Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Phải chăng Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm 713?

VHNA: Giáo sư Phan Huy Lê là một trong những nhà sử học hàng đầu của nền sử  học Việt Nam hiện đại (sau 1945). Với nhiều công trình xuất sắc, ông đã góp phần tạo dựng lại chân dung lịch sử Việt Nam cổ trung đại. Ông còn là nhà giáo có nhiều công lớn đào tạo nên các thế hệ các nhà sử học Việt Nam đương đại. Giáo sư Phan Huy Lê đã có nhiều quan tâm đến lịch sử quê hương xứ Nghệ và có nhiều công trình nghiên cứu quan trọng ở/về khu vực này. Gần đây nhất, giáo sư Phan Huy Lê đã có nhận định mới về thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan chống lại nhà Đường hồi TK VIII  khác so với các bộ sử trước đây và đã có một số ý kiến trao đổi về nhận định mới này của ông.

Hướng đến và cỗ vũ cho một nền học thuật chân chính, trung thực, VHNA đã và tiếp tục sẵn sàng công bố các trao đổi học thuật nghiêm túc, cởi mở. Chúng tôi phản đối việc lợi dụng các diễn đàn khoa học để công kích cá nhân. Hy vọng sẽ nhận được sự đồng tình của các nhà khoa học và bạn đọc.

Chúng tôi đăng tải bài viết sau của tác giả Lê Mạnh Chiến với mục đích cùng nhau trao đổi và tiếp cận sự thật lịch sử.

Tác giả: Từ trước tới nay, các sách lịch sử ở nước ta đều ghi chép rằng, Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ  năm 722  và bị dập tắt trong năm ấy.

Gần đây, theo lời GS Phan Huy Lê, ông đã khai thác sử liệu trong cuốn An Nam chí lược của Lê Tắc, truyện Hương Lãm Hắc đế ký của Chư Cát thị trong Việt điện u linh của ta và Cựu Đường thư, Tân Đường thư kết hợp một số sách khác trong thư tịch cổ Trung Quốc, nên  ông đã khẳng  định rằng, cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan bùng nổ năm Quý  Sửu, năm đầu niên hiệu Khai Nguyên đời vua Đường Huyền Tông, tức năm 713. Từ đó, ông kết luận rằng, Mai Thúc Loan đã giành được độc lập cho đất nước trong  thời gian 10 năm, từ 713 đến  722.

Bài khảo cứu  này nhằm trao đổi về ý kiến nói trên của GS Phan Huy Lê.

I- Về năm nổ ra Khởi nghĩa Mai Thúc Loan, theo chính sử

 1. Khái niệm về “chính sử”

Chính sử là những bộ sách lịch sử biên niên (ghi chép các sự kiện theo trình tự thời gian, từng năm) được biên soạn rất cẩn thận, có giá trị cao, được chọn lọc nghiêm ngặt, có uy tín qua các thời đại nên được sử dụng làm cơ sở cho việc biên soạn các bộ sử khác đơn giản hơn hay hẹp hơn. Sự thừa nhận của xã hội là điều kiện bắt buộc, ví dụ, sách  về lịch sử thời Đông Hán có đến 7 bộ, nhưng chỉ duy nhất một bộ Hậu Hán thư của Phạm Diệp 范 曄 (398445) được đứng vào hàng chính sử.

Trung Quốc là nước có lịch sử lâu đời, sách lịch sử qua các triều đại nhiều đến hàng trăm bộ nhưng chỉ 24 bộ được đứng vào hàng chính sử (gọi là “nhị thập tứ sử”), cổ nhất là bộ Sử ký 史 記 của Tư Mã Thiên 司 馬 遷 (145/hoặc 135 tCN – 86 tCN), ghi chép lịch sử Trung  Quốc  từ cổ đại đến thời đại của ông (thuộc triều đại Tây Hán), cuối cùng là Minh sử 明 史 của Trương  Đình  Ngọc  張廷玉 (1672 – 1755) viết về triều đại nhà Minh (1368 – 1644). Năm 1919, Kha Thiệu Văn 柯 劭 忞 (1850 - 1933), một học giả nổi tiếng ở Trung Quốc biên soạn xong bộ Tân Nguyên sử 新元 史 nhằm bổ chính những thiếu sót của Nguyên sử 元 史, tuy được tổng thống Trung Hoa Dân quốc lúc bấy giờ  là Từ Thế  Xương phê chuẩn xếp vào hàng chính sử (trở thành bộ chính sử thứ 25) nhưng không được xã hội thừa nhận, cho nên, hiện nay Trung Quốc vẫn chỉ có 24 bộ chính sử.

Trong số các bộ chính sử của Trung Quốc, có những bộ thuộc loại “đoạn đại sử”斷 代 史(ghi chép lịch sử của một triều đại, ví dụ: Cựu Đường thư 舊唐書, Tân Đường thư 新唐書), cũng có những bộ thuộc loại thông sử 通 史 (ghi chép lịch sử xuyên suốt nhiều triều đại hoặc nhiều giai đoạn lịch sử, ví dụ: Sử ký).

Nếu không qua sự sàng lọc để chọn ra những bộ chính sử thì các nhà nghiên cứu sử học phải bơi lội trong một biển sách vở, khó tránh khỏi việc tin nhầm vào những sách không đáng tin cậy. Bởi vậy,  các bộ chính sử có giá trị hơn hẳn các bộ sách lịch sử khác, chúng là chỗ dựa tốt nhất cho nhà sử học, khó có thể dùng những sách vở khác để sửa đổi chính sử.

Ở nước ta từ trước đến nay có hai bộ chính sử, đó là Đại Việt sử ký toàn thư (của các sử quan triều Hậu Lê, hoàn thành và khắc in năm 1697, chép từ thời đại truyền thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê) và Khâm định Việt sử thông giám cương mục (của Quốc sử quán triều Nguyễn, hoàn thành năm 1859, ban hành năm 1884, ghi chép từ thời đại truyền thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm Kỷ Dậu 1789, khi Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc). Cả hai bộ sách ấy đều thuộc loại thông sử. Đó là hai bộ sách lịch sử có giá trị rất cao, rất đáng tin cậy, là chỗ dựa cho việc biên soạn các sách có liên quan đến lịch sử ở nước ta. Mọi ý đồ sửa đổi hai bộ sách này đòi hỏi phải hết sức thận trọng.

Hai bộ quốc sử của Việt Nam này đều thuộc thể biên niên, nghĩa là ghi chép các sự kiện lịch sử theo từng năm, từng tháng. Trong khi đó, 24 bộ chính sử của Trung Quốc đều được chép theo thể kỷ-truyện, nghĩa là gồm có phần Bản kỷ và phần Liệt truyện (cùng một số phần khác nữa). Trừ bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, chỉ riêng phần Bản ký ở  23 bộ sử còn lại (từ Hán thư còn gọi là Tiền Hán -thư của Ban Cố, chép sử từ năm 206 trCN đến năm 25CN) đều có giá trị của  sử biên niên.

 2. Về năm nổ ra Khởi nghĩa Mai Thúc Loan, theo chính sử Việt Nam

 a) Đại Việt sử ký toàn thư, phần Ngoại kỷ do Ngô Sĩ Liên biên soạn, được khắc in năm 1697, chỉ chép rất vắn tắt về Khởi nghĩa Mai Thúc Loan:

 “Năm Nhâm Tuất [722] (Đường Huyền Tông Long Cơ, Khai Nguyên năm thứ 10), tướng giặc là Mai Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng là Hắc Đế, bên ngoài liên kết với người Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn. Vua Đường sai Nội thị Tả giám môn Vệ tướng quân là Dương Tư Húc và Đô hộ là Nguyên Sở Khách đánh dẹp yên được” 

(Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của  Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993)

Bên cạnh Dương Tư Húc, kẻ chỉ huy cuộc đàn áp Khởi nghĩa Mai Thúc Loan, sử gia Ngô Sĩ Liên còn nhắc đến Sở Khách, kẻ giữ chức Đô hộ (tuy chép sai họ của y). Lời  văn như trên cho biết: cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan bùng nổ và thất bại trong năm Nhâm Tuất, Khai Nguyên thứ 10, tức là năm 722.

b) Khâm định Việt sử thông giám cương mục  chép về  khởi nghĩa Mai Thúc Loan như sau:

Năm Nhâm Tuất [722] (Đường Huyền Tông năm Khai Nguyên thứ 10).

Tháng 7, mùa thu. Ở Hoan Châu, Mai Thúc Loan giữ lấy châu, tự xưng đế. Nhà Đường sai bọn Nội thị Dương Tư Húc sang đánh, phá được.

Theo Đường thư, khoảng năm Khai Nguyên (713-741), An Nam có Mai Thúc Loan làm phản, tự xưng là Hắc Đế, chiêu tập quân 32 châu, ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp và Kim Lân, giữ vùng biển nam, quân số có đến 40 vạn. Tư Húc xin đi đánh, chiêu mộ 10 vạn quân, cùng với Quang Sở Khách tiến quân theo đường cũ của Mã Viện, nhân lúc bất ý sập đến đánh. Thúc Loan hoang mang nao núng, không kịp mưu tính cách đối phó, bị thua to. Tư Húc mới chôn những xác chết chung vào một nơi, đắp thành cái gò cao (kình quán) để ghi chiến công của mình rồi rút quân về.

 (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998).

 Bộ chính sử thứ hai này cũng viết giống như Đại Việt sử ký toàn thư, cả hai đều ghi chép một cách thống nhất: cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan bùng nổ năm Nhâm Tuất, Khai Nguyên thứ 10 (tức năm 722) và cũng thất bại trong năm ấy.

c) Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim là sách lịch sử giản lược, chưa phải là chính sử nhưng nó là quyển sách lịch sử rất có uy tín, số người đọc ngày càng nhiều và hiện nay vẫn được tái bản rất nhiều lần. Đây là quyển sách Lịch sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ, xuất bản lần đầu vào năm 1921. Về Khởi nghĩa Mai Thúc Loan, học giả họ Trần viết:

Năm Nhâm Tuất (722) là năm Khai Nguyên thứ 10 về đời vua Huyền Tông nhà Đường, ở Hoan Châu có một người tên là Mai Thúc Loan nổi lên chống cự với quân nhà Đường...

Vua nhà Đường sai quan nội thị là Dương Tư Húc đem quân sang cùng với quan Đô hộ là Quang Sở  Khách đi đánh Mai Hắc đế. Hắc đế thế yếu chống không nổi, phải  thua chạy, được ít lâu thì mất.

(Việt Nam sử lược, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2000)

Sách này chép về năm nổ ra Khởi nghĩa Mai Thúc Loan cũng giống như ở hai bộ chính sử kia.

Tất cả các sách về Lịch sử Việt Nam từ sau Việt Nam sử lược cho đến hiện nay, khi viết về Khởi nghĩa Mai Thúc Loan đều dựa theo các bộ sách vừa kể trên đây, đều ghi chép một cách thống nhất  rằng  Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm 722 và cũng bị dập tắt trong năm đó.

3. Về năm nổ ra Khởi nghĩa Mai Thúc Loan, theo chính sử Trung Quốc

Cả hai bộ chính sử của Trung Quốc về thời nhà Đường là Cựu Đường-thư (hoàn thành năm 954, thời  Hậu Tấn) và Tân Đường-thư (hoàn thành năm 1054, thời Tống) đều ghi chép rất vắn tắt về Khởi nghĩa Mai Thúc Loan.

a) Trong Cựu Đường - thư, tại quyển 8 (Bản kỷ 8, Huyền Tông thượng), có một câu kể về sự kiện trong năm Khai nguyên thứ 10 (722) là cuộc khởi nghĩa của  Mai Thúc Loan, nguyên văn chữ Hán như sau: 秋八月丙戌,岭南按察使裴伷先上言安南贼帅梅叔鸾等攻围州县, 遣骠骑将军兼内侍杨, 思勖讨之。

Phiên âm: Thu bát nguyệt Bính Tuất, Lĩnh Nam án sát sứ Bùi Trụ Tiên thướng ngôn An Nam tặc súy Mai Thúc Loan đẳng công vi châu huyện, khiển phiêu kỵ tướng quân kiêm nội thị Dương Tư Húc thảo chi.

Nghĩa là: Ngày Bính Tuất tháng 8, mùa thu, Lĩnh Nam án sát sứ là Bùi Trụ Tiên báo lên cấp trên (rằng) tướng giặc An Nam là bọn Mai Thúc Loan vây đánh các châu huyện, (hoàng đế) sai Phiêu kỵ tướng quân kiêm Nội thị Dương Tư Húc đánh dẹp.

Thế là, Cựu Đường-thư cho biết rằng, Khởi  nghĩa Mai Thúc Loan  bùng nổ năm Khai Nguyên thứ 10, và tháng tám năm ấy, nhà Đường cử tướng Dương Tư  Húc đi đánh  dẹp.

b) Ở Tân Đường-thư, tại quyển 5 (Bản kỷ 5, Duệ Tông - Huyền Tông), chỗ nói về những sự kiện của năm Khai Nguyên thứ 10 (722) có câu: 七月丙戌,安南人梅叔鸾反,伏诛。(Phiên âm: Thất nguyệt, Bính Tuất, An Nam nhân Mai Thúc Loan phản, phục tru). Nghĩa là: Tháng 7, ngày Bính Tuất người An Nam là bọn Mai Thúc Loan phản loạn, giết chết.

Như vậy, Tân Đường-thư đã cho biết rằng, tháng bảy năm Bính Tuất, Khai Nguyên thứ 10, tức là năm 720, Mai Thúc Loan dấy quân khởi nghĩa và  bị đàn áp ngay trong năm ấy. Ở đây thì ghi là vào tháng bảy, còn  Cựu Đường-thư thì ghi là vào tháng tám. Đã có sự đính chính lại, vì Tân Đường-thư được viết muộn hơn Cựu Đường-thư một trăm năm.

Ngoài ra, trong các đoạn ghi chép về tên hoạn quan Dương Tư Húc ở phần Liệt truyện, cả Cựu Đường - thưTân Đường-thư đều có vài dòng về thành tích của y trong việc đàn áp cuộc Khởi nghĩa  Mai Thúc Loan. Nhờ đó mà Đại Việt sử ký toàn thưKhâm định Việt sử thông giám cương mục  có cơ sở để viết thêm vài chi tiết về cuộc khởi nghĩa này.

Nói tóm lại, hai bộ chính sử của Việt Nam và cả hai bộ chính sử của Trung Quốc về thời nhà Đường đều ghi chép một cách thống nhất: Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Nhâm Tuất, Khai Nguyên thứ 10, tức là năm 722.

II -  Ý kiến mới của GS Phan Huy Lê về năm bùng nổ Khởi nghĩa Mai Thúc Loan  

Tại Hội thảo “Mai Thúc Loan với Khởi nghĩa Hoan Châu” ở Nghệ An ngày 08/11/2008, GS   Phan Huy Lê đã trình bày “phát hiện mới” và khẳng định rằng, cuộc khởi nghĩa bùng nổ năm Khai Nguyên đầu, nhưng đến năm Khai Nguyên thứ 10 tức năm 722, quân nhà Đường mới tổ chức phản công chiếm lại An Nam.

Kết quả của Hội thảo này đã được GS Phan Huy Lê giới thiệu trong bài Khởi nghĩa Mai Thúc Loan - Những vấn đề cần xác minh, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 02/2009 và trong bản Tổng kết Hội thảo “Mai Thúc Loan với Khởi nghĩa Hoan Châu” do ông viết tại Hà Nội, đề ngày 01/3/ 2012 đã được gửi  đến nhiều  cơ quan.

Trong bài Khởi nghĩa Mai Thúc Loan..., ở phần 4 (Về năm khởi nghĩa), GS Phan Huy Lê viết:

Trước đây, các tác giả Việt Nam có lẽ chỉ tham khảo phần bản kỷ của Đường thư nên đều chép cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Khai Nguyên 10 tức năm 722. Nhưng nếu tra cứu kỹ thì Cựu Đường thư, phần liệt truyện, mục Hoạn quan có truyện Dương Tư Húc lại chép: “Dương Tư Húc vốn họ Tô người Thạch Thành thuộc La Châu, làm nội quan (hoạn quan)..., Khai Nguyên năm đầu, thủ lĩnh An Nam Mai Huyền Thành làm phản, tự xưng Hắc Đế, cùng nước Lâm Ấp, Chân Lạp thông mưu hãm An Nam phủ. Sai Tư Húc đem binh đánh dẹp. Tư Húc đến Lĩnh Biểu, chiêu mộ con em các thủ lĩnh được binh mã hơn 10 vạn, theo đường cũ của Phục Ba mà tiến đánh xuất kỳ bất ý. Huyền Thành nghe tin sợ hãi, không kịp đề ra mưu kế, nên bị quan quân bắt, chém tại trận, giết hết bọn chúng, chất thây làm kình quán rồi rút về”

Tân Đường thư, phần liệt truyện, truyện Dương Tư Húc cũng chép tương tự: “Dương Tư Húc người Thạch Thành thuộc La Châu, vốn họ Tô... Khai Nguyên năm đầu, thủ lĩnh người Man ở An Nam (An Nam Man cừ) là Mai Thúc Loan làm phản, xưng Hắc Đế, dấy dân chúng 32 châu, bên ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, chiếm giữ vùng Hải Nam, quân chúng có 40 vạn. Tư Húc xin cho chiêu mộ con em các thủ lĩnh được 10 vạn cùng An Nam đại đô hộ Quang Sở Khách theo đường cũ của Mã Viện, bất ngờ đánh, giặc sợ hãi, không kịp mưu tính, bị thua to, chất thây làm kình quán rồi rút về”

Phân tích các tư liệu trên có thể hiểu cuộc khởi nghĩa bùng nổ năm Khai Nguyên đầu, nhưng đến năm Khai Nguyên thứ 10 tức năm 722, quân nhà Đường mới tổ chức phản công chiếm lại An Nam.

 (Trích nguyên văn của GS Phan Huy Lê trong bài Khởi nghĩa Mai Thúc Loan -Những vấn đề cần xác minh)

Chỉ qua đoạn văn này thôi, chúng tôi đã thấy kết luận của GS  Phan Huy Lê trái ngược với  sự ghi chép trong chính sử Việt Nam và chính sử Trung Quốc. Đó là, tất cả những chỗ có bốn chữ Khai Nguyên năm đầu, trong nguyên văn bằng  chữ Hán đều là ba chữ “Khai Nguyên sơ”. Phải hiểu rằng, “Khai Nguyên sơ” có nghĩa là “những năm đầu niên hiệu Khai Nguyên” hoặc “thời  kỳ đầu của  niên hiệu Khai Nguyên”. Chữ “sơ” có nghĩa là “khoảng thời gian ban đầu” chứ không phải là “thời điểm bắt đầu”. Trong lịch sử Việt Nam, thời “Lê sơ” được tính từ khi Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (1428) đến khi chính quyền rơi vào tay họ Mạc (1527) chứ “Lê sơ” không phải là năm 1428 - năm đầu tiên của triều đại nhà Lê.

   III. GS Phan Huy Lê diễn giải về ba chữ  “Khai Nguyên sơ”

Theo chúng tôi, đáng lẽ ba chữ “Khai Nguyên sơ” phải dịch là “những năm đầu niên hiệu Khai Nguyên” thì ông đã dịch là “năm đầu niên hiệu Khai Nguyên” hoặc “Khai Nguyên năm thứ nhất”, tức là năm 713. Hình như cũng có một chút băn khoăn trước  khi dịch  như vậy, cho nên, cũng trong bài đã dẫn, ông viết: 

Chỉ còn một tiểu tiết về thời gian cần xác định rõ. Cách ghi chép niên đại trong sử cũ, thường dùng niên hiệu, có khi kết hợp cả năm can chi. Hầu hết thư tịch của Trung Quốc đều chép "Khai Nguyên sơ". Chữ "sơ" theo Từ hải, có 4 nghĩa : (1) khởi đầu, lần thứ nhất, (2) ban đầu, đương sơ, (3) thấp nhất như sơ cấp, (4) chỉ ngày đầu của tháng hay khởi đầu của 10 ngày (10 ngày là một tuần) như sơ nguyệt, sơ thập... Trong sử biên niên, khi mở đầu một năm theo niên hiệu, ví dụ niên hiệu Khai Nguyên năm thứ nhất thường viết là "Khai Nguyên nguyên niên", rồi năm thứ hai là "Khai Nguyên nhị niên"... Nhưng trong một đoạn văn khi viết "Khai Nguyên sơ" có nghĩa là đầu niên hiệu Khai Nguyên tức năm Khai Nguyên thứ nhất. Cũng có người hiểu "Khai Nguyên sơ" là những năm đầu niên hiệu Khai Nguyên (713-744), có thể những năm 713, 714, 715... Nhưng Hương Lãm Hắc đế ký của Việt điện u linh viết rõ Khai Nguyên năm thứ nhất kèm theo năm can chi là năm Quý Sửu tức năm 713. Như vậy có thể xác định niên hiệu "Khai Nguyên sơ" là năm Khai Nguyên thứ 1, ứng với năm can chi là năm Quý Sửu, tức năm 713. Đó là sự phù hợp và thống nhất giữa niên hiệu và can chi.

Trong 4 nghĩa của chữ “sơ” 初 mà từ điển Từ hải (ấn bản 1989) đã giải thích, GS Phan Huy Lê chú ý vào nghĩa (4). Đúng là phải như vậy. Nhưng, ông đã chép sai lời giải nghĩa của Từ hải, với nguyên văn lời viết của ông ta như sau: (4) chỉ ngày đầu của tháng hay khởi đầu của 10 ngày (10 ngày là một tuần) như sơ nguyệt, sơ thập... Thế là GS Phan Huy Lê đã hiểu sai rằng, “sơ” nghĩa là ngày đầu tháng (tức là ngày mồng 1) và các ngày 11, 21 trong tháng. Ở đây, Từ hải không nêu từ  sơ nguyệt (như GS Phan Huy Lê đã viết)  – nghĩa là trăng đầu tháng, mà nêu từ nguyệt sơ, nghĩa là những ngày đầu tháng.  Về điểm này, Từ hải (các ấn bản  1989, 1999) viết như sau: 

⑷ 夏历指每月开头的几天或开头十天. 如: 月初.初一, 初十 (hạ lịch chỉ mỗi nguyệt khai đầu đích kỷ thiên hoặc thập thiên, như: nguyệt sơ,  sơ nhất, sơ thập) Nghĩa là: lịch truyền thống của Trung Quốc chỉ vài ngày hoặc mười ngày đầu mỗi tháng, như: nguyệt sơ - những ngày đầu tháng, phần đầu tháng - từ mồng một đến mồng mười; sơ nhất – mồng một; sơ thập – mồng mười .

Cứ nhìn lên tờ lịch thì rõ, mười ngày đầu tháng âm lịch có tên là sơ nhất, sơ nhị, sơ tam...., sơ thập. Với nghĩa này, các từ điển Hán - Anh dịch  chữ  初 là in the early part. nghĩa là trong phần đầu (của một khoảng thời gian nhất định, trong thời đoạn 1/3 đầu tiên), nguyệt sơ nghĩa là những ngày đầu tháng (từ mồng mười trở về trước). Như vậy, Khai Nguyên sơ nghĩa là  những năm đầu niên hiệu Khai Nguyên, mà niên hiệu này kéo dài  từ năm 713 đến năm 742, cho nên, ngay cả năm 722 cũng vẫn là phần đầu của niên hiệu này, vẫn là Khai Nguyên sơ.

Dựa vào Hương Lãm Hắc đế ký để làm căn cứ cho cách dịch các chữ “Khai Nguyên sơ” theo ý riêng của mình là một sai lầm nghiêm trọng nữa của GS Phan Huy Lê. GS đã sử dụng việc ghi chép tên của năm Khai Nguyên thứ nhất (713) theo Can-Chi là năm Quý Sửu làm chỗ dựa để ông “yên tâm” dịch nhóm từ “Khai Nguyên sơ” thành “năm đầu niên hiệu Khai nguyên”:

...Nhưng, Hương Lãm Hắc đế ký của Việt điện u linh viết rõ Khai Nguyên năm thứ nhất kèm theo năm can chi là năm Quý Sửu tức năm 713. Như vậy có thể xác định niên hiệu "Khai Nguyên sơ" là năm Khai Nguyên thứ 1, ứng với năm can chi là năm Quý Sửu, tức năm 713. Đó là sự phù hợp và thống nhất giữa niên hiệu và can chi.

(Nguyên văn của GS Phan Huy Lê trong bài đã dẫn)

Việc Việt điện u linh ghi rõ cả niên hiệu là năm Khai Nguyên thứ nhất và cả năm theo Can Chi là năm Quý Sửu tức năm 713 (mà GS Phan Huy Lê cho là chứng cứ rất quan trọng!)  không hề có giá trị gì cả, bởi vì, khi đã biết năm Khai Nguyên thứ 10 là năm Nhâm Tuất thì nhanh ý một chút cũng tính nhẩm ra năm Khai Nguyên thứ nhất là năm Quý Sửu. Những người kể chuyện cổ tích hoặc viết các truyện thần linh thường hay gắn các sự việc trong câu chuyện với các nhân vật cụ thể, các địa danh cụ thể, các mốc  thời gian cụ thể, đó là việc mà họ thường làm, dễ như chơi. Cho nên, việc Chư Cát Thị viết thêm chữ Quý Sửu bên cạnh mấy chữ “năm đầu niên hiệu Khai Nguyên” thì cũng chẳng làm tăng độ tin cậy trong truyện của ông ấy.

Thêm một điều rất cần biết là, từ tháng 01 đến tháng 11 năm Quý Sửu (713) vẫn thuộc niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai; bắt đầu từ ngày 1 tháng  12 mới đổi sang niên hiệu Khai Nguyên. Chỉ cần xem Niên biểu Trung Quốc ở cuối từ điển Từ hải, hoặc tra mục từ Khai Nguyên (開元, 开元) trên Google thì sẽ thấy ngay chứ  không cần phải tra cứu trong Cựu Đường thư hay Tân Đường thư. Niên hiệu Khai Nguyên nguyên niên (năm thứ nhất) chỉ gồm có 1 tháng, là tháng 12 năm Quý Sửu. Hẳn là tác giả của Hương Lãm Hắc đế ký và GS Phan Huy Lê đều không biết điều này nên mới “quyết định” cho Mai Thúc Loan khởi nghĩa vào tháng tư năm Khai Nguyên thứ nhất. Hơn nữa, năm Quý Sửu ấy tương ứng với năm 713 nhưng không hoàn toàn trùng với năm 713. Sự thực thì, cũng như mọi tháng 12 âm lịch khác, tháng 12 năm Quý Sửu (tháng đầu tiên và cũng là tháng cuối cùng của năm Khai Nguyên thứ nhất) là đã sang năm dương lịch mới rồi, tức là trúng vào tháng giêng năm 714.

IV- Các sử gia tiền bối đều đọc kỹ Cựu Đường - thư và Tân Đường - thư

GS Phan Huy Lê đã “phát hiện” ra rằng, các nhà sử học tiền bối như cụ Ngô Sĩ Liên và các sử thần của Quốc sử quán  triều Nguyễn chỉ đọc phần Bản kỷ ở các  sách Cựu Đường - thư  và Tân Đường -thư  trong đó chép việc Mai Thúc Loan bị đánh dẹp vào năm Khai Nguyên thứ 10 (722), nhưng vì không đọc đoạn nói về Dương Tư Húc trong phần Liệt truyện nên họ đã nhầm lẫn về năm bùng nổ Khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Sự thực thì hoàn toàn ngược lại: Các sử gia tiền bối đã đọc kỹ Cựu Đường - thưTân Đường - thư.

Điều này rất dễ chứng minh:

a) Trong Cựu Đường - thư, tại quyển 8 (Bản kỷ 8, Huyền Tông thượng), chỉ có một câu gồm 40 chữ nói về một sự kiện trong năm Khai nguyên thứ 10 (722), nguyên văn bằng chữ Hán, như sau:         

秋八月丙戌,岭南按察使裴伷先上言安南贼帅梅叔鸾等攻围州县, 遣骠骑将军兼内侍杨, 思勖讨之。

Phiên âm: Thu bát nguyệt Bính Tuất, Lĩnh Nam án sát sứ Bùi Trụ Tiên thướng ngôn An Nam tặc suý Mai Thúc Loan đẳng công vi châu huyện, khiển phiêu kỵ tướng quân kiêm nội thị Dương Tư Húc thảo chi

Nghĩa là: Ngày Bính Tuất tháng 8, mùa thu, Lĩnh Nam án sát sứ là Bùi Trụ Tiên báo lên cấp trên (rằng) tướng giặc An Nam là bọn Mai Thúc Loan vây đánh các châu huyện, (hoàng đế) sai Phiêu kỵ tướng quân kiêm Nội thị Dương Tư Húc đánh dẹp.

Trong quyển 184 (Liệt truyện 134, Hoạn quan) ghi chép về 14 hoạn quan, có 493 chữ nói về Dương Tư Húc, trong đó có 97 chữ nói về việc y đánh dẹp cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, như sau:

 开元初,安南首领梅玄成叛,自称“黑帝”。与林邑、真腊国通谋,陷安南府。诏思勖将兵讨。思勖至岭表,鸠募首领子弟兵马十余万,取伏波故道以进,出其不意。玄成遽闻兵至,惶惑计无所出,竟为官军所擒,临阵斩之,尽诛其党与,积尸为京观而

Phiên âm: Khai Nguyên sơ, An Nam thủ lĩnh Mai Huyền Thành bạn, tự xưng "Hắc Đế". Dữ Lâm Ấp, Chân Lạp quốc thông mưu, hãm An Nam phủ. Chiếu Tư Húc tướng binh thảo chi. Tư Húc chí Lĩnh Biểu, cưu mộ thủ lĩnh tử đệ binh mã thập dư vạn, thủ Phục Ba cố đạo dĩ tiến, xuất kỳ bất ý. Huyền Thành cự văn binh chí, hoảng hoặc kế vô sở xuất, cánh vi quan quân sở cầm lâm trận trảm chi, tận tru kỳ đảng dữ, tích thi vi kinh quán nhi hoàn.

 Nghĩa là: Những năm đầu niên hiệu Khai Nguyên (713-741), thủ lĩnh An Nam là Mai Huyền Thành làm phản, thông mưu với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, đánh phá phủ thành An Nam. (Hoàng đế) sai Tư Húc đem quân dánh dẹp. Tư Húc đến Lĩnh Nam, chiêu mộ con em bọn thủ lĩnh ở đó, người và ngựa được hơn mười vạn, theo đường cũ của Mã Viện mà tiến đánh bất ngờ. Bọn Huyền Thành chợt nghe tin quân (của Tư Húc) đến, hoảng sợ không nghĩ được kế gì, liền bị quan quân bắt hoặc chém chết tại trận, giết hết phe đảng, dồn xác chết thành đống rồi rút quân về.

Đại Việt sử ký toàn thư, phần Ngoại  kỷ do Ngô Sĩ Liên biên soạn, viết về Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (đã kể ra ở phần I, xin nhắc lại ở đây), như sau:

Năm Nhâm Tuất [1722] (Đường Huyền Tông Long Cơ, Khai Nguyên năm thứ 10), tướng giặc là Mai Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng là Hắc Đế, bên ngoài liên kết với người Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn. Vua Đường sai Nội thị Tả giám môn Vệ tướng quân là Dương Tư Húc và Đô hộ là Nguyên Sở Khách đánh dẹp yên được.

 Nếu chỉ dựa vào phần Bản kỷ trong Cựu Đường thư thì không thể đủ ý để viết mấy câu này. Rõ ràng là cụ Ngô Sĩ Liên đã lấy cứ liệu ở quyển 8 (Bản kỷ 8, Huyền Tông thượng) của Cựu Đường thư để ghi thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, và dựa vào quyển 184 (Liệt truyện 134, Hoạn quan), lấy ý chính để viết lại sự kiện khởi nghĩa này cho gọn hơn. Chỉ ở quyển 184 (Liệt truyện 134, Hoạn quan) của Cựu Đường thư  mới nói  đến việc Mai Thúc Loan tự xưng  “Hắc Đế”, liên kết với  Lâm Ấp, Chân Lạp. Ở đây có nhắc đến  Sở Khách, tuy chép không đúng họ của tên giặc ấy nhưng điều này cũng chứng tỏ rằng, sử gia Ngô Sĩ Liên còn tham khảo sách khác nữa  ngoài Cựu Đường thư.

Những điều vừa kể chứng tỏ rằng, GS Phan Huy Lê chê trách cụ Ngô Sĩ Liên là không tra cứu sách Tàu cho đến nơi đến chốn như mình là hoàn toàn sai.

b) Ở Tân Đường-thư, tại quyển 5 (Bản kỷ 5, Duệ Tông - Huyền Tông), trong số 156 chữ nói về những sự kiện của năm Khai Nguyên thứ 10 (722) có câu: 七月丙戌,安南人梅叔鸾反,伏诛。 (Phiên âm: Thất nguyệt, Bính Tuất, An Nam nhân Mai Thúc Loan phản, phục tru). Nghĩa là: Tháng 7, ngày Bính Tuất người An Nam là bọn Mai Thúc Loan phản loạn, chém chết.

Tại quyển 207 (Liệt truyện 132, Hoạn giả thượng), có 400 chữ nói về Dương Tư Húc, trong đó có 84 chữ nói về việc y đánh bại cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan:

 开元初,安南蛮渠梅叔鸾叛,号黑帝,举三十二州之众,外结林邑、真腊、金邻等国,据海南,众号四十万。思勖请行,诏募首领子弟十万,与安南大都护光楚客繇马援故道出不意,贼驴眙不暇谋 遂大败,封尸为京观而还

 Phiên âm: Khai Nguyên sơ, An Nam man cừ Mai Thúc Loan bạn, hiệu Hắc Đế, cử tam thập nhị  châu chi chúng, ngoại kết Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân đẳng quốc, cứ Hải Nam, chúng hiệu tứ thập vạn. Tư Húc thỉnh hành, chiếu mộ thủ lĩnh tử đệ thập vạn dữ An Nam đại đô hộ Quang Sở Khách dao (=do) Mã Viện cố đạo xuất bất ý, tặc lư xí bất hạ mưu, toại đại bại, phong thi vi kinh quán nhi hoàn.

 Nghĩa là: Những năm đầu niên hiệu Khai Nguyên,  thủ lĩnh bọn man di là  Mai Thúc Loan ở An Nam nổi loạn, xưng là Hắc Đế, lôi kéo dân chúng  ở 32 châu, bên ngoài thì liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, giữ vùng Hải Nam, số quân đến 40 vạn. Dương Tư Húc xin đi đánh, chiêu mộ con em thủ lĩnh được 10 vạn quân, cùng với An Nam đại đô hộ là Quang Sở Khách theo đường cũ của Mã Viện mà tiến đánh bất ngờ, bọn giặc ngơ ngác không nghĩ được mưu kế gì, liền đại bại, (Tư Húc) chôn xác chết thành gò đống rồi rút quân về.

Về sự kiện này, Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết (đã nêu ở mục I, xin nhắc lại):

Năm Nhâm Tuất (722). (Đường Huyền tông, năm Khai Nguyên thứ 10). Tháng 7, mùa thu. Ở Hoan Châu, Mai Thúc Loan giữ lấy châu, tự xưng đế. Nhà Đường sai bọn nội thị Dương Tư Húc sang đánh, phá được

Theo Đường thư, khoảng năm Khai Nguyên (713-741), An Nam có Mai Thúc Loan làm phản, tự xưng là Hắc đế, chiêu tập quân 32 châu, ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp và Kim Lân, giữ vùng biển nam, quân số có đến 40 vạn. Tư Húc xin đi đánh, chiêu mộ 10 vạn quân, cùng với Quang Sở Khách tiến quân theo đường cũ của Mã Viện, nhân lúc bất ý, sập đến đánh. Thúc Loan hoang mang nao núng, không kịp mưu tính cách đối phó, bị thua to. Tư Húc mới chôn những xác chết chung vào một nơi, đắp thành cái gò cao (kình quán) để ghi chiến công của mình, rồi rút quân về”.

(Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch của Viện sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998).

Mấy câu in bằng nét đậm được viết dựa theo quyển 5 (Bản kỷ 5, Duệ Tông - Huyền Tông) của Tân Đường - thư. Những câu in bằng  chữ nét mảnh ở phía dưới là dựa theo quyển 207 (Liệt truyện 132, Hoạn giả thượng) cũng trong Tân Đường - thư. Nguyên văn chữ Hán trong Khâm định Việt sử thông  giám cương mục như sau:

唐开元,安南梅叔鸾叛,号黑帝,举三十二州之众,外结林邑、真腊、金邻等国,据海南,众号四十万。思勖请行,召募兵十万,与光楚客繇马援故道出不,叔鸾震駭不暇谋, 大败,封尸为京观而还. (74 chữ)

Phiên âm: Đường Khai Nguyên, An Nam Mai Thúc Loan bạn, xưng Hắc đế, cử tam thập nhi châu chi chúng, ngoại kết Lâm Ấp Chân Lạp Kim Lân đẳng quốc, cứ Hải Nam, chúng hiệu tứ thập vạn, Tư Húc  thỉnh hành, triệu mộ binh thập vạn dữ Quang Sở Khách dao Mã Viện cố đạo xuất bất ý Thúc Loan chấn hãi bất hạ mưu, đại bại, phong thi vi kình quán nhi hoàn.

Trong nguyên văn chữ Hán, đoạn này gồm 74 chữ, so với đoạn tương ứng trong Tân Đường thư thì ngắn hơn 10 chữ. Trong 74 chữ đó thì có 71 chữ trùng với Tân Đường - thư. Trong số 13 chữ bị “thiếu”. So với Tân Đường thư thì có 10 chữ bị bỏ, nhóm từ “Khai Nguyên sơ” thì  thay bằng “Đường Khai Nguyên”;  chữ xí 眙 (phải  có các bộ đại tự điển thì mới đọc được, có nghĩa là ngơ ngác) được thay bằng hai chữ “chấn hãi” 震駭 nghĩa là “giật mình hoảng hốt”. Có thể nói, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã tận dụng ngôn từ trong Liệt truyện 132, Hoạn giả thượng của Tân Đường  thư

Tất cả 13 chữ “thiếu” ấy được nêu rõ trong bảng dưới đây:

 

 

Tân Đường-thư viết:

Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết

Khai Nguyên sơ (những năm đầu niên hiệu Khai  nguyên)

Đường Khai Nguyên (Niên hiệu Khai Nguyên của nhà Đường), khác 1 chữ

An Nam man cừ Mai Thúc Loan            

An Nam Mai Thúc Loan (bỏ 2 chữ “man cừ”)

Chiếu mộ thủ lĩnh tử đệ thập vạn  (chiêu mộ mười vạn con em các thủ lĩnh)

Triệu mộ binh thập vạn (chiêu mộ ba vạn binh; giảm 3 chữ)

An Nam đại đô hộ Quang Sở Khách  (viết đầy đủ chức tước của  Quang Sở Khách)     

Quang  Sở Khách  (bỏ 5 chữ chỉ chức tước của Quang Sở Khách là “An Nam đại đô hộ”)       

tặc lư xí bất hạ mưu, toại đại bại      (bọn giặc ngu dốt không nghĩ được mưu kế gì, liền đại bại)         

Thúc Loan chấn hãi bất hạ mưu, đại bại (bỏ 2 chữ “tặc lư”, thay bằng “Thúc Loan”; thay chữ “xí” 眙 bằng hai chữ “chấn hãi” 震駭)

 Tất cả những chữ mà Khâm định Việt sử thông giám cương mục bỏ đi đều không làm thay đổi nghĩa của câu văn, mà chỉ thể hiện lập trường dân tộc của các sử quan, ví dụ bỏ các chữ “man cừ” (thủ lĩnh man rợ), bỏ cách xưng hô trịnh trọng đối với Quang Sở Khách; thay chữ “tặc lư” (bọn giặc ngu ngốc) bằng tên của người anh hùng chống giặc là Thúc Loan. 

V. Kết luận

Theo kết quả phân tích như đã trình bày ở trên, theo chúng tôi, chỉ vì hiểu sai nhóm từ “Khai Nguyên sơ” nghĩa là “Những năm đầu niên hiệu Khai Nguyên” thành ra “Khai Nguyên năm thứ nhất” nên GS Phan Huy Lê đã có nhận định mới nhưng không chính xác về thời điểm bùng nổ cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Việc ông khẳng định rằng, các sử thần của triều Lê và triều Nguyễn bị “nhầm lẫn” do không đọc “truyện Dương Tư Húc” trong phần Liệt truyện của Tân Đường-thư cũng không đúng. Chính các sử thần trong Quốc sử quán triều Nguyễn đã đọc rất kỹ đoạn văn nói về việc Dương Tư Húc đánh dẹp khởi nghĩa Mai Thúc Loan, thậm chí, họ đã sử dụng gần như y nguyên  lời văn trong Tân Đường - thư, chỉ vứt bỏ những từ ngữ miệt thị ngài anh hùng dân tộc của chúng ta và những chức tước của bọn tướng giặc mà thôi.