó. Có phải Kiều kiêu hãnh với vị thế phu nhân của mình mà tạo nên khoảng cách không đáng có? Có lẽ nàng nghĩ, lấy vật chất đền đáp ân nghĩa là đủ rồi? Ta hãy suy ngẫm để so sánh: cùng không gian tự do yên bình, một nàng Kiều trong trướng rủ màn che từng e lệ, từng Sượng sùng giữ ý rụt rè… ; một nàng Kiều xuất hiện khi trả nghĩa đã cho gươm mời, bịt mắt cả ân nhân. Qua cách Nguyễn Du sử dụng ngôn ngữ như vậy khi kể chuyện Kiều giao tiếp nơi thế giới giang hồ, ta không thể hình dung nổi sự thay đổi choáng ngợp đến thế của nàng.

Từ ngôn ngữ thể hiện ở màn báo ân, có phải Nguyễn Du đang gợi mở về màn báo thù ghê rợn? Quả thế, tác giả đã không hề tiếc tay trong việc phóng bút để diễn tả tính chất cuộc báo oán của phu nhân bậc anh hùng hảo hán. Với ngôn ngữ biến hóa linh hoạt, Nguyễn Du đã tạo nên một nghịch lí về diễn biến câu chuyện Thúy Kiều. Một bậc mệnh phụ phu nhân, đường đường là con người xã hội, vậy nhưng ngoảnh lại quá khứ Chút còn ân oán đôi đàng chưa xong, chỉ vì tấc riêng của mình mà nàng đã nghiêm quân tuyển tướng như quốc sự. Một người đàn bà chưa từng biết đến đao búa, súng ống là gì, vậy mà để thỏa chí riêng tư, nàng đã nhập cuộc như một võ tướng điều khiển binh đao theo kiểu ân/ oán giang hồ rất chóng vánh, rạch ròi. Một người đàn bà từng Kệ kinh câu cũ thuộc lòng, vậy nhưng khi cần báo oán, cơn sân giận bốc lên ngùn ngụt, ráo riết chuẩn bị kĩ lưỡng cho một cuộc tàn sát chúng sinh không nương tay. Từ những nghịch lí ấy, Nguyễn Du như đang cố tình trưng “bằng chứng” về một kẻ từng dưới đáy xã hội, nhưng khi may mắn có uy quyền trong tay cũng sẵn sàng biến mình thành đao phủ tự lúc nào không biết. Từ chi tiết Từ Hải để Việc ấy phó cho mặc nàng, có nghĩa nàng có quyền độc lập trong mọi quyết định. Chỉ một mình nàng ra tay mà đã Máu rơi thịt nát tan tành/ Ai ai trông thấy hồn kinh phách tàn, cũng đủ thấy mức độ sát thủ của Kiều đã lên đến thượng đỉnh. Thế nhưng với Kiều, dù như thế, nàng cũng chỉ mới cảm thấy Bể oan dường đã (vơi vơi)cạnh lòng. Ngôn ngữ của Nguyễn Du đầy kịch tính qua phép tương phản thân bồ liễu ><  sấm sét ra tay. Thật đáng tiếc cho cái gọi là chút thân bồ liễu đã không dành cho mình chút từ bi, phúc đức! Từng dòng dõi nho gia, trải qua biến cố, giấy rách đã không giữ lấy lề, đến khi may mắn làm bậc vương giả thì nàng cũng không biết giữ thanh danh. Một chặng đường lưu lạc khá dài trong thế giới giang hồ, chông gai thử thách có, yên bình hạnh phúc có, nhưng với ý thức sống của Kiều, nàng đã tự đánh mất mình cùng những cơ hội đáng tiếc. Xây dựng tình huống Kiều đạt đến đỉnh cao danh vọng, rồi để nàng xử sự theo kiểu ích kỉ, nhỏ nhen, tầm thường, Nguyễn Du đã tạo nên một điểm rơi của Kiều mà cái giá phải trả bằng những gì nàng đã sinh ra. Bởi thế, để kết thúc mười lăm năm lưu lạc, tác giả đã cho lộ diện bản chất giang hồ của Kiều bằng ngôn ngữ giàu tính biểu tượng:

Mười lăm năm bấy nhiêu lần

Làm gương cho khách hồng quần thử soi!

 

2. Không gian tu hành

Ba lần Kiều bước vào cửa chùa, về mỗi thời điểm, tác giả sử dụng một sắc thái ngôn ngữ riêng. Ở không gian, thời gian nào, việc tu hành của Kiều cũng chỉ thể hiện đơn thuần về hình thức.

 Khi mới vào ở Quan Âm các, Nguyễn Du đã gợi mở về việc tu hành rất “nhấp nhổm” của nàng:

Nàng từ lánh gót vườn hoa,

Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.

Nhân duyên đâu lại còn mong,

Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thì thôi!

Phật tiền, thảm lấp, sầu vùi

Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương

Cho hay giọt nước cành dương

Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên

Với ngôn ngữ mang nghĩa hàm ẩn, ta nhận ra Nguyễn Du đang diễn tả cách sống tạm bợ của Kiều. Với nguyện vọng xin nhờ cửa không của Kiều, Hoạn Thư đã đáp ứng một không gian tu tịnh cho nàng thật phù hợp, vậy sao nàng chỉ coi đó là nơi lánh gót? Và chỉ coi Quan Âm các là nơi lánh gót thì làm sao nàng có thể định tâm tu tịnh được? Qua cách sử dụng từ dường lặp lại, tác giả đã tạo nên một cách hiểu lấp lửng về thái độ sống không có điểm xác định của Thúy Kiều. Từ dấu hiệu ngôn ngữ ấy, ta thấy Kiều đang phân vân giữa ranh giới Dường gần rừng tía/ Dường xa bụi hồng. Ở ngay chốn Phật đường mà lại Dường gần rừng tía, chẳng phải tác giả nghi ngờ khả năng tu luyện; Dường xa bụi hồng, chẳng phải tác giảnghi ngờ khả năng xa rời thế giới trần tục của Kiều hay sao? Màdường gần thật, bởi thời gian hoạt động của Kiều đang diễn ra theo chu kì Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương. Nhưng gần mà không thể tới được, bởi ngay nơiPhật tiền tĩnh tâm nhất mà Kiều luôn trong trạng thái thảm (lấp), sầu (vùi). Bể khổ của chính bản thân Kiều đang trìu níu, vì thế thảm, sầu chỉlấp, vùi theo kiểu “đào sâu chôn chặt” chứ đâu thoát ra khỏi tâm can nàng theo kiểu người tu hành được giác ngộ. Mà dường xa thật, bởi Kiều đã Áo xanh đổi lấy cà sa, trở thành người tu hành thực thụ. Nhưng xa mà không hề cách, bởi lòng Kiều đang canh cánh Nhân duyên đâu lại còn mong. Cái nhân duyên ấyđâu lại còn mong, có nghĩa là nàng đang luôn nghĩ đến đấy chứ. Vậy nên, với Kiều bây giờ, có lẽ nàng chỉ tiếc không còn cơ hội đến với bụi hồng. Qua từ lánh, dường, ta thấy ngôn ngữ Nguyễn Du thật chặt chẽ trong việc thể hiện trạng thái tâm lí của Kiều ở Quan Âm các. Cái cách xin nhờ cửa không của Kiều thực chất chỉ là một giải pháp để nàng thoát ra khỏi nhà Hoạn Thư chứ đâu phải nàng coi đó là nơi tu tâm để gột rửa nghiệp chướng. Bởi thế, Nguyễn Du đã nhìn nhận bản chất tu hành của Kiều bằng ngôn ngữ, giọng điệu tưng tửng:

Cho hay giọt nước cành dương

Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.

Vậy là, dù sống trong cửa chùa, phép mầu nhiệm của giọt nước cành dương cũng chẳng thể tưới tắt mọi đường trần duyên, khi mà lửa lòng Kiều đang cháy! Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên sẽ thuộc về ý thức sống của Kiều khi mà nàng có muốn dứt bỏ trần duyên hay không. Cho hay (giọt nước cành dương), biết thế – chẳng có gì ngạc nhiên, bởi khi Kiều chưa “ngộ” thì Trời, Phật cũng chẳng thể làm gì được. Từ khái quát đến cụ thể, ngôn ngữtác giả hé mở dần hoạt động của Kiều ở không gian Quan Âm các. Giờ đây, thời gianSân thu trăng đã vài phen đứng đầu sẽ là nhân chứng sống động thấu rõ nội tâm của Kiều:

Cửa thiền then nhặt lưới mau,

Nói lời trước mặt, rơi châu vắng người.

Gác kinh, viện sách, đôi nơi,

Trong gang tấc lại gấp mười quan san!

Những là ngậm thở, nuốt than

Xảy ra chuyện ở nhà họ Thúc, Kiều có nguyện vọngRắp đem mệnh bạc, xin nhờ cửa không, nhưng nàng chỉ lấy Quan Âm các làm nơi nấp bóng. Với ngôn ngữ, hình ảnh giàu cảm xúc, tác giả đã khơi dậy nỗi niềm thổn thức rơi châu vắng người, đến cảm giác Trong gang tấc lại gấp mười quan san của Kiều nơi cửa chùa. Yếu tố thời gian qua hình ảnh then nhặt lưới mau đã gợi lên cách sống của Kiều chỉ chờ qua ngày đoạn tháng chốn cửa thiền. Yếu tố cảm xúc, khi Kiều ngậm thở, nuốt than ngong ngóng nơi viện sách, đang nặng lòng với Thúc Sinh mà chưa thể nào có cơ hội. Trước những biểu hiện ấy, sao Kiều thoát ra khỏi sự giằng níu của bụi hồng được? Một tình huống truyện mở ra mang tính khẳng định điều bất ổn ngay trong nội tình của nó, khi mà cả Thúc Sinh và Kiều đồng thuận trong nhận thức Liệu bài mở cửa cho ra, Liệu mà cao chạy xa bay. Diễn tả thái độ sống của Kiều ở Quan Âm các, ngôn ngữ Nguyễn Du sử dụng ngày càng tiệm cận cốt lõi vấn đề: cửa Phật chỉ là nơi lánh gót của Kiều. Thử hỏi, có ngôn ngữ nào thích ứng hơn để diễn đạt trạng thái tâm lí của Thúy Kiều về ranh giới tu hành/ trần tục như thế?

Thêm một lần khẳng định bản chất trần tục của Kiều ở chốn tu hành, tác giả minh chứng về chữ sân còn đè nặng trong tâm hồn nàng. Ấy là khi nàng ứng xử không phải cách mà vẫn phán xét về người khác đầy hậm hực, oán hận:

Giận dầu ra dạ thế thường,

Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu.

Thân ta ta phải lo âu,

Miệng hùm nọc rắn ở đâu thế này!

Ví chăng chắp cánh cao bay,

Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa!

Cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại ở tình huống này thực sự có tính hiệu quả trong việc lột tả suy nghĩ của Kiều – kẻ luôn đổ lỗi cho ngoại cảnh. Trong vai tu hành, lộ diện hành vi dan díu với người tình, Kiều lấy tư cách gì mà phán xét Hoạn Thư? Giữa chốn Phật đường, thực tang hiển hiện, không tự suy xét bản thân, Kiều lại còn tưởng tượng ra Hoạn Thư là người tâm địa mưu mô bí hiểm.Với kiểu phỏng đoán cay độc, ác khẩu Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa, liệu có phải thứ ngôn ngữ của người tu hành thường dùng? Thúy Kiều không hiểu mình, hiểu người,“khôn lường hiểm sâu”, không thể đoán được mưu cơ của Hoạn Thư. Kiều đã  “sởn gai rụng rời”, coi nơi đây là “miệng hùm, nọc rắn”, mọi nguy cơ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Biết không thể đối phó được sự khôn ngoan, lọc lõi của Hoạn Thư, Kiều tính đến con đường thoát “Thân ta ta phải lo âu”. “Có tật giật mình”, nếu Kiều sống minh bạch thì đâu phải sợ sệt đến như thế! (Hoạn Thư, nết ăn ở và lí lẽ, rút trong sách“Truyện Kiều”, chưa xong điều nghĩ…– Cùng tác giả, Nhà xuất bản Hội nhà Văn, năm 2016, trang 53).Ngày ngày đọc kinh sách, nhưng Phật tính trong con người Kiều chưa thực sự thâm nhập, nên trước những vướng mắc nàng chỉ nhìn nhận ở mặt u tối của nó. Xây dựng dòng ngôn ngữ độc thoại nội tâm như thế, tác giả đã giúp ta nhận thức về Thúy Kiều, dù đang trong vai tu hành nhưng còn luẩn quẩn, bế tắc trong tâm hồn. Đối diện với Phật đường Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương, nhưng kinh kệ phỏng có ích gì với Kiều khi mà bản thân nàng chưa được giải thoát? Đẩy Kiều lên đỉnh điểm sự bế tắc, Nguyễn Du  đã đặt nàng vào một tình huống trớ trêu:

Nghĩ đi, nghĩ lại quanh co,

Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân.

Bên mình giắt để hộ thân.

Hành vi ứng xử của Kiều ở không gian tu hành được Nguyễn Du diễn tả bằng ngôn ngữ đậm màu sắc tâm lí. Kiều lấy cắp đồ thờ của nhà Hoạn Thư để hộ thân cho việc chắp cánh cao bay. Giá như đó là hành động bột phát tức thì trong cơn hoảng loạn không làm chủ được hành vi của mình thì lại là một lẽ. Đằng này, hành động của Kiều đựơc thực hiện bằng sự cân nhắc của lí trí hẳn hoi. Cách thể hiện ngôn ngữ qua cặp từ luyến láy Nghĩ đi, nghĩ lại trong sự giằng níu quanh co đã hoàn toàn nói lên sự can thiệp của con người ý thức. Qua việc sử dụng động từ, tính từ miêu tả, tác giả gợi cho người đọc hiểu cuộc vật lộn, đấu tranh về tư tưởng của Kiều trước khi hành động. Nghĩ được thế, vậy sao tay Kiều vẫn nhúng chàm? Phải chăng chỉ hướng tới tìm vành ấm no, vật chất được Kiều đặt trên cả danh dự, phẩm giá? Từ những tín hiệu ngôn ngữ diễn tả cách xử sự của Kiều ở Quan Âm các, Nguyễn Du cho ta thấy Kiều là một người không biết tôn trọng phẩm giá của chính mình.

Lần thứ hai bước vào không gian tu hành, câu chữ Nguyễn Du như soi rõ hành vi của nàng:

Giác Duyên sư trưởng lòng lành liền thương.

Gạn gùng ngành ngọn cho tường,

Lạ lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh.

Qua lớp ngôn ngữ, ta nhận thấy một sự mâu thuẫn trong giao tiếp của người đang khoác trên mình màu áo nâu sồng. Với Giác Duyên, sư trưởng lòng lành liền thương, bày tỏ sự gần gũi, nhân hậu, hiếu khách ở chốn cửa Phật. Cách giao tiếp của sư cũng rất đúng mực, đó là mong muốn tìm hiểu về Kiều cho tường. Với Kiều, mặc dù được tiếp đón chân thành như thế nhưng nàng cứ tìm đường nói quanh. Như thế, chẳng phải Kiều đang phụ lòng thương của Giác Duyên sư trưởng hay sao? Vì lẽ đó mà Nguyễn Du đã phải thốt lên: lạ lùng! Sử dụng tình thái từ lạ lùng, tác giả đã bày tỏ thái độ ngạc nhiên về cách ứng xử bất cập của Thúy Kiều. Kể cũng lạ, cái đơn giản nhất là sự thật thà, phẩm chất tối thiểu của người bước vào con đường tu hành mà giờ đây nàng cũng không hề có.

 Với hoàn cảnh của Kiều lúc này, nếu nàng thực lòng tu sửa bản thân thì Chiêu Ẩn am quả là nơi lí tưởng trong bước đường lưu lạc chông gai của nàng:

Muối dưa đắp đổi, tháng ngày thong dong.

Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,

Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.

Sớm khuya lá bối, phướn mây

Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương.

Dù có một không gian tu tịnh như thế, nhưng Kiều có thật định tâm con đường tu hay không? Ngôn ngữ của Nguyễn Du lại như soi thấu tâm can Kiều. Cái Kiều cần bây giờ là Gửi thân được chốn am mây, cần yên ổn phần xác (thân) chứ đâu phải phần hồn. Cũng như ở Quan Âm các, chùa Chiêu Ẩn chưa phải là nơi Kiều coi đó để tu hành. Dù Kiều như thế, nhưng cái nàng nhận được ở Chiêu Ẩn am là sư càng nể mặt – giá trị tinh thần vô giá. Và Kiều cũng tận dụng được giá trị đó, nên khi sư càng nể mặt thì nàng càng vững chân. Nhiều việc khuất tất diễn ra, Kiều đang nơm nớp lo sợ thì sự nể mặt của sư trưởng khác nào bình phong che chắn cho nàng lúc này. Dù tạm thời, Kiều cũng chỉ che được điều này nhưng không chắn được điều kia. Con người trần tục của Kiều đang lộ dần giữa nơi cửa Phật. Phật đường là nơi cần chữ thật, vậy thì sống giữa chùa, đường đường là người tu hành, Kiều có nên mặn phấn, tươi son hay không? Cũng chính từ điều này, Bạc Bà đã nhìn ra cách sống trần tục trong con người Kiều. Bởi thế, mụ đã lợi dụng nó cho việc kiếm ăn bất lương ngay ở cửa chùa. Điểm nữa về cách xử sự theo lối trần tục của Kiều ở Chiêu Ẩn am là chữ tòng.Việc hệ trọng như vậy nhưng Kiều lại đơn giản hóa đến mức Dù ai lòng có sở cầu/ Tâm mình xin quyết với nhau một lời/ Chứng minh có đất, có trời/ Bây giờ vượt biển, ra khơi quản gì. Mọi việc rõ rành rành như thế, không lấy cáithông tuệ khác thường mà giải quyết, lại còn đưa trời, đất ra để biện hộ cho cách xử sự nông cạn của mình. Ngôn ngữ của Nguyễn Du sâu sắc đến thế là cùng! Một chữ tâm đặt vào đúng hoàn cảnh đã có tác dụng rõ rệt trong việc làm nổi bật suy nghĩ hời hợt của Thúy Kiều khi định đoạt cuộc sống. Thế ra chữ tòng của Kiều bây giờ do Tâm quyết chứ không phải dựa theo hoàn cảnh mà tùy cơ ứng biến hay sao? Là người từng trải qua dâu bể cuộc đời trong sự lừa lọc, giờ đây, hơn ai hết, Kiều quá hiểu hành động Mụ càng xua đuổi cho liền/ Lấy lời hung hiểm ép duyên Châu Trần. Đã biết vậy mà sao lúc này nàng lại dễ dàng tin đến thế? Đặt mình lên bàn cân số mệnh một cách vô thức, chứng tỏ ngay chính bản thân mình, Kiều cũng không hề tôn trọng. Từ những dấu hiệu ngôn ngữ diễn tả cách sống của Kiều ở Chiêu Ẩn am theo trình tự gửi thân àmặn phấn tươi son àTâm mình xin quyết (chữ tòng) ta cũng đủ hiểu nàng không thể theo con đường tu hành.

Lần thứ ba, ở thảo am, con đường tu của Kiều mở ra khá thuận lợi về không gian và môi trường giao tiếp:

Một nhà chung chạ sớm trưa,

Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.

Bốn bề bát ngát xa trông,

Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.

Nạn xưa trút sạch làu làu,

Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này!

Nguyễn Du đã tạo nên bức tranh ngôn ngữ hài hòa giữa tả cảnh chan hòa của con người chốn tu hành và khung cảnh thiên nhiên gần gũi khoáng đãng. Dù thế, nhưng liệu nơi đây có níu giữ được bước chân tu của Thúy Kiều hay không? Bên cạnh một khung cảnh tu hành vẽ ra tuyệt vời như thế, tác giả đã gợi mở về dự cảm tương lai Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này của nàng. Ngôn ngữ đầy hoài nghi về sự an phận của Kiều, hay nói cách khác, nguy cơ nàng trở về trần tục rất gần. Một không gian tu hành giữa chốn trời mây xa lánh bụi hồng, một nhà sum họp hòa đồng vui vẻ, giờ đây Nạn xưa trút sạch làu làu, thử hỏi nơi nào có cơ hội cho Kiều gột rửa nghiệp chướng hơn thế? Và chính điều này cũng tạo nên sự tò mò cho người đọc khi nghĩ về bước đường tu của Kiều. Kể từ khi gặp gia đình nơi thảo am, diễn biến tâm lí của Kiều đã được Nguyễn Du xây dựng bằng chuỗi liên kết ngôn ngữ: Sự đời đã tắt lửa lòng/ Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi/ Dở dang, nào có hay gì/ Đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi! àGiã sư giã cảnh đều cùng bước ra àKhi chén rượu, khi cuộc cờ/ Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên. Trong khoảnh khắc thời gian, khi có ý định theo con đường tu hành thì ngôn ngữ giọng điệu của Kiều thật dồn dập, quả quyết, mạnh mẽ; khi bước ra thế giới trần tục, ngôn ngữ, giọng điệu nghe mà khoan thai, nhịp nhàng. Tác giả cũng thật “tai quái” trong cách diễn đạt, đó là đã dùng giọng điệu “tiền hậu bất nhất” không ngoài mục đích lột tả bản chất tu luyện của Kiều. Đó chẳng phải là diễn biến kết quả cái gọi là khoác áo cà sa của Thúy Kiều hay sao?

 Kể từ khi tình huống bi kịch xảy ra với gia đình Kiều, đôi khi ta cũng từng muốn biện hộ do hoàn cảnh khách quan đưa đẩy nên nàng lâm vào chỗ bế tắc không lối thoát. Nhưng giờ đây, trước quyết định của Kiều, ta thấy rằng chính bản thân nàng không có ý thức thoát ra hoàn cảnh khách quan, ngay cả khi nàng hoàn toàn chủ động, có quyền lựa chọn. Vì cha mẹ ư? Nàng đã bán mình mong đền đáp chữ hiếu, cũng vì thế mà cả một chặng đường lưu lạc mười lăm năm bi kịch, giờ là lúc cần phải trau tâm thì sao có tội được. Vì tình yêu ư? Một sự cậy nhờ, kể cả Thúy Vân cũng phải hy sinh, nếu Kiều trở về chẳng phải làm đảo lộn tất cả hay sao? Thực chất, Kiều không có ý thức tu để gột rửa nghiệp chướng. Nặng vì chút nghĩa xưa sau/ Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai, khác nào một sự khẳng định Kiều chỉ tu vì người khác. Như thế, chẳng phải Kiều là con người hời hợt, coi việc tu hành chỉ là trò đùa hay sao? Hóa ra Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này, ngôn ngữ Nguyễn Du đầy tính dự báo về khả năng hành đạo của Kiều. Và thực tế, điều này đã nằm trong tính logic, hệ thống ngôn ngữ của tác giả khi đặt nàng vào những không gian tu hành cụ thể.  

Như thế, với Kiều, dù là Quan Âm các, chùa Chiêu Ẩn hay thảo am, nơi nào cũng chỉ thấy sự giằng níu giữa lối sống tu hành/ trần tục của nàng. Ngôn ngữ diễn tả lối sống trần tục mà tác giả sử dụng trong không gian tu hành, đôi khi tưởng như mờ nhạt, như bâng quơ, như chìm lắng, nhưng lại có một sức mạnh lạ kì trong việc gọi đúng tên bản chất tu luyện của Thúy Kiều. Với tài năng nghệ thuật của mình, Nguyễn Du đã tập trung ngôn ngữ xây dựng những không gian tu hành lí tưởng để đưa nàng vào hoạt động như một tín đồ thực thụ. Nhưng tiếc thay, ở không gian tu hành nào, con người trần tục trong Kiều cũng luôn trỗi dậy, khiến nàng không sao tu trọn. Xây dựng kiểu ngôn ngữ như thế, chẳng phải là một cách khẳng định thái độ rõ ràng, thẳng thắn của Nguyễn Du khi nhìn nhận về bước đường tu hành của nhân vật Thúy Kiều hay sao?

Lần theo thước đo thời gian ba chặng đường bước vào cửa Phật của Kiều, ta nhận thấy ngôn ngữ tác giả thể hiện công bằng, khách quan, và cũng rất thích ứng trong việc thể hiện bản chất kiểu nhân vật tu hành khó lòng đắc đạo.

 

3. Không gian đoàn tụ

 

Như một ý đồ trong những trang sách Truyện Kiều, để diễn tả câu chuyện tái hợp Kim – Kiều ở không gian đoàn tụ, Nguyễn Du đã dùng thứ ngôn ngữ đầy tính hài hước. Tìm hiểu “con đường đi” ở màn đoàn viên Kim –  Kiều, ta hiểu vì sao Nguyễn Du lại “cư xử” với đôi tình nhân này như thế.

Diễn biến chuyện tình “hậu” Kim – Kiều được cụ Nguyễn Du mở đầu bằng một tình huống “đặc biệt”:

Tàng tàng chén cúc giở say,

Đứng lên Vân mới giãi bày một hai

Việc hệ trọng lại đem đặt vào bối cảnh tàng tàng, giở say, chẳng phải mất đi cái thiêng liêng của ngọn nguồn cảm xúc hay sao? Vậy nhưng câu chuyện “hậu” Kim – Kiều vẫn xảy ra bởi đây là cái cớ, cơ hội để Thúy Kiều loại Thúy Vân khỏi “cuộc chơi” đằng đẵng mười lăm năm chèo kéo. Xây dựng tình huống nửa say, nửa tỉnh rồi dẫn dắt đến kết thúc bất ngờ Động phòng dìu dặt chén mồi/ Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa, tác giả giúp ta liên tưởng về sự kiện cậy, lạy, thưa của Thúy Kiều trước Thúy Vân ngày nào. Kiều đã nhắc đến Một lời tuy có ước xưa/ Xét mình dãi gió dầm mưa đã nhiều/ Nói càng hổ thẹn trăm điều. Như thế là tuy có nghĩ đến việc nhờ cậy Thúy Vân, nhưng xét lại thì sự hổ thẹn trăm điều ấy lại  thuộc về lí do dãi gió dầm mưa đã nhiều của Kiều trong thế giới giang hồ. Từ cách thể hiện ngôn ngữ (tuy có àxét), cũng có nghĩa Kiều đã nghĩ đến Thúy Vân nhưng chỉ là một sự mờ nhạt, thấp thoáng. Như thế, sức cản việc đắn đo của Kiều khi quay lại với Kim Trọng rõ ràng không phải vì nàng bội ước với Thúy Vân. Điều này được thể hiện rõ hơn, khi mà Nguyễn Du đã dành những 101 câu cho cuộc hàn huyên ngày trở lại của Kim – Kiều (câu: 3080 à3126; 3145 à3186; 3193 à3196; 3207 à3214). Câu chuyện rộng rãi về thời gian như thế nhưng đâu có ai nhắc đến Thúy Vân. Từbắt đầu câu chuyện gia biến của gia đình, khi bán mình, Kiều đã nhờ cậy Thúy Vân kết duyên với người yêu trong bối cảnh không gian hết sức trang nghiêm “Cậy em, em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Vậy nhưng trong mọi hoàn cảnh, Kiều lại luôn chờ đợi cơ hội để nối duyên. Kiều đã không hề biết đến hổ thẹn là gì! Ở không gian đoàn tụ, qua cách ứng xử của Thúy Kiều,ẩn trong những dấu hiệu ngôn ngữ, ta nhận thấy tác giả đã bộc lộ một thái độ thiếu trân trọng đối với nàng. Thực chất, một nàng Kiều trong trang sách Nguyễn Du, dù đau khổ đến đâu cũng từng được tỏa sáng qua lớp ngôn ngữ ước lệ cao sang. Khi mụ mối lột trần Kiều một cách thô thiển (càng vén tóc, bắt tay) thì cái đẹp của Kiều vẫn được tác giả thể hiện bằng ngôn ngữ ước lệ cao sang: thềm hoa, lệ hoa, như cúc,như mai. Khi Kiều bị cân nhắc, cò kè đưa lên đặt xuống trong cuộc mua bán như một thứ đồ vật thì Nguyễn Du đã coi nàng quí như vàng. Khoảnh khắc đau đớn nhất là khi kí văn bản để nhận tiền, Kiều phải thực sự làm người họ Mã, thì giấy tờ ấy được Nguyễn Du gọi là tờ hoa, thứ tính bằng tiền tệ để mua Kiều là một giá trị –  vàng (cân vàng). Khi bước chân ra đi, xe chở nàng được tác giả gọi một cách trang trọng là kiệu hoa. Kiều bán mình, thân xác trở thành hàng hóa thì nàng vẫn được Nguyễn Du coi là hoa (Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn). Khi thành thân với Mã Giám sinh, tác giả vẫn coi trọng vẻ đẹp thiếu nữ của nàng (Tiếc thay một đóa trà mi). Tủi nhục trong tay Mã Giám sinh, Nguyễn Du đã thốt lên ngậm ngùi cho cái đẹp (Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương). Xe Mã Giám sinh đưa Kiều về đến trước cửa nhà chứa, xe ấy vẫn là xe châu (Xe châu dừng bánh cửa ngoài). Khi Kiều rút dao tự vẫn, cơ thể nàng vẫn được coi là ngọc, làhoa (Sợ gan nát ngọc, liều hoa). Tự vẫn không thành, trong mê man, sự bất tỉnh của nàng vẫn được coi là giấc tiên (Nàng thì bằn bặt giấc tiên). Thậm chí kể cả khi vừa bước vào trước ngưỡng nhà chứa làm gái thanh lâu, Nguyễn Du vẫn còn đầy trân trọng (Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người). Nhưng Kiều đã không có ý thức gìn giữ giá trị của mình thì tiếc thay, cũng không thể trách tác giả khi ông dùng ngôn ngữ hàm ý mỉa mai trước thái độ ứng xử của nàng. Tìm hiểu cách xây dựng nhân vật Thúy Kiều của Nguyễn Du, ta nhận thấy cách thay đổi ngôn ngữ đầy dụng ý trong nhìn nhận, đánh giá về nhân vật của ông. Quả không sai khi ta so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện. Tìm hiểu Kim Vân Kiều truyện, ta nhận thấy tác giả chỉ đơn thuần sử dụng ngôn ngữ kể chuyện, không có nhận xét, đánh giá nào về nhân vật. Nhưng đến Truyện Kiều, trước những biểu hiện cư xử của Thúy Kiều không hợp tình, hợp cảnh, Nguyễn Du đã sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu giàu sắc thái biểu cảm đối với nhân vật này. Với cách nhào nặn lại các chi tiết truyện so với nguyên bản và thêm yếu tố trữ tình ngoại đề như thế, nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều đã được Nguyễn Du “làm mới” cho ý đồ sáng tạo nghệ thuật của ông.

Thay đổi ngôn ngữ – thay đổi thái độ của Nguyễn Du đối với nhân vật Thúy Kiều là cả một vấn đề tư tưởng ông gửi vào trong tác phẩm Truyện Kiều. Có phải hoàn cảnh sống đã làm thay đổi mọi giá trị cuộc sống, hay bản thân con người thiếu ý thức sống đã tự đánh mất bản thân mình?