Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Văn hóa Nghệ An

Văn Như Cương và bạn bè

Thứ bảy, 20 Tháng 6 2020 05:17 Chuyên mục: Những góc nhìn Văn hoá

Nhà giáo Văn Như Cương (thứ hai từ phải sang) và bạn bè tại sân thơ Văn Miếu Tết 2014

Với mỗi con người, nhất là những người được xem là thành đạt ở một lĩnh vực nào đấy, bạn bè bao giờ cũng đóng vai trò rất quan trọng. Hai chữ “bạn bè” đối với Nhà giáo Văn Như Cương cũng cần được hiểu sống động và cụ thể trong các mối quan hệ với những người cùng quê, cùng thế hệ, cùng nghề nghiệp, cùng sở thích… và cùng có nhiều thời gian ở bên nhau.

Tôi hiểu, khi nói về cuộc đời và sự nghiệp của mỗi con người, không thể không nói tới quan hệ bạn bè của người đó. Với Nhà giáo Văn Như Cương, bạn bè có vai trò rất lớn trong cuộc đời ông. Là người con của Làng Quỳnh, ông có quan hệ rất rộng rãi và thân thiết với nhiều người. Điều này có được vì ông là người nhân ái, tốt bụng, có sức lan tỏa và thu hút. Trong khi đó, có nhiều người cho là may mắn, hạnh phúc khi được thường xuyên trò chuyện, giao tiếp với ông. Do vậy, bạn bè của thầy Cương rất nhiều và rất đa dạng. Mỗi một tuyến bạn bè đều có những đóng góp có ý nghĩa đối với đời sống tình cảm cũng như công việc của thầy Cương. Tìm hiểu về thầy, tôi thấy đây là vấn đề lớn, có giá trị và rất thú vị.

NHỮNG NGƯỜI BẠN CÙNG THẾ HỆ Ở LÀNG QUỲNH

Nhưng thật khó cho tác giả khi viết về những người bạn cùng thế hệ với Nhà giáo Văn Như Cương vì tác giả kém thầy Cương gần 20 tuổi. Tuy nhiên, trong hơn 30 năm quen biết, trò chuyện với thầy Cương, tác giả cũng hiểu được bạn bè đóng vai trò quan trọng như thế nào trong cuộc đời và sự nghiệp của ông. Lục tìm trong trí nhớ, lần giở các trang viết, bạn bè của Nhà giáo Văn Như Cương hiện ra đông đảo, phong phú, đa dạng, đa sắc thái…

Trước hết, ông Văn Như Cương cũng như tất cả mọi người, đều có những người bạn cùng lứa tuổi, cùng làng. Làng Quỳnh Đôi là một làng đặc biệt nên quan hệ bạn bè của những người cùng lứa cũng có cái gì đó rất đặc biệt. Một phần rất lớn những người sinh ra ở Làng Quỳnh đều ra đi và lập nghiệp ở những nơi khác. Theo thống kê sơ bộ, ngay tại Thủ đô Hà Nội vào thời điểm này, cũng có tới hàng ngàn người Quỳnh Đôi sinh sống và làm việc. Mở rộng ra địa bàn cả nước, con số đó lớn lắm. Những người làng Quỳnh cùng thế hệ (hơn kém nhau trong vòng 10 tuổi) thường biết nhau và nhớ nhau; song để trở thành bạn bè, họ phải có nhiều kỷ niệm, thường xuyên gặp gỡ nhau, có cái gì đấy chung. Để nói về những người bạn cùng làng, cùng thế hệ với Nhà giáo Văn Như Cương, tốt nhất là nói về những người có cái chung đó là yêu thích văn chương và làm thơ. Đây cũng chính là một trong những loại “đặc sản” của Làng Quỳnh.

Khi tuổi đã xế chiều, để ghi lại những kỷ niệm với bạn bè ở nơi mình đã sinh ra, lớn lên và tỏa đi khắp mọi miền đất nước, thầy Văn Như Cương và những người bạn cùng xóm của mình quyết định in chung một tập thơ có tên là “Xóm Điếm”. Vào năm 2012, khi tập thơ này ra mắt bạn đọc, nó đã khuấy đảo đời sống văn chương không chỉ ở Thủ đô Hà Nội, mà còn ở Nghệ An và nhiều nơi khác. Sở dĩ điều này xẩy ra vì những người góp mặt trong tập thơ đều là những người sinh ra và lớn lên trong một xóm của xã Quỳnh Đôi. Hơn nữa, ở một phương diện nào đấy, họ là những người nổi tiếng. Thêm vào đó, tập thơ cũng có những điều khá đặc biệt.

Trước hết, người ta tranh cãi về tên “Xóm Điếm” của tập thơ. Ngay từ khi biên tập, những người có trách nhiệm đã đề nghị lấy một cái tên khác cho tập thơ vì cái tên này gợi lên điều gì đó không tốt. Song, các tác giả, đặc biệt là thầy Văn Như Cương đã không đồng ý. Lý do đơn giản vì Xóm Điếm là nơi họ đã sinh ra và lớn lên. Ở xã Quỳnh Đôi có nhiều xóm với những cái tên Xóm Ao, Xóm Đình, Xóm Bà Cả, Xóm Chợ Nồi,… và Xóm Điếm. Xóm Điếm là địa danh từ xa xưa của một cái xóm nhỏ có điếm (lều, nhà nhỏ) canh để đề phòng những bất trắc xẩy ra. Cả năm nhà thơ đều sinh ra và lớn lên ở đây nên họ lấy tên xóm làm tên tập thơ thì đúng quá rồi! Và năm nhà thơ này là những người bạn cùng xóm của thầy Văn Như Cương. Đó là các nhà thơ Dương Huy, Hồ Phi Phục, Dương Danh Dũng, Lam Giang. Đừng quên, đây là những người cùng làng của Bà Chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương! Các nhà thơ đàn ông này sinh ra và lớn lên sau bà chúa thơ Nôm những 3 thế kỷ nhưng họ vẫn có một cái gì đây rất chung đầy chất Làng Quỳnh.

Ông Dương Danh Dũng sinh năm 1948, đã từng ở trong quân ngũ nhiều năm, tham gia chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Sau chiến tranh, ông là kỹ sư cầu đường. Ông đã từng giữ chức Tổng Giám đốc một đơn vị giao thông lừng danh - Cienco 4; nhưng thơ và truyền thống của làng, bạn cùng làng vẫn chiếm chỗ trang trọng nhất trong tâm hồn ông. Ông đã xuất bản 8 tập thơ, được 3 giải thưởng về thơ. Với những người làm thơ ở Làng Quỳnh, Bà Chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương luôn luôn vẫy gọi họ nghĩ, viết. Nhà thơ Dương Danh Dũng viết: “Vinh quy chỉ một tấm bia/Hồn thiêng nữ sỹ đã chia phương nào...”. Với nhiều người Làng Quỳnh, đây là câu thơ động đến tận ruột gan vì nhiều người trong số họ sống xa quê.

Những chàng trai xa quê, nhớ quê và không bao giờ quên những người con gái cùng làng. Ông Dương Danh Dũng cũng không phải là ngoại lệ nên ông viết: “Anh vẫn chưa về em đợi mãi/Đồng trơ gốc rạ nhện giăng sương”. Chỉ một câu thơ đơn giản như vậy thôi cũng đã thấy thần thái của Làng Quỳnh rồi.

Có một điều cũng hơi lạ là ngoài đời, chẳng thấy người đàn ông Dương Danh Dũng buồn bao giờ vì ông được xem là người thành đạt. Ông lại hào hoa, lãng tử, được bạn bè quý trọng, vậy việc gì phải buồn?!. Ấy thế nhưng trong thơ, lại thấy ông là người cả nghĩ, cả lo, nặng nợ với đời, với quê. Chiến tranh đã làm lính chiến luôn đau đáu nhớ quê nhà: “Cứ mỗi lúc vào sâu trận đánh - Lại mơ về mái lá vườn rau”. Cái hồn Làng Quỳnh theo ông, gắn với ông mật thiết để ông khi nào cũng nhớ, cũng nghĩ về quê nên viết được những câu thơ có sức lay động: “Lội qua ruộng lác, đồng năn/Gặp con bìm bịp đang nằm ngủ trưa”. Cái Làng Quỳnh nổi tiếng của ông, oai hùng là vậy nhưng ông vẫn nhìn ra nỗi vất vả vốn phổ biến ở các làng quê miền Trung, nhất là với những người cao tuổi: “Tóc xanh gửi hết cho đời/Bây giờ đầu bạc còn ngồi bán rau”. Chính cách nhìn nhận cuộc đời theo cách đầy cảm thông này mà ông Dương Danh Dũng là bạn bè thân thiết với thầy Văn Như Cương. Ở các ông, tình yêu làng quê vô cùng sâu sắc.

Cũng là người lính làm thơ, và cùng thế hệ, Nhà thơ Lam Giang (tên thật là Hồ Sỹ Thành, sinh năm 1946) cũng có tâm thế gần giống ông Dương Danh Dũng. Ông khôn nguôi nhớ về làng quê nên trong thơ ông hình bóng quê nhà hiện lên rất rõ. Nhà thơ Nguyễn Trong Tạo nói, Làng Quỳnh như có phép màu với Lam Giang, biến ông từ một người lính thành một nhà thơ. Quả là phải yêu Làng Quỳnh, hiểu Làng Quỳnh lắm mới viết được: “Với con đẹp nhất quê mình/Có hòn lèn Bảng, có hình hòn Nghiên/Đất văn hiến, mãi lưu truyền/Xuân Hương nữ sỹ tuổi tên lẫy lừng”.

Ở đây xin đưa lại ý kiến của bạn bè là nhà thơ, nhà phê bình văn học nói về Nhà thơ Lam Giang. Ông Hồ Sĩ Thành lấy tên dòng sông lớn nhất, nổi tiếng nhất ở Nghệ An làm bút danh. Chính cái bút danh này báo hiệu cho một chuyến đi xa hun hút của người thơ. Điều đó đã nghiệm đúng vào cuộc đời ông - người lính, nhà thơ Lam Giang. Người lính từ quê nhà hành quân dọc 10 năm tuổi trẻ qua chiến trận để đậu lại nơi “hòn ngọc Viễn Đông” sau ngày 30 tháng Tư đầy máu, nước mắt và nụ cười. Thơ của Lam Giang cũng xuất hiện trên báo chí trong cuộc hành quân đằng đẵng ấy. Thơ viết về lính, viết về mặt trận, viết về chiến thắng và thơ viết về quê. Giấc mơ quê luôn ẩn hiện trong tâm hồn người lính với ngày trở về ăm ắp niềm vui, nhưng với Lam Giang, anh đã phải xa quê biền biệt.

Thành phố Hồ Chí Minh đã thành quê thứ hai của anh. Xa ngái như vậy nên thỉnh thoảng anh mới có dịp về thăm quê cha đất tổ. Có lẽ nhờ thế mà anh viết được nhiều bài thơ khi trở lại quê nhà với cảm xúc dồn nén. Có lẽ tính anh không cầu kỳ kiểu cách nên thơ anh khá mộc mạc, dung dị. Một người lính từng trải nơi đạn lửa bỗng làm ta xúc động khi nép mình vào tuổi thơ xa lắc để xác tín mình là đứa con bé nhỏ của quê hương: “Em ơi, có một gã chăn bò rưng rưng mắt/Nơi góc làng tha thẩn chiều nay/Cả mùi hương đọng từ gan ruột/Đang lần theo dấu cỏ về đây…”.

Con người Lam Giang đúng như bài thơ anh đã viết tặng chính mình: “Đam mê nặng nợ giấy nghiên/Làm thơ làm lính đâu phiền lụy ai”. Vậy mà nhà thơ đã phiền lụy nỗi đau và thấy mình nặng nợ với cuộc đời này. Đó cũng là tấm lòng nhân văn của nhà thơ vậy (Nguyễn Trọng Tạo). Điều này đồng cảm với Nhà giáo Văn Như Cương nên khi các ông gặp nhau là hòa vào nhau. Các ông tìm thấy ở nhau sự đồng điệu, cái trục chính của cảm xúc vẫn là Làng Quỳnh.

Nhà thơ Dương Huy, tên thật là Phạm Huy Hương, sinh 1939. Ông là người viết báo, làm thơ chuyên nghiệp, đã từng là Quyền Chủ tịch Hội Văn nghệ Nghệ An -Tổng Biên tập Tạp chí Sông Lam. Ông viết nhiều, đã xuất bản 13 tác phẩm thơ thiếu nhi và châm biếm - 5 giải thưởng thơ. Đúng là với các nhà thơ của Xóm Điếm, Làng Quỳnh khi nào cũng xôn xao, trăn trở, in đậm trong thơ của họ.

Rất nhiều người yêu thơ của Nhà thơ Dương Huy. Trong đó tôi thấy tác giả Thùy Vinh có những bài viết rất tâm đắc về con người và thơ Dương Huy. Do vậy, xin phép Thùy Vinh, phần nói về Nhà thơ Dương Huy trong quyển sách này, xin lấy lại ý kiến của một số nhà thơ, nhà báo, nhà phê bình, trong đó chủ yếu là nhận xét, đánh giá của Thùy Vinh.

Đối với những người làm báo Nghệ An, Dương Huy là đồng nghiệp, là người cha, người chú; ông gần gũi, thiết thân. Ông không chỉ là nhà báo thế hệ đầu tiên của báo Nghệ An mà còn là một nhà thơ viết cho thiếu nhi nổi danh.

Dương Huy làm báo nhưng lại nặng nghiệp thơ. Ông làm thơ trào phúng châm chọc thói hư tật xấu. Ông làm thơ cho thiếu nhi. Và làm thơ trữ tình. Nhưng nhiều nhất là thơ trào phúng. Ông đã cho in hơn 1.000 bài thơ trào phúng trên báo và xuất bản thành sách. Thơ thiếu nhi của ông ngộ nghĩnh nhờ những quan sát bằng đôi mắt hóm hỉnh, trẻ thơ; và thường là để trả lời những câu hỏi làm khó cho người lớn. Ta thấy trong thơ ông một tâm hồn thật trẻ trung, hồn nhiên và yêu đời với những phát hiện nhiều khi bất ngờ và độc đáo.

Vậy mà, ông bắt đầu với thơ thiếu nhi muộn hơn cả so với những “mảng” đề tài, thể loại khác của mình. Dương Huy kể rằng, ông đã bắt đầu con đường văn chương của mình bằng…ca dao. Ấy là năm ông ở quê, làm Đoàn trong Văn phòng Ủy ban xã. 16 tuổi, Dương Huy đã sáng tác những bài ca dao cổ vũ phong trào sản xuất, động viên bà con trong hợp tác xã. Năm 1957, ông được đi dự Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ nhất. Đó cũng là lần một anh nhà quê nông dân chính gốc được gặp gỡ, ở cùng với những tên tuổi nổi tiếng như Nguyễn Khải, Chế Lan Viên…

Ông nói rằng, không phải ngẫu nhiên mà ông biết sáng tác. Dương Huy sinh ra trong gia đình mà cha là ông đồ chuyên đi dạy học và rất hay làm thơ. Mẹ là người phụ nữ chăm nghề canh cửi, không biết làm thơ nhưng lại thuộc rất nhiều thơ. Những điều này của Dương Huy gần như “trùng khít” với hoàn cảnh của Văn Như Cương. Vì vậy, hai ông thân nhau, tìm thấy ở nhau những giá trị quý giá là điều dễ hiểu. Một đặc điểm nữa khiến hai ông thân nhau là thầy Văn Như Cương cũng rất yêu trẻ con. Đây chính là tình yêu mặn nồng dành cho lứa tuổi học trò của một người suốt đời gắn bó với mái trường.

Ông Hồ Phi Phục là người đồng niên với thầy giáo Văn Như Cương, sinh 1937. Ông vốn cũng là một kỹ sư, nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp của Thủ đô Hà Nội. Sau đấy ông chuyển về quê công tác, là Bí thư Huyện ủy huyện Quỳnh Lưu, rồi làm Trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh Nghệ An. Ông được cho là một người chín chắn, thâm trầm, luôn luôn trăn trở trước những vấn đề của thời cuộc. Ông đã xuất bản 4 tập thơ và có giải thưởng thơ của Tuần báo Văn nghệ 1988-2000. Ngoài ra, ông viết văn xuôi và đã làm tuyển tập “Kỷ niệm văn chương”. Cũng như tất cả những người bạn cùng làng, dù đi đâu, làm gì thì Quỳnh Đôi vẫn canh cánh trong ông: “Bốn lũy tre làng/Đi biệt tăm/Mang theo khung cửi và chày giã lụa/Mang theo chữ Nho/Của thầy đồ của ngàn người đậu đạt”.

Hồ Phi Phục có một giọng thơ phảng phất triết học về Cái Đẹp. Một giọng thơ vừa xa xôi vừa gần gũi, mà khó nắm bắt. Mỗi lần đọc thơ ông là thêm một lần khám phá những vỉa tầng thoắt ẩn thoắt hiện, không hiểu là bóng hay là hình. Có khi hình hóa bóng. Có khi bóng hóa hình. Nó vừa là hoa. Nó lại cũng là hương. Và Cái Đẹp cũng là vậy hoặc gần như vậy.

Ở bài thơ nào cũng hiện lên bóng hình Cái Đẹp mà nhà thơ vừa run rẩy đón nhận, vừa hoảng hốt sợ đánh rơi. Nhưng Cái Đẹp với ông như là đã mất, và chỉ có ở tương lai hoặc trong quá khứ. Xuyên suốt thơ ông đồng vọng một chữ “hoài”. Đó là sự hoài vọng hay là nỗi hoài nghi cứ canh cánh bên lòng về Cái Đẹp.

Tất nhiên là Cái Đẹp không bao giờ biến mất hoàn toàn trong thiên nhiên, trong nghệ thuật và trong lòng người. Nhưng Cái Đẹp lý tưởng bao giờ cũng khó đạt tới, nó là trò chơi trốn tìm không bao giờ kết thúc. Hồ Phi Phục biết rõ điều đó, nhưng anh là một nhà thơ đau đáu tư duy triết học nên không ngại ngần mổ xẻ sự vật nhằm cứu rỗi chính mình. Anh tìm Cái Đẹp từ trong lũy tre làng đến ngọn sóng Bãi Ngang, từ hang động Phong Nha đến bạt ngàn rừng chết, từ người danh ca đến nhà họa sĩ, từ cậu bé săn hươu đến những nhà thơ, từ lòng hồ đến bầu trời sấm sét, từ ngày lại ngày đến thời gian vĩnh cửu… và trong cả những nhà triết học cổ kim. Nghĩa là ông đi tìm Cái Đẹp trong chính cuộc sống biến động quanh mình. Và ông đã nhận ra nhiều điều bình thường cao thượng:

Làm một hành trình đi tìm Cái Đẹp thật không đơn giản. Nhiều khi chỉ “Thấy một vòng đi ám ảnh bước chân về”, nhưng với Hồ Phi Phục, ông vẫn kiên trì trên con đường chinh phục chính mình dù chỉ phát hiện ra cái ổ mối chân đê hay những bài thơ sọt rác để reo vang hồi còi báo động trước con người.Thơ Hồ Phi Phục tạo được sự khác biệt, ám ảnh người đọc. Cũng như ngoài đời ông cũng có sự khác biệt mà ít ai ngờ tới. Ông lặng lẽ hướng tâm vào thơ, nhưng được mời vào Hội Nhà Văn Việt Nam trong khi có nhiều người đua chen thì ông lại cám ơn và từ chối. Điều này phản ánh đúng tình chất con người ông: Ông không chuộng hình thức, không chuộng danh. Có lẽ điều này ở Hồ Phi Phục khiến Nhà giáo Văn Như Cương thấy đồng cảm và nể trọng. Thầy Văn Như Cương cả một đời dạy học nhưng ông không có danh hiệu Nhà giáo Ưu tú, Nhà giáo Nhân dân. Điều đáng nói là chẳng bao giờ ông băn khoăn về điều này cả. Vì vậy, hai ông Hồ Phi Phục và Văn Như Cương có rất nhiều sự đồng cảm, đồng điệu nên họ là bạn bè của nhau thôi. Tôi thấy, dù công việc của hai ông không giống nhau (Hồ Phi Phục là người lãnh đạo, quản lý, chính khách) nhưng họ có rất nhiều thứ để trao đổi cùng nhau. Họ thường quan tâm tới nhau, hỏi han tình hình của nhau.

Nhà giáo Văn Như Cương là Tiến sỹ toán; dù ông làm thơ khá sớm và khá đều đặn nhưng ông không nghĩ tới chuyện in thơ. Tuy nhiên, khi bạn bè cùng làng rủ in chung thơ, ông đã đồng ý in thơ để góp mặt, để giao lưu với bạn cùng làng. Dịp tập thơ “Xóm Điếm” ra đời là dịp gặp bạn bè để ôn lại kỷ niệm. Tôi đã chứng kiến những người bạn cùng làng dành cho nhau tình cảm sâu đậm thế nào khi họ gặp nhau. Sự thật là khi còn nhỏ, ngày nào họ cũng gặp nhau, có bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Khi lớn lên, mỗi người đi một nơi, họ vẫn nhớ nhau, nghĩ về nhau, theo dõi công việc của nhau nhưng ít khi gặp gỡ. Bây giờ họ cùng nhau in chúng một tập thơ nên không thể không gặp nhau. Hơn nữa, bây giờ họ đều đã cao tuổi, không quá bận rộn với công việc nữa nên có thời gian dành cho nhau. Thơ thực sự chỉ là một cái cớ để họ cùng nhau ôn lại kỷ niệm mà thôi. Đặc biệt, với thầy Văn Như Cương, công việc chính là dạy học, ông xem thơ là nơi để thể hiện một chút cá tính của mình.

Trong những người gần gũi với thầy Văn Như Cương, Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo chịu khó đọc thơ nhất, hiểu sâu nhất. Vậy ở đây xin để anh Nguyễn Trọng Tạo nói về thơ của Nhà giáo Văn Như Cương.

Vốn là người hài hước nên ông viết: “Năm chục như ta cũng khối người/Hơn nhau chỉ mỗi bộ râu thôi…Thơ viết dăm bài vui với bạn/Sách in mươi cuốn góp cho đời”. Tuy vậy, cũng như các bạn cùng làng, dù ở đâu ông cũng đau đáu nhớ quê.  Những năm học tập, nghiên cứu tại Moskva, ông nhớ Làng Quỳnh da diết nên đã viết những câu thơ: “Bỗng như đâu đây hoa nhài thoang thoảng đưa hương/Chắc quê ta mùa này hoa nở trắng…Ôi quê hương, ta sẽ về/Vượt hố bom sâu, vượt cầu giặc phá”.

Nói là xóm thơ, bởi nơi đây có hàng trăm người làm thơ nối nhau từ đời này sang đời khác... Đó là lý do để nhóm tác giả tự hào chọn cho tập thơ của mình cái tên nghe khá lạ "Thơ xóm Điếm".

Đọc tập thơ của 5 tác giả cùng xóm không dễ nhận ra điểm mạnh và điểm yếu của mỗi người. Nhưng nhận ra sự khác biệt thì chả khó khăn gì. Có thể người này hẫng hụt sự bay bổng, người kia thiếu sự hàm súc; người này hơi lạnh, người kia lại quá nóng,v.v… thì cũng là một cơ hội để bổ sung cho nhau chăng? Thì cũng như tính khí người ta vậy, tính khí và văn hóa, cuộc sống và trải nghiệm, năng khiếu và tài hoa hẳn mỗi người mỗi khác, nhưng cái tình của người cùng xóm, lại là cái xóm giàu truyền thống văn chương, chữ nghĩa, thiết nghĩ chẳng phải so bì.

Như vậy là tôi đã mượn ý, mượn lời của nhiều nhà thơ, nhà phê bình nói về những người bạn cùng làng góp mặt trong cùng một tập thơ với Nhà giáo Văn Như Cương. Qua thơ của họ, chúng ta hiểu sâu thêm những người bạn cùng làng của thầy Cương và hiểu thêm đời sống tình cảm của thầy gắn với làng quê của mình. Những người bạn cùng làng, cùng làm thơ, cùng góp mặt trong một tập thơ đã khiến thầy Văn Như Cương cảm thấy mình gắn với quê hơn nữa. Các ông đã có một thời thơ ấu cùng nhau, khi lớn lên, mỗi người một ngả nhưng khi về già lại có điều kiện tề tựu. Đây là hạnh phúc của những người bạn cùng làng. Tôi hiểu điều này có ý nghĩa lớn với thầy Văn Như Cương - người luôn muốn hiểu rõ nhưng điều gì đang xẩy ra trong cuộc sống hôm nay.

Quan sát những người bạn cùng xóm, cùng góp mặt trong một tập thơ, tôi thấy họ đúng với câu nói của một danh nhân:“Chúng ta giống như những hòn đảo trên biển khơi, tách biệt trên bề mặt nhưng kết nối dưới tầng sâu”. Điều này đúng với hầu hết những người con của Làng Quỳnh tỏa đi muôn nơi sống, làm việc, xây dựng sự nghiệp nhưng họ luôn luôn hướng về mảnh đất Quỳnh Đôi.

NHỮNG NGƯỜI BẠN CÙNG LÀNG SỐNG Ở HÀ NỘI

Còn bây giờ tôi muốn nói đến những người bạn cùng làng của thầy Cương, họ không làm thơ nhưng họ sống ở Hà Nội, thường xuyên gặp gỡ, giao lưu với thầy Cương.

Ngoài những người bạn cùng xóm, cùng góp mặt trong tập thơ “Xóm Điếm”, ở Hà Nội, thầy Cương cũng có một số bạn bè người cùng làng nữa.Tôi cũng nhiều lần được tham gia những cuộc gặp gỡ với những người bạn cùng làng của thầy Cương ở Hà Nội. Mỗi người mỗi công việc, hoàn cảnh khác nhau nhưng họ có cái chung là Làng Quỳnh thân thuộc.

Người đầu tiên tôi muốn nói tới là ông Hồ Sỹ Hậu. Ông sinh năm 1946, là con trai nhà cách mạng nổi tiếng Hồ Viết Thắng. Bản thân ông Hồ Sỹ Hậu cũng là người rất nổi tiếng vì nhiều lý do. Thứ nhất, vào năm 1954, khi mới 8 tuổi, ông đã có mặt ở chiến khu Việt Bắc. Có một bức ảnh chụp Bác Hồ với một số lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước nhưng lại có một cậu bé lọt vào. Cậu bé đó chính là ông Hồ Sỹ Hậu. Nguyên chuyện này cũng đã khiến ông được nhiều người tìm đến hỏi chuyện. Thứ hai, khi lớn lên, vào bộ đội, ông có công trong việc thiết lập đường dây chuyển xăng dầu vào mặt trận phía Nam, vì thế ông được phong tướng. Thứ ba, ông còn viết văn và gây chú ý trong dư luận với tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa”. Thứ tư, ông là người rất nhiệt tình trong việc chắp nối các mối quan hệ đồng họ, đồng hương. Chính vì vậy, ông giao du thân tình với Nhà giáo Văn Như Cương và thường trao đổi những điều tâm huyết về làng quê, về thế sự. Ông Hồ Sỹ Hậu là một vị tướng, ông lại là người có tư tưởng cấp tiến và thẳng thắn trong nhận định về tình hình nên thông tin của ông rất thú vị. Mỗi lần hai ông gặp nhau, họ có rất nhiều điều để nói với nhau và dường như không muốn rời nhau.

Người thứ hai tôi muốn nhắc đến là ông Hồ Anh Dũng (sinh năm 1940) với tư cách là người bạn cùng làng tại Hà Nội của Nhà giáo Văn Như Cương. Ông Hồ Anh Dũng là 1 trong “100 hạt giống đỏ” đã được Đảng và Nhà nước ta gửi đi học ở Liên Xô từ những năm năm mươi của thế kỷ trước. Ông là con trai cả của ông Hồ Mỹ Xuyên, cháu đích tôn của ông Hồ Tùng Mậu, anh của ông Hồ Hải và Hồ Đức Việt. Có thể nói, ông Hồ Anh Dũng là con cháu của một gia đình đại cách mạng ở Làng Quỳnh, từ ông, đến bố, đến em đều là những người giữ những vị trí quan trọng trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Ông là một trong những người Việt Nam tốt nghiệp Khoa Ngữ Trường Đại học Tổng hợp Moskva mang tên Lomonosov rất sớm.  Ông đã làm tới chức Tổng Giám đốc Đài truyền hình Việt Nam nhưng ông có vẻ khiêm tốn và kín tiếng. Khi buộc phải nhận xét về công việc của mình khi lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam, ông chỉ nói ngắn gọn: “Khi mình làm Tổng Giám đốc, ít nhất là ở đó không xẩy ra những vụ việc rắc rối”.

Ông Hồ Anh Dũng là nhà báo, nhà văn. Sau khi nghỉ quản lý, ông viết khá đều đặn. Ông đã xuất bản các tác phẩm: “Nắng gió đời người” - Tiểu thuyết, Nxb Thanh Niên 2007; “Như là định mệnh” - Tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà Văn 2010; “Chuyện Làng Quỳnh” - Nxb Thanh Niên 2012; “Tha hương” - Tiểu thuyết, Nxb Văn học 2014; “Khoảnh khắc và cuộc đời - Nxb Thanh Niên 2017. Với vốn sống của một người xa nhà, xa quê, xã đất nước sớm; trở về đảm đương chức vụ quan trọng, những tác phẩm của ông Hồ Anh Dũng có giọng điệu riêng, giàu chất suy tư và tính nhân văn. Nhà giáo Văn Như Cương đánh giá cao những điều này, đồng thời ông thấy Hồ Anh Dũng gần gũi với mình không chỉ với tư cách là người bạn cùng làng.

Mỗi khi xuất bản được một quyển sách mới, ông muốn tìm tới bạn bè để chia sẻ, Nhà giáo Văn Như Cương là một trong những người ông tìm đến đầu tiên. Khi trang trại của thầy Cương ở Hòa Lạc còn hoạt động, họ thường gặp nhau ở đó và trao đổi về làng quê, về văn chương, thế sự. Hai ông có nhiều điều tâm đắc để trao đổi với nhau, đưa ra những đánh giá để có thể hiểu sâu hơn về những ngày chúng ta đang sống.

Người thứ ba tôi muốn nói tới là Họa sĩ Hoàng Tân Hưng, ông sinh 1945. Ông được xem là “dị nhân” vì sau khi sống, học tập, làm việc ở Nga hơn 20 năm, có vợ con, có bằng tiến sỹ nhưng về Việt Nam tay không. Ông sống 15 năm tại Hà Nội, ở trong những ngôi nhà gần như bỏ hoang; không hộ khẩu, không tiện nghi, thậm chí phương tiện đi lại cũng không, ngoài chiếc xe đạp cọc cạch. Hoàn cảnh như vậy, nhưng ông không hề than vãn, không cảm thấy thiếu thốn, khổ sở, buồn phiền… Ở tuổi trên 70, với nụ cười thơ trẻ, ông miệt mài tìm cái đẹp, cái thiện trong hội họa.

Là họa sỹ nhưng ông Hoàn Tân Hưng không hút thuốc, không uống cà phê; bia rượu thì chiều bạn bè, chỉ nhấp môi. Có lẽ ông chỉ đạt “tiêu chuẩn” họa sỹ ở một khâu thôi, đó là ở bẩn. Ông Hưng hiền lành, nhũn nhặn, dịu dàng như phụ nữ. Trước những lời trêu chọc, chê bai của bạn bè, ông chỉ cười - nụ cười thơ trẻ như của học trò trường mầm non.

Để trở thành “dị nhân”, một trong những yếu tố cần thiết nhất là gàn. Điều này thì ông Hoàng Tân Hưng không thiếu, vì “phi gàn, bất thành Nghệ nhân”, mà anh lại sinh ra và lớn lên ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An - nơi tập trung nhiều phẩm chất điển hình của người Nghệ.

Trong chục năm trở lại đây, nơi anh sống dường như trở thành một “điểm du lịch mini” đối với bạn bè, người quen. Căn phòng chỉ 18 mét vuông, lộn xộn, ẩm thấp nằm sâu trong Ngõ Quỳnh (Hai Bà Trưng, Hà Nội), nhưng những người hào hoa, phong nhã vẫn thường lui tới. Trong số đó có thầy Văn Như Cương, Đại sứ Ngô Quang Xuân, Giám đốc Nhà hát Giao hưởng Ngô Hoàng Quân, các nhà thơ, nhạc sỹ, nhà ngoại giao… Có người bạn tôi, anh Nguyễn Văn Quang, Hiệu trưởng trường THPT tận Đăk Nông, ra Hà Nội chơi, cứ nằng nặc đòi được đến thăm “dị nhân” Hoàng Tân Hưng. Sau khi được phép chụp một bức ảnh bằng điện thoại di động để làm kỷ niệm, anh Quang xem đây như là một báu vật. Cái thu hút mọi người chính là tính cách và các tác phẩm của ông Hoàng Tân Hưng.

Dù là người không quan tâm đến bản thân mình là mấy, nhưng anh lại rất dịu dàng và chu đáo với bạn bè, khách khứa. Anh không thích bia rượu, nhưng khách đến nhà thường được mời những món này. Có hôm tôi đến, anh đưa ra một chai rượu quý, còn khoảng một phần tư và nói: “Đây là rượu anh Ngô Quang Xuân mang về từ châu Âu. Hôm uống, thiếu một số người, anh Xuân bảo để cho Nguyễn Trọng Tạo và HBK mỗi người một ly, uống để biết “hàng xách tay” khác với rượu mua ở các siêu thị, cửa hàng Việt Nam như thế nào”.

Hoàng Tân Hưng là họa sĩ chuyên nghiệp, hơn nữa, còn là tiến sỹ trong lĩnh vực này nhưng từ ngày thân quen với ông, tôi chỉ chứng kiến anh bán tranh một lần. Đó là bức tranh ba con gà. Thật ra, anh không bỏ nhiều công sức để vẽ bức tranh này, mà anh chỉ vẽ đùa đùa và đặt tên cho bức tranh là “Đánh Ghen”. Một người phụ nữ đến vẽ chân dung cứ nằng nặc đòi mua, chúng tôi nói giúp chị mấy câu, thế là anh nói “thì bán”. Anh không ra giá mà bảo: “Chị trả bao nhiêu thì trả”. Người phụ nữ đưa ví ra xem và nói: “Em có trong người 800 đô la Mỹ, em gửi anh cả”. Anh nhận tiền và kéo chúng tôi đi ăn bún ngan.

Gần đây, thấy tranh của anh thì nhiều mà sống thì thiếu thốn, chúng tôi bảo anh bán bớt tranh đi. Anh chỉ im lặng. Có người đưa ra ý kiến, bán tranh đâu phải dễ, có thể tranh của anh khó bán? Chúng tôi nửa đùa, nửa thật kể câu chuyện: “Ở Italia có một họa sỹ tài năng, vẽ rất nhiều tranh, nhưng không bán được. Một doanh nhân đến đặt vấn đề là sẽ mua lại tất cả tranh giá cao với một điều kiện: Người họa sỹ này phải giả chết và biến khỏi Italia. Người họa sỹ đồng ý…”. Nghe đến đây, anh Hưng giãy nảy lên: “Đấy không phải là một họa sỹ đích thực!”.

Dù có bán tranh hay không thì anh vẫn sống được và vẽ. “Dị nhân” không cần nhiều thứ để sống: Mỗi tháng chục cân gạo, vài cân thịt, mấy chục ngàn tiền rau. Anh cũng chẳng đi đâu, mỗi lần về quê, bạn bè mang xe đến nài nỉ thì anh mới đồng ý về. Dường như anh có một thế giới riêng yên bình, trong trẻo đầy màu sắc giữa cái ồn ào, bụi bặm của phố phường.

Một số người thắc mắc là tại sao ông Hoàn Tân Hưng có ít bạn cùng làng, mặc dù người Quỳnh Đôi ở Hà Nội rất nhiều. Điều này tôi chỉ đoán thôi: Ví nó liên quan một người Làng Quỳnh nổi tiếng khác. Thời điểm họa sĩ Hoàng Tân Hưng về Việt thì câu chuyện về Hoàng Văn Hoan chưa lắng xuống. Hoàng Tân Hưng lại là người họ hàng gần gũi với Hoàng Văn Hoan. Nhà giáo Văn Như Cương hiểu rõ điều này nhưng ông vẫn thường xuyên đến với họa sĩ Hoàng Tân Hưng, mời lên nhà chơi, đàm đạo về tất cả nhưng điều đang diễn ra trong cuộc sống, từ chuyện Hà Nội, chuyện của nước Nga, tới chuyện Làng Quỳnh. 

Dẫu nghề nghiệp, hoàn cảnh, tính cách của thầy Văn Như Cương và họa sĩ Hoàng Tân Hưng rất khác nhau nhưng các ông vẫn chơi thân với nhau. Điều này có hai lý do: 1. Họ cùng sinh ra và lớn lên ở Làng Quỳnh, cùng có thời gian học tập ở nước Nga; 2. Họ đều là những người tận tâm theo đuổi nghề nghiệp của mình, với thầy Cương là dạy học, với ông Hoàng Tân Hưng là vẽ tranh. Thầy Văn Như Cương thấy được những giá trị trong tính cách của họa sĩ Hoàng Tân Hưng cũng như những gì ông gửi gắm trong hàng trăm bức tranh.

Những người bạn cùng Làng Quỳnh nhưng sinh sống ở Hà Nội mang đến cho thầy Cương nhiều điều thú vị. Đó là sự hòa trộn giữa chất Nghệ và chất Bắc rồi chắt lọc ra thành cách ứng xử đặc trưng của người Nghệ nói chúng, người Làng Quỳnh nói riêng, sống ở Hà Nội. Ý nghĩa nhận thức của điều này khá lớn, đặc biệt đối với thế hệ người Nghệ sinh ra và lớn lên ở Thủ đô. Và hình như thầy Cương còn mong muốn thầy nhiều điều thú vị và sâu sắc hơn trong những mối quan hệ này.

BẠN HỌC VÀ ĐỒNG NGHIỆP   

 Về những người bạn học cùng thời phổ thông, ông hay kể về những kỷ niệm “rất học trò”, nghĩa là nhấn mạnh tính hiếu động, nghịch ngợm. Ông gắn bó, yêu thương bạn bè và cũng tỏ ra không thua kém “quỷ” và “ma” là mấy. Ngày đó, ở Trường Huỳnh Thúc Kháng (Vinh, Nghệ An), học trò Văn Như Cương ở nội trú với bạn bè và gắn bó với nhau cả ngày lẫn đêm. Một hôm, có học trò phạm lỗi nặng, thầy giáo bảo tối sẽ giải quyết vụ này. Thuở đó, có quy định là học trò bị lỗi nặng sẽ bị ăn đòn đánh bằng roi, mà buổi tối mới đánh. Thầy cho phép học trò tự mình “sắm” roi cho thầy dạy bảo.

Trò phạm lỗi tỏ ra rất lo lắng, sợ hãi và run rẩy đi làm roi. Văn Như Cương đến bên bạn thì thầm điều gì đó và cả hai gần như vui vẻ mang dao ra vườn chặt roi. Sau đó cả hai bình tĩnh về chờ thầy đến “xử tội”. Tối, thầy giáo đến, phân tích cho các trò hiểu vì sao phải trừng phạt trò kia. Và theo quy định, trò phạm lỗi phải chịu 10 roi. Trong ánh sáng lờ mờ, trò phạm lỗi nằm lên giường, thầy vung tay quất. Mới được 3 lần, chiếc roi đã gãy tan tànhnên thầy giáo dừng trừng phạt, bảo học trò ra rửa mặt rồi ăn cơm. Học trò bị đòn nhanh nhẹn thực hiện lời thầy. “Màn”trừng phạt diễn ra chóng vánh và khá vui vẻ.

Sau đấy cánh học trò mới biết rằng, trò Văn Như Cương đã có “sáng kiến” là bí mật tiện chiếc roi gần đứt ở nhiều khúc; khi thầy vung roi đánh, những chỗ tiện đó sẽ nhanh chóng đứt rời, khiến cây roi gãy làm nhiều khúc. Bí mật này được các trò giữ kín và mỗi lần có trò bị phạt, nó lại được đem ra sử dụng. Với cách này, “chiếc roi yêu mông trẻ” (vốn không được đầy đặn gì cho cam) đã góp phần khiến những cậu học trò nghịch ngợm (trong đó có cả Văn Như Cương) thoát được những trận đòn đau. Nhiều năm về sau, những người bạn học phổ thông với Nhà giáo Văn Như Cương, mỗi khi có dịp gặp nhau là kể về kỷ niệm đáng nhớ này. Họ cho rằng, ngày đấy vì thương bạn mà Văn Như Cương đã lém lỉnh nghĩ ra cái trò này. Thật ra, các ông giáo ngày đó không xem chuyện đánh đòn đau học trò là điều cần thiết. Cái chính của thủ tục đánh đòn là làm cho học trò nhận ra lỗi của mình, nhớ và không tái phạm. Do vậy, họ không chú ý đến những chiếc roi được “chế tạo” thế nào. Tuy nhiên, “sáng kiến” này của trò Văn Như Cương vẫn được các bạn học phổ thông đánh giá cao. Giá trị của nó nằm ở tình yêu thương bạn bè và có ý nghĩa nhân văn.

Song, chuyện đáng nói nhất trong thời học phổ thông của thầy Văn Như Cương là ông và bạn bè đã được dạy về giá trị của sự trung thực. Chuyện này đã được ông kể lại trên facebook của mình trong status đăng vào ngày 24, tháng 8, 2015  trên Facebook Cương Như Văn.

Chuyện xẩy ra 60 năm trước.

Lúc ấy tôi đang học lớp cuối của bậc Phổ thông, tại Nghệ An. Chuyện xẩy ra vào tiết kiểm tra môn Toán.

Thầy giáo bận không đến lớp, nhưng tối hôm trước thầy đã đưa đề kiểm tra cho lớp trưởng để sáng nay mang đến đọc cho cả lớp chép và làm bài. (Bây giờ thì đố thầy cô nào dám làm như vậy, vì chắc chắn sẽ lộ đề và cả lớp đều biết).

Thế là chúng tôi cắm cúi làm bài. Mặc dầu không có “giám thị” nhưng không ai nhìn bài nhau, không ai trao đổi , không ai quay cóp (Bây giờ mà như thế thì cả lớp thành cái chợ).

Làm bài xong chúng tôi nộp cho lớp trưởng và lớp trưởng mang về nộp cho thầy chấm. (Bây giờ mà như thế thì khối đứa nhờ lớp trưởng để tráo bài…).

Tại sao chúng tôi có hành động mà học sinh bây giờ rất “khó hiểu” như vậy?. Bởi vì chúng tôi được giáo dục một phẩm chất quan trọng “Sống trung thực, không gian dối”.

Muốn một Xã hội mà mỗi cá nhân đều sống trung thực, không gian dối thì phải giáo dục phẩm chất đó cho học sinh ngay từ khi họ ngồi trên ghế nhà trường!

Tiếc thay trong dự án “Chương trình tổng thể của giáo dực phổ thông”(sẽ thực hiện sắp tới) chỉ nói đến 3 phẩm chất mà học sinh cần có: 1) Sống yêu thương; 2) Sống tự chủ và 3) Sống có trách nhiệm.

Với những người bạn học đã trải qua những kỷ niệm như vậy, họ sẽ trân trọng và nhớ nhau suốt đời. Quãng thời gian học cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng đối với thầy Cương có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành tính cách, nhân cách. Không phải ngẫu nhiên, đại đa số những người học ở đây trong giai đoạn sau Cách mạng Tháng 8/1945 đến kết thúc kháng chiến chống Pháp 1954, đều là những người giỏi giang và đáng kính. Điều này có được là do dân xứ Nghệ hiếu học, lại học ở vùng tự do trong kháng chiến. Điều này khiến học có trách nhiệm và quyết tâm hơn trong việc học tập và rèn luyện. Những phẩm chất cơ bản của người tử tế bắt đầu hình thành một cách rõ nét trong thầy Cương ở giai đoạn này.

Thời học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng có nhiều kỷ niệm gắn kết với bạn bè. Nhưng kỷ niệm đáng nhớ nhất là sự đoàn kết, chia sẻ đau khổ khi một người bạn cùng lớp thất bại trong tình yêu. Số là có một người bạn học toán say mê một nữ sinh viên học văn. Anh chàng này theo đuổi người đẹp trong một thời gian dài nhưng cuối cùng nhận phải lời từ chối thẳng thắng và nghiệt ngã: “Anh học toán, khô như ngói ấy, em không yêu được!”. Là đấng nam nhi nhưng khi nghe những lời như vậy, anh bạn của Văn Như Cương dường như không đứng vững nữa. Bạn bè phải xúm lại an ủi, mong cho anh chàng số hẩm hiu kia quên nhanh được nỗi đau thất tình.

Chàng trai hào hoa Văn Như Cương cũng là người cho những lời động viên có hiệu quả nhất. Anh nói với bạn: “Nó không yêu cậu thì cũng không yêu được ai trong số chúng tớ đâu! Chúng tớ quyết định tẩy chay nó. Nó chê cậu khô chứ gì?! Vậy nó chỉ có thể lấy anh đánh dậm cho ướt át mà thôi!”. Những lời an ủi, động viên đó của Văn Như Cương có tác dụng. Anh bạn dần dần nguôi ngoai và tập trung vào học để có kết quả tốt đẹp. Ngày ra trường, cả khóa hẹn gặp nhau sau 20 năm.

Hai mươi năm sau, cuộc gặp gỡ diễn ra vui vẻ, cảm động vì hầu như ai cũng đã trưởng thành, có gia đình, vợ con và trở thành những người thầy, người cô đáng kính. Họ vẫn có một chút tò mò muốn biết xem cô bạn chê dân toán khô khan có người chồng như thế nào. Một trong những người bạn nói, cô đó về dạy cùng trường với mình, chồng con đề huề. Cả hội tò mờ muốn biết, chồng cô là ai, làm nghề gì mà chinh phục được cô giáo dạy văn thích “ướt át”? Và cả “đội” phá lên cười một cách thú vị khi cô bạn đó lấy một ông chồng còn ướt át hơn anh đánh dậm - chồng của cô bạn là một nghệ sĩ múa rối nước!

Những kỷ niệm như vậy với những người bạn học khiến thầy Văn Như Cương khi nào cũng nghĩ về quãng đời đi học với tình cảm nồng ấm. Họ quan tâm đến nhau, trao đổi thông tin và giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Khắc Phi tuy là bạn khác khoa (thầy Phi học văn) nhưng có nhiều kỷ niệm đáng nhớ với thầy Văn Như Cương. Thứ nhất, là hai thầy cũng tham gia dạy cho các lớp buổi tối do một người bạn là Phan Đình Diệu tổ chức. Hai là, cả thầy Phi và thầy Cương đều có người yêu ở trường Trưng Vương trong thời gian về đó thực tập.

Thầy Phan Đình Diệu và thầy Nguyễn Khắc Phi còn có quan hệ gắn bó dài lâu về sau này nữa. Họ là hai trong số những người bạn lâu năm của thầy Cương. Và họ giữ quan hệ nồng ấm qua nhiều năm tháng. Có thể nói, những người đó đã có ảnh hưởng nhất định tới cuộc đời và sự nghiệp của Nhà giáo Văn Như Cương.

Trước hết, phải kể tới ông Phan Đình Diệu. Ông Phan Đình Diệu vừa là bạn, vừa là em rể của thầy Văn Như Cương. Không cần nói nhiều thì chúng ta cũng hiểu hai người quan hệ thân thiết, hiểu nhau, quý nhau như thế nào thì từ bạn mới chuyển thành anh em. Ông Phan Đình Diệu thành thân với bà Văn Xuân Hương, em gái của ông Văn Như Cương và có 3 người con đều là những nhà khoa học.

Ông Phan Đình Diệu sinh ngày 12/6/1936 tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, nghĩa là hơn thầy Cương một tuổi và cùng đều là những cháng trai xứ Nghệ. Hai ông quen biết nhau thời đi học. Họ có cái chung là sau khi tốt nghiệp phổ thông vào ở quê nhà, đều ra Hà Nội, đều chọn ngành toán làm lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy. Ông Phan Đình Diệu cũng học rất giỏi, sau khi tốt nghiệp được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy; thầy Văn Như Cương cũng có quá trình tương tự như thế. Chỉ có điều, ông Văn Như Cương thì học ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, còn ông Phan Đình Diệu học bên Trường Đại học Khoa học (sau này là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Hơn nữa, ngay từ thời sinh viên, hai người đã cùng nhau đi dạy thêm vào buổi tối cho những cán bộ đi học bổ túc thêm.

Ông Phan Đình Diệu có một quá trình tích lũy kiến thức đáng nể phục. Ngay từ năm 1962, ông được cử đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh tại Khoa Toán học tính toán và Điều khiển học, trường Đại học Tổng hợp quốc gia Moskva mang tên Lomonosov. Năm 1965, sau khi hoàn thành luận án Phó Tiến sĩ, ông được đề nghị ở lại làm tiếp luận án tiến sĩ (mà bây giờ gọi là Tiến sĩ Khoa học) và đến năm 1967, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học. Như vậy ông Phan Đình Diệu trở thành Phó Tiến sĩ năm 29 tuổi và Tiến sĩ Khoa học lúc mới 31 tuổi. Có thể đây là một kỷ lục của thời bấy giờ.

Điều đáng nói là khi ông Phan Đình Diệu hoàn thành sự nghiệp học tập, nghiên cứu tại Liên Xô thì ông Văn Như Cương lại có cơ hội sang Moskva để học tập, nghiên cứu. Về sự nghiệp khoa học, ông Diệu và ông Cương có vẻ song hành cùng nhau, tuy nhiên hai người công tác ở hai cơ quan khác nhau. Ông Phan Đình Diệu còn “tung hoành” ngang dọc hơn ông Cương, bởi vì ông say mê cả khoa học máy tính và điều khiển, tin học, triết học…

Giáo sư Phan Đình Diệu là một trí tuệ, một nhân cách lớn. Điều này chắc chắn ảnh hưởng tích cực tới Nhà giáo Văn Như Cương. Trong nhiều năm, tôi đều thấy thầy Cương nhắc đến Giáo sư Phan Đình Diệu với sự kính trọng và khâm phục. Kể cả khi Giáo sư Diệu lâm bệnh, tình trạng sức khỏe yếu vẫn nhận được từ thầy Văn Như Cương sự thăm hỏi, săn sóc, động viên và lòng kính trọng. Chúng tôi cũng là những người kính trọng Giáo sư Phan Đình Diệu nhưng những năm cuối đời của Giáo sư, chúng tôi đều biết thông tin qua thầy Văn Như Cương.

 Giáo sư Phan Đình Diệu mất tại nhà riêng ngày 13 tháng 5 năm 2018. Như vậy là ông cũng ra đi không bao lâu sau khi người bạn, người anh rể Văn Như Cương đã rời cõi tạm để về cõi vĩnh hằng. Nếu có cuộc sống thứ hai sau cái chết, chắc chắn hai ông lại vẫn thường xuyên ở bên nhau để trao đổi những vấn đề của giáo dục, của khoa học; đời sống tinh thần và vật chất của con người; tương lai của đất nước.

Người bạn thứ hai cùng thế hệ mà tôi thấy ông Văn Như Cương hay nhắc tới là Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ. Nguyễn Tài Tuệ sinh năm 1936 tại xã Thanh Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Thời phổ thông, ông học tại Trường Huỳnh Thúc Kháng cùng với thầy Văn Như Cương. Mỗi lần nhắc đến ông Nguyễn Tài Tuệ, ông Cương đều nhớ như in là ông Tuệ say mê nghệ thuật, trong đó đặc biệt là âm nhạc ngay từ thời học phổ thông. Chất nghệ sĩ ở con người Nguyễn Tài Tuệ đã bộc lộ ngay từ ngày đó.

Tuy nhiên, tôi chưa thấy một nghệ sĩ nào lại có cách sống chuẩn mực về nhiều phương diện như Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ. Ở ông lưu giữ những nét tốt đẹp nhất của đàn ông xứ Nghệ. Là một nhạc sĩ nổi tiếng với dòng nhạc truyền thống cách mạng ở Việt Nam, ông được nhiều người ngưỡng mộ. Tác phẩm “Xa khơi” của ông được đánh giá là một ca khúc rất chuẩn mực về âm nhạc. Không chỉ “Xa khơi”, mà rất nhiều ca khúc khác của ông đã sống mãi với thời gian, nâng ông lên hàng “sao” trong “làng” âm nhạc nhưng ông vẫn sống giản dị, thậm chí hơi khắc khổ. Điều này liên quan đến quan niệm giá trị và tính cách của ông. Ông cho rằng, lao động nghệ thuật đòi hỏi con người phải trong sáng, ngay thẳng thì mới tạo ra những tác phẩm có giá trị. Ngay cả bây giờ, khi đã ở tuổi “cổ lai hy”, ông vẫn miệt mài với âm nhạc. Một nhạc sĩ phải duy trì được lòng yêu nghề và chấp nhận cuộc sống thanh bạch thì mới sống và làm việc được thế, vì nếu làm âm nhạc thực thụ, người nhạc sĩ nghèo lắm.

Về phương diện vật chất, nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ hiện nay vẫn nghèo. Nhưng ông không cần nhiều thứ để sống. Ông không thích bia rượu; thức uống ông thích nhất là chè xanh. Đã trên 80 tuổi những ông vẫn miệt mài làm việc, ông đọc rất nhiều. Ông làm việc chăm chỉ, đều đặn nhưng ông không có nhiều tác phẩm, bởi ông quan niệm: “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Chớ có nghĩ nhiều là hay, là tốt nhé! Ông vẫn nhớ lời thầy dạy ngày nào: “Nếu không có tác phẩm xuất sắc thì không có gì cả”. Ông chỉ viết  khoảng 15 ca khúc và một số tác phẩm khí nhạc - giao hưởng thính phòng.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ có cách sống khác Nhà giáo Văn Như Cương. Hai người chọn hai lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau nên hai người ít có điều kiện trao đổi với nhau về nghề nghiệp nhưng họ vẫn theo dõi nhau trên từng bước đường đời. Thầy Văn Như Cương dường như thuộc tất cả những sáng tác của Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ và ông hát chúng một cách thành thục; ông đặc biệt yêu thích bài “Xa Khơi”. Còn Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ tỏ ra vui mừng với những gì ông Văn Như Cương làm được với tư cách là một nhà giáo. Hai người thỉnh thoảng gặp nhau trong những sự kiện như đám cưới con cái của bạn bè, người quen, hoặc một sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật nào đấy.

Tôi đã có vài ba lần được tháp tùng thầy Văn Như Cương trong những lần gặp gỡ Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ. Lần đáng nhớ nhất diễn ra ở Nhà hát lớn đây khoảng 7 năm. Đó là một sự kiện giao lưu vui vẻ mà chủ nhân là cây saxophone nổi tiếng Quyền Văn Minh. Nhà giáo Văn Như Cương và Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ gặp nhau và dường như không muốn rời nhau, họ cùng nhau ôn lại bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa. Một người cũng khá nổi tiếng trong làng âm nhạc là bà Hồ Mộ La cũng thú vị chứng kiến cuộc gặp gỡ của hai người đàn ông cùng thế hệ.

Về mặt phong cách sống, nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ có vẻ khác biệt rất lớn với Nhà giáo Văn Như Cương. Ông Nguyễn Tài Tuệ sông nghiêm cẩn, chỉn chu, không biết uống bia, rượu; chỉ thích đọc sách và sáng tác âm nhạc. Còn Nhà giáo Văn Như Cương thì ngược lại, ông thích rượu bia, giao lưu rộng rãi… Họ giống nhau ở chỗ có tài năng, có chí khí, ham hiểu biết và có chất kẻ sĩ.

Người bạn cùng thế hệ thứ ba của thầy Văn Như Cương mà tôi được tiếp xúc là Nhà văn Ông Văn Tùng. Ông Ông Văn Tùng (sinh 1936) là một nhà giáo, nhà văn và dịch giả được đánh giá rất cao vào giai đoạn cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Khi ở tuổi học trò, Ông Văn Tùng và Văn Như Cương rất thân nhau, có nhiều kỷ niệm cùng nhau. Nhưng do những biến động của cuộc sống, kể cả chiến tranh nên hai người mất liên lạc với nhau trong một thời gian dài. Trong câu chuyện với chúng tôi, thầy Văn Như Cương có một mong muốn lớn là được gặp lại Ông Văn Tùng.

Nhà văn - Dịch giả Đoàn Tử Huyến cho biết là tìm ra chỗ ở và liên lạc với Nhà văn - Dịch giả Ông Văn Tùng là không khó, vì ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và sống ở Hà Nội. Sau một thời gian ngắn, anh Đoàn Tử Huyến cho biết là đã kết nối được với Nhà văn Ông Văn Tùng, ông ấy nóng lòng chờ Nhà giáo Văn Như Cương. Vào một ngày đẹp trời của năm 2011, tôi cùng anh Đoàn Tử Huyến tháp tùng Nhà giáo Văn Như Cương đến gặp Nhà văn Ông Văn Tùng tại nhà riêng của Nhà văn. Đấy là một ngôi nhà bám mặt đê La Thành gần phía Xã Đàn. Nhà văn Ông Văn Tùng là người gần như không biết uống bia, uống rượu. Tuy vậy, để tiếp đón bạn Văn Như Cương, ông cũng chuẩn bị khá chu đáo gồm rượu và đồ ăn nguội. Thầy Văn Như Cương là người chu đáo không kém và có “đồ đệ” chuẩn bị rượu, bánh mì, phomai, thịt xông khói, salami… - Toàn những thứ có xuất xứ từ Nga. Vì vậy, buổi gặp gỡ hôm đó diễn ra trong một bầu không khí tĩnh lặng để hai người bạn đã trên 70 tuổi gặp nhau, ôn lại kỷ niệm thời trai trẻ. Con của Nhà văn Ông Văn Tùng xuất hiện một lát, chào khách rồi xin phép lui. Tôi và Nhà văn Đoàn Tử Huyến chủ yếu ngồi nghe và thi thoảng châm tửu. Trong câu chuyện, tôi thấy cuộc đời khá gian truân của Nhà văn Ông Văn Tùng hiện lên.

Nhà văn Ông Văn Tùng sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho giáo lâu đời ở xã Nam Lĩnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông là con thứ ba trong trong năm người con của bố mẹ ông. Họ hết bậc phổ thông ở Nghệ An, năm 1954, ông được cử đi học ngành sư phạm tại khu học xá thuộc Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Nhưng ông chỉ học ở đó một năm thôi. Năm 1956, ông trở về Việt Nam và học tiếp tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1960, sau khi tốt nghiệp, ông đi dạy học ở nhiều nơi: Thanh Hóa, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tây, Hà Nội. Môn ông dạy là môn Ngữ văn, bậc ông dạy là Trung học phổ thông. Năm 1982, ông không đồng ý với chương trình cải cách giáo dục liên quan đến môn Ngữ văn trong nhà trường; ông đã đề xuất ý kiên của mình nhưng không được lắng nghe. Do vậy, ông xin nghỉ dạy học.

Vào thời kỳ đấy, nghỉ việc là gặp phải muôn vàn khó khăn trong cuộc sống. Ông đã kiếm sống bằng cách bán sách trước ga Hàng Cỏ một thời gian khá dài. Chắc trong những ngày lăn lộn kiếm sống bằng nghề bán sách, ông Ông Văn Tùng hiểu ra nhiều điều chất chứa trong từng con người. Ông vốn sống một cách chu đáo và đăm chiêu nên muốn môt sẻ cuộc sống bằng cảm nhận của mình. Do vậy, sau đó  có điều kiện một chút, ông chuyên tâm sáng tác văn học, viết khảo cứu văn hóa Trung Quốc và dịch sách tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt. Đây là giai đoạn ông làm việc say mê và rất hiệu quả.

Nhà văn Ông Văn Tùng đã viết và xuất bản 9 tiểu thuyết, 60 truyện ngắn và nhiều bài báo được giới học thuật và độc giả yêu quý, mến mộ và đánh giá cao. Đồng thời, chuyển ngữ từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt hơn 50 tác phẩm văn học, triết học, sử học, văn hóa học, như: Khổng Tử truyện (đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1997), Mai hoa dịch số, Tây Thi, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi, Võ Tắc Thiên, Triệu Phi Yến, Danh nữ Trung Hoa trong huyền thoại và lịch sử, Tùy Dạng Đế: Cuộc sống đế vương Trung Hoa, Bí mật Tử cấm thành…

Gần như suốt cả một ngày, tôi ngồi nghe thầy Văn Như Cương và Nhà văn Ông Văn Tùng trò chuyện cùng nhau. Đến đây thì tôi hiểu vì sao thầy Cương mong gặp Ông Văn Tùng đến thế. Họ giống nhau ở quan niệm sống: Làm gì thì làm, công việc của anh phải mang lại lợi ích cho xã hội. Nhà văn Ông Văn Tùng buộc phải bỏ nghề dạy học - ông “đau” lắm. Song, ông vẫn lặng lẽ làm lợi cho đời bằng trí tuệ và hiểu biết của mình. Thầy Văn Như Cương đánh giá cao Nhà văn Ông Văn Tùng về phương diện này nên họ có thể nói chuyện với nhau cả ngày mà không biết chán.

Người bạn thứ tư cùng thế hệ với Nhà giáo Văn Như Cương tôi muốn nói tới là Giáo sư Nguyễn Khắc Phi. Mặc dù Giáo sư Nguyễn Khắc Phi hơn thầy Cương 3 tuổi nhưng tôi vẫn xem họ là bạn bè cũng thế hệ. Gần đây Giáo sư Phi có viết một bài báo đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An (số 366 ra ngày 10/6/2018) có tựa đề “Văn Như Cương - Nhà sư phạm độc đáo, tài ba xứ Nghệ”. Trong bài báo này, Giáo sư Phi đã nói rõ quá trình quen biết và công tác cùng Nhà giáo Văn Như Cương thế nào. Cũng phải nhắc lại thế này, cách đây 4 năm khi Giáo sư Nguyễn Khắc Phi tròn 80 tuổi, thầy Văn Như Cương cùng với Tiến sĩ Lê Thống Nhất cũng đã có bài “Mừng bác Phi” in trong quyể sách “Nguyễn Khắc Phi - Người thầy tài hoa, tận tụy”. Dẫn lại như vậy để thấy ông Văn Như Cương và ông Nguyễn Khắc Phi đã có một quá trình quen biết nhau từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cùng yêu hai cô nữ sinh thực tập, cùng vào xây dựng Trường Đại học Sư phạm Vinh từ năm 1959.

Giáo sư Nguyễn Khắc Phi - nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm Vinh, nguyên Tổng Biên tập Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Ông sinh năm 1934, quê Hà Tĩnh. Hơn nửa thế kỉ gắn bó với sự nghiệp trồng người, Giáo sư Nguyễn Khắc Phi từng dạy dỗ, dắt dìu nhiều thế hệ sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh trong lĩnh vực văn hóa, văn hóa. Ông có rất nhiều học trò ái mộ và tôn kính. Ngoài việc giảng dạy, nghiên cứu, đào tạo thạc sĩ, tiếng sĩ, Giáo sư Nguyễn Khắc Phi còn cống hiến nhiều cho sự nghiệp xuất bản. Trên các cương vị lãnh đạo Nhà xuất bản giáo dục trong nhiều năm, Giáo sư Nguyễn Khắc Phi đã để lại dấu ấn trong nhiều bộ sách giáo khoa, sách tham khảo quan trọng.

Giáo sư Nguyễn Khắc Phi là một chuyên gia về thơ Đường luật. Ông đánh giá rất cao những bài thơ Đường của thầy Văn Như Cương. Vào tuổi tám mươi, trong khi học trò của ông đang thu thập tài liệu, bài vở để ra một quyển sách về ông thì ông vẫn miệt mài nghiên cứu về những nhà khoa học khác, trong đó có thầy Văn Như Cương. Vì vậy, sau khi thầy Văn Như Cương mất, ông đã có những bài viết quan trọng về một người bạn, một đồng nghiệp đã nhiều năm sát cánh bên nhau. Trong bài báo “Văn Như Cương - Nhà sư phạm độc đáo, tài ba xứ Nghệ”, Giáo sư Nguyễn Khắc Phi công bố nhiều tư liệu có giá trị về thầy Văn Như Cương, Trên cơ sở những tư liệu đấy, Giáo sư Nguyễn Khắc Phi đánh giá về những cống hiến có ý nghĩa của Nhà giáo Văn Như Cương đối với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Vinh và ngành sư phạm nói chung. Còn đối với chúng ta và gia đình thầy Văn Như Cương, có thể xem bài báo này là một kỷ vật quý của Giáo sư Nguyễn Khắc Phi tặng lại.

Trong bài báo quan trọng này, ngoài việc ôn lại những kỷ niệm mà hai người còn là sinh viên, từng cùng đến thực tập ở Trường Trưng Vương, cùng bắt đầu tình yêu ở đấy; từng đi dạy ban đêm cho những lớp do một người bạn khác là Phan Đình Diệu mở (đương nhiên ngày đấy làm hoàn toàn miễn phí), thầy Nguyễn Khắc Phi còn cung cấp những thông tin quan trọng về những năm cuối thầy Cương công tác ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Những thông tin này giúp chúng ta hiểu thêm quan điểm của thầy Cương về công tác lãnh đạo, về chức, quyền. Ngoài ra, trong bài báo này, thầy Nguyễn Khắc Phi cũng thể hiện tình cảm, sự yêu mến, kính trọng của mình dánh cho người bạn của mình.

Ngoài bốn người bạn kể trên, tôi còn thấy Nhà giáo Văn Như Cương cũng có những mối quan hệ thân tình với cố Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Giáo sư Phong Lê. Đây là những nhà khoa học đầu ngành trong khoa học lịch sử, văn học. Theo dõi những cuộc gặp gỡ, trao đổi của họ, tôi càng hiểu vì sao những nhà khoa học, giáo dục rất cần mở rộng tầm ảnh hưởng và trường giao tiếp của mình. Điều này giúp họ không bao giờ lạc hậu trong cuộc sống có nhiều biến động và luôn luôn đổi mới.

Ngoài ra, thầy Văn Như Cương cũng thường gặp gỡ, trao đổi với Giáo sư Hồ Ngọc Đại, Giáo sư Trần Đình Sử, Nhà giáo Phạm Toàn… Đây là những người bạn, những đồng nghiệp không phải là dân xứ Nghệ của Nhà giáo Văn Như Cương. Những điều họ trao đổi thường liên quan đến những vấn đề “nóng” trong giáo dục, hoặc là những vấn đề thuộc học thuật mới mẻ. Họ có thể không phải là những người bạn tri kỷ nhưng rất tôn trọng nhau trong công việc và cuộc sống; tiếp xúc vơi nhau khá thường xuyên. Đây cũng là một kênh thông tin có ý nghĩa với thầy Cương trong lĩnh vực giáo dục.

Giáo sư Trần Đình Sử (sinh năm 1940, quê Thừa Thiên - Huế) có nhiều kỷ niệm với thầy Văn Như Cương trong những chuyến vào Trường Đại học Sư pham Vinh công tác. Thầy Cương thường kể về Giáo sư Trần Đình Sử liên quan đến những chuyến đi, những giai thoại, những câu đối. Là một người dạy văn, Giáo sư Trần Đình Sử rất tinh tế trong giao tiếp, nghiêm túc, nhất quá trong khoa học. Thầy Văn Như Cương dù là dạy toán nhưng biết rất nhiều thứ trong văn học. Ông đánh giá cao Giáo sư Trần Đình Sử trong nghiên cứu thi pháp, đặc biệt là thi pháp Truyện Kiều.

Những đồng nghiệp này chắc chắn có ảnh hưởng nhất định đến nghề nghiệp dạy học của thầy Văn Như Cương. Tôi đã theo dõi một số buổi gặp gỡ, nói chuyện giữa Nhà giáo Văn Như Cương và Giáo sư Hồ Ngọc Đại (sinh 1936, quê Quảng Trị) tại Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. Giáo sư Hồ Ngọc Đại sang Moskva học tập, nghiên cứu sau thầy Văn Như Cương một năm. Giáo sư Hồ Ngọc Đại nghiên cứu về tâm lý ở Trường Đại học Tổng hợp Moskva mang tên Lomonosov, còn thầy Cương nghiên cứu về toán ở Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Đây là hai cơ quan khoa học hàng đầu của Liên xô nên họ có cơ hội tiếp xúc với nhau từ lâu. Khi đã cao tuổi, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong công việc cũng như trong cuộc sống, họ lại có điều kiện gặp nhau. Họ trao đổi vui vẻ, cởi mở, thoải mái nhưng có lẽ không thuyết phục được nhau, khó cộng tác với nhau. Kết quả là mỗi người đều theo đuổi những quan điểm giáo dục riêng của mình. Tuy nhiên, những buổi trao đổi đấy cũng giúp họ thấy được những điểm mạnh của nhau để học hỏi lẫn nhau, lĩnh hội và bổ sung vào chương trình làm việc của mình.

Với nhà giáo Phạm Toàn (sinh năm 1932, quê Hà Nội) thầy Văn Như Cương tiếp xúc nhiều hơn, thoải mái hơn. Thầy Toàn giống thầy Cương ở cái điểm cũng thích nhâm nhi cốc bia, chén rượu và chuyện trò ở những nơi ồn ào như quán bình dân. Thầy Toàn là một nhà giáo hoạt động nhiệt tình, rộng rãi, luôn luốn hướng tới những cái mới. Ông dành nhiều thời gian làm việc với nhóm “Cánh Buồm”, có tham vọng xây dựng những bộ sách giáo khoa song song với sách giáo khoa của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thầy Cương lắng nghe, chia sẻ, tìm hiểu sách của thầy Toàn; khâm phục tinh thần và nghị lực của thầy trong việc theo đuổi những ý tưởng giáo dục riêng.

NHÓM BẠN VONG NIÊN GIAO TIẾP THƯỜNG XUYÊN

Nhưng có lẽ quan trọng nhất, có ý nghĩa lớn nhất với Nhà giáo Văn Như Cương là những người bạn vong niên mà ông giao tiếp thường xuyên. Đó là những người như Nhà văn - Dịch giả Đoàn Tử Huyến, Nhà thơ - Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, Nhà thơ Bằng Việt, Nhà thơ Trần Ninh Hồ, Họa sĩ - Nhà thơ Văn Thao, Học giả Phạm Lưu Vũ, Nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Toán, Họa sĩ Văn Sáng, Nhà báo Hồ Bất Khuất, Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, Đạo diễn Trần Quốc Trọng, Nhà ngoại giao - Đại sứ Ngô Quang Xuân, Tiến sĩ - Giám đốc Trung tâm Tâm Việt Phan Quốc Việt, Tiến sĩ Xã hội học Trương Xuân Trường, Doanh nhân Nguyễn Trọng Cử, Ngô Quốc Kỳ… và rất nhiều nhà văn, nhà báo, nhà giáo khác nữa. Họ có tuổi tác khác nhau nhưng đều là những người ít tuổi hơn Nhà giáo Văn Như Cương, người kém ít nhất là 5 tuổi, người kém nhiều là 30 - 40 tuổi.

Thật khó gọi đây là một nhóm bạn bè thông thường, không chỉ vì tuổi tác chênh lệch, nghề nghiệp, quê quán khác nhau, mà vì nhóm này quá đông, lại biến động thường xuyên. Một số người tham gia nhóm này vì quý trọng thầy Cương, muốn gần gũi nghe thầy trò chuyện. Còn thầy Cương với tấm lòng nhân ái rộng mở, thầy đón nhận tất cả mọi người đến với mình.

Có lẽ đây chính là một kênh thông tin sống động đối với Nhà giáo Văn Như Cương, vì vậy ông tỏ ra trân trọng tất cả mọi người. Khi đã giao tiếp với bạn bè, ông tỏ ra rất trọng thị người nói, người nghe. Ông không bao giờ làm việc riêng khi ngồi trò chuyện với bạn bè. Tuy nhiên, nhóm “trung kiên” mà hầu như tuần nào cũng gặp nhau chỉ khoảng 6, 7 người. Đây là những người mà thầy Cương quý mến, muốn gặp gỡ, giao lưu thường xuyên. Hơn nữa, những người tham gia nhóm này là những người làm chủ thời gian của mình, hiểu rõ tính cách của thầy Cương. Với nhóm bạn bè, đông đúc và đa dạng này, Nhà giáo Văn Như Cương có cách tiệp cận riêng. Ông hòa nhập với nhóm nhưng không bao giờ quên mình là một thầy giáo. Thỉnh thoảng ông vẫn “dạy” cho những người trong nhóm những bài học về cách ứng xử.

Có lần, chúng tôi mời ông ra quán bia hơi Bầu Bạn. Ông ngồi được 5 phút thì đứng dậy nói:

  • Mình về đây!

Tất cả chúng tôi đều ồ lên ngạc nhiên và nói:

  • Anh vừa ra, đã kịp uống ly nào đâu mà đã về?
  • Không về thì ở đây làm gì khi mỗi cậu đều dí mắt vào những chiếc máy điện thoại đắt tiền của mình?!

Lúc này, chúng tôi mới nhận ra là tất cả chúng tôi đều lôi điện thoại ra, người thì đọc, người thì nhắn tin… Chúng tôi phải xin lỗi ông, cất điện thoại và cùng nhau nâng ly, trao đổi thông tin một cách tích cực. Đấy rõ ràng là một cách dạy chúng tôi ứng xử cho lịch lãm, tinh tế.

Trong hàng trăm buổi gặp gỡ, giao tiếp, có nhiều buổi cảm động và vô cùng thú vị. Nhưng tôi nhớ nhất là buổi chúng tôi lên trang trại của Nhà thơ - Họa sĩ Văn Thao ở Kỳ Sơn, Hòa Bình. Trong căn nhà sàn bên dòng suối (Nhạc sĩ Văn Cao chỉ có “Suối Mơ”, còn con trai cả của ông có suối thật), chúng tôi nhắc nhiều đến con người và tác phẩm của tác giả Quốc ca. Anh Văn Thao tự hào khi nói về bố mình và kể tên những tác phẩm âm nhạc Văn Cao viết từ xa xưa. Đáng ngạc nhiên là kể đến tác phẩm nào thầy Văn Như Cương cũng biết; không chỉ biết, mà còn thuộc, còn hát được. Hôm đó, tôi mới biết Nhạc sĩ Văn Cao lãng mạn, lạc quan và có tài dự đoán đến thế. Ông viết những tác phẩm âm nhạc “Không quân Việt Nam hành khúc” ngay từ năm 1945. Rồi bài hát “Hải quân Việt Nam” cũng được ông cho ra đời ngay sau đó. Lúc này Quân đội nhân dân Việt Nam làm gì đã có những binh chủng đó. Ấy thế mà Nhạc sĩ Văn Cao đã có những sáng tác như vậy.

Và đáng ngạc nhiên hơn, cả đời tôi chưa được nghe, thậm chí là chưa được biết tới tên những bài hát đó; thế mà thầy Văn Như Cương thuộc hết. Cùng với anh Văn Thao, thầy Cương hát “phục vụ” chúng tôi suốt buổi hôm đó. Cho đến bây giờ tôi vẫn ngạc nhiên không biết thầy Văn Như Cương biết đến những bài hát đó khi nào và làm cách nào thầy thuộc, thầy hát được?! (Đừng quên là Nhạc sĩ Văn Cao có “dính” tới vụ án văn chương “Nhân văn - Giai phẩm”, ngoài Quốc ca ra, những tác phẩm khác không được biểu diễn trong một thời gian rất dài; thậm chí, bài hát “Mùa xuân đầu tiên” ông sáng tác vào năm 1976 nhưng bản thân ông không được thưởng thức tác phẩm này trên sân khấu chính thức trước khi ông mất vào năm 1995). Anh Văn Thao hôm ấy cảm động đến rơi nước mắt khi thấy có người (không phải là dân chuyên nghiệp trong lĩnh vực âm nhạc) biết tường tận sự nghiệp âm nhạc của bố mình đến vậy.

Đây là một trường hợp đặc biệt, còn bình thường Nhà giáo Văn Như Cương thường ngồi lắng nghe, sau đấy mới nhỏ nhẹ lên tiếng. Những ý kiến của thầy Cương thường rất mới, rất thú vị. Chính vì vậy, với tôi và nhiều người nữa, những cuộc gặp gỡ của nhóm bạn bè vong niên của thầy Cương rất bổ ích và rất cần thiết với nhiều người. Trong chúng tôi, ai cũng có những cái riêng, đấy là gia đình và công việc. Chúng ta sử dụng nhiều thời gian ở đó, làm những việc quan trọng trong cuộc đời ở đó. Nhưng để những việc làm ở đó có hiệu quả, những cuộc gặp gỡ, giao tiếp với bạn bè có ý nghĩa quan trọng. Thứ nhất, đây là sự giải trí tích cực, lành mạnh; nó giúp chúng tôi giảm sự căng thẳng. Thứ hai, ở đây có nhiều loại thông tin mà ở gia đình, ở cơ quan, trên các phương tiện truyền thông không có. Thứ ba, khi trao đổi với nhau về mọi vấn đề, những người nói đều tỏ ra thẳng thắn, chân thành. Nhiều người trong nhóm bạn bè này là những chuyên gia trong lĩnh vực của mình.

Đây là những người mà sau khi thành lập Trường Lương Thế Vinh, Nhà giáo Văn Như Cương gặp gỡ họ khá thường xuyên, trong đó có một nhóm khoảng gần một chục nguời hầu như tuần nào cũng gặp. Khi thì gặp nhau cuối tuần ở trang trại trên Hòa Lạc của thầy Cương (trước khi bị giải tỏa); lúc thì gặp tại Trung tâm Văn hóa - Ngôn ngữ Đông Tây; hôm thì gặp ở quán Bầu Bạn, quán 2V (ở ngõ số 2 Trần Quý Kiên); hôm thì gặp ở nhà của một người nào đó trong nhóm.

Tham gia vào nhóm này, tôi bỗng nhớ lời của một nhà thông thái nào đó: “Có người tìm đến linh mục; có người tìm đến thi ca; tôi tìm đến bạn bè tôi”. Nhưng ở nhóm bạn bè này, có cả “linh mục”, có cả thơ ca, có cả triết học và những gì sinh động nhất đang diễn ra trong cuộc sống.

Chắc có người sẽ băn khoăn là nhóm bạn này gặp gỡ, giao lưu thường xuyên, vậy kinh phí ở đâu ra? Có ai tài trợ không? Đúng là vấn đề này phải đặt ra, bởi vì tôi thấy không ít người nhắc đi, nhắc lại chuyện không lấy gì làm hay ho lắm là có nhóm bạn (thông thường là văn nghệ sĩ) kéo nhau ra quán nhậu, lúc gần thanh toán tiền, người thì đi nhà vệ sinh, người thì ra ngoài nói chuyện điện thoại. Vì thế những chuyện bi bài (thường là bi) đã xẩy ra.

Còn nhóm của chúng tôi thế nào? Trong hàng chục năm tham gia, tôi chưa thấy hiện tượng đó xẩy ra bao giờ. Ngược lại, nhiều hôm có hai, ba người đòi trả tiền nên suýt cãi nhau. Gần như những người tham gia nhóm, ai cũng lần lượt trả tiền. Người trả thường xuyên nhất là Nhà văn Đoàn Tử Huyến (ông là chủ Trung tâm Văn hóa - Ngôn ngữ Đông Tây). Người trả tiền thương xuyên thứ hai, có lẽ là thầy Văn Như Cương. Thầy Cương hay đòi trả tiền đến nỗi chúng tôi phải “bắt” thầy khai rõ thu nhập của mình. Thầy nói: “Tôi làm việc cho Trường Lương Thế Vinh nhưng không nhận đồng lương nào. Bù lại, tôi được vợ giao hẳn cho cả hai sổ lương hưu của hai vợ chồng. Khoản này trên chục triệu đồng. Ngoài ra, tôi có tiền nhuận bút từ viết báo, trả lời phóng vấn, tham gia họp hành, nhuận bút từ việc in sách giáo khoa… Những khoản này không ai quản cả, chúng khá thường xuyên. Vị chi mỗi tháng tôi “phải” tiêu khoảng 30 triệu đồng.

Chúng tôi ồ lên: Vậy là cũng kha khá nhưng chưa thể liệt vào hàng “đại gia” được nên không được trả tiền nhậu thường xuyên, mà nói chung không ai có quyền “bao thầu” chuyện trả tiền nhậu cả. Thầy Cương cố vớt vát thêm là ở trong gia đình, thầy hoàn toàn không có cơ hội để tiêu tiền vì cái ăn, cái mặc, thậm chí việc đi lại đã có người lo. Chính vì “quả” vớt vát này mà thầy thường hay được trả tiền. Có hôm, tính ra thì chưa đến lượt thầy Cương được trả tiền nhưng thầy khăng khăng đòi trả với lý do vừa tham gia một “sô” truyền hình về. Thầy đưa ra một chiếc phong bì chưa bóc. Nhà văn Đoàn Tử Huyến vẫn bắt thầy Cương cất phong bì với lý do số tiền trong phong bì không đủ trả cho bữa nhậu này. Thầy Cương cho rằng, tiền trong phong bì đủ trả, nếu không đủ thầy bù thêm. Cả nhóm đồng ý là nếu phong bì đủ tiền bữa nhậu, thầy Cương được trả, nếu không đủ, người khác trả, thầy Cương cầm lại phong bì. Tất cả đồng ý, phong bì mở ra chỉ có 300 ngàn đồng mà số tiền phải thanh toán là 700 ngàn. Thầy Cương đành phải cất tiền trở lại túi.

Cũng xin nói rõ thêm là mỗi lần ngồi với nhau, số tiền thường không lớn, chỉ giao động trong khoảng 400 đến 700 ngàn đồng. Đồ uống là bia hơi, nếu uống rượu thì có người mang từ nhà đi (nhóm này hầu như không bao giờ uống rượu quán, rượu không bảo đảm nguồn gốc). Thức nhắm là dưa chuột chẻ, rau luộc, trứng hấp ngải cứu… Cô chủ quán Bầu Bạn tên Hiền, vốn là nữ diễn viên múa của Nhà hát Tuổi Trẻ có lần tâm sự: “Nếu nhóm nào đến quán Bầu Bạn mà cũng gọi món như nhóm của các chú thì cháu phá sản lâu rồi. Tuy nhiên, nhờ có nhóm của các chú mà quán Bầu Bạn luôn luôn có một lượng khách khá đông. Những nhóm khác người ta gọi gà, gọi cá song, cá chình và những món đắt tiền cơ…”.

Một số người không thuộc nhóm chúng tôi nhưng thỉnh thoảng cũng tham gia đưa ra nhận xét: “Các ông đến quán có phải để uống bia, uống rượu đâu?! Các ông đến đó để “uống” nhau là chính”. Phải công nhận đây là nhận xét khá tinh tế và chính xác. Khi gặp nhau, chúng tôi trao đổi những thông tin, kèm theo cách đánh giá và còn nêu quan điểm của từng người nữa nên rất có ích. Thầy Văn Như Cương luôn luôn có sức thu hút bạn bè bằng cách nói và quan điểm của mình. Nhiều người cho rằng, ngồi nghe thầy Cương nói chuyện “sáng” ra nhiều điều.

Phải công nhận thầy Cương nói chuyện, giao tiếp rất hấp dẫn nên nhiều người muốn nghe. Thỉnh thoảng có những người quen của tôi mời tôi tham gia những cuộc nhậu ở nhà hay ở những quán khác, thấy tôi ngần ngừ chưa nhận lời, người đó thêm câu “thầy Văn Như Cương cũng có mặt”, thế là tôi nhận lời ngay. Tôi là người có cơ hội thường xuyên tiếp xúc với thầy Cương còn thế, những người khác thì chắc chắn xem đây là một sự may mắn.

Một nhà thông thái đã từng nói: “Ai cũng có thể đếm được mình có bao nhiêu dê hay bao nhiêu cừu, nhưng không thể đếm được mình có bao nhiêu bạn bè”. Giá Nhà Văn Như Cương còn sống, ông cũng không thể kể hết những người bạn của mình. Đằng này, tôi chỉ là một trong những người quen, người bạn của ông nên rõ ràng tôi không thể nào nói đầy đủ về “đội ngũ” bạn của ông. Tuy nhiên, có một điều tôi biết rất rõ là ông rất yêu quý bạn bè, dù bận rộn nhưng ông vẫn dành thời gian đáng kể để giao đãi với họ. Những cuộc giao đãi đó có ý nghĩa lớn trong đời sống tinh thần, tình cảm của ông; thậm chí, chúng in dấu ấn trong sự nghiệp của ông. Với nhiều người, Nhà giáo Văn Như Cương đã có ảnh hưởng lớn, vượt ra ngoài khuôn khổ của ngành giáo dục, trở thành một nhà văn hóa, có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong đời sống. Rõ ràng, những người bạn của ông phần nào đã góp phần vào “kho” kiến thức của ông, làm cho nó trở nên đa dạng, phong phú và vô cùng rộng lớn. Hơn nữa, thông qua đội ngũ bạn bè, hình ảnh, ý tưởng của ông có sức lan tỏa rất lớn.

 

_____________________________________________

Rút từ sách: Nhà giáo Văn Như Cương và những điều còn mãi

Ivan Sergeyevich Turgenev (1818-1883) là nhà văn Nga chuyên viết tiểu thuyết, truyện vừa và truyện ngắn. Các tác phẩm chính của ông gồm có các tiểu thuyết: Rudin (1857), Tổ quý tộc (1859), Đêm trước (1860)Cha và con (1862)Khói (1867)Đất hoang (1877)Thơ văn xuôi (1882) và các truyện vừa: Bút ký người đi săn (1852)Asya (1858)Mối tình đầu (1860)Những dòng nước mùa xuân (1872)...

Ivan Turgenev

Những người đương thời ai cũng thừa nhận rằng bà không đẹp. Thậm chí ngược lại. Thi sĩ Đức Heinrich Heine nói bà giống như một phong cảnh vừa xấu vừa kỳ quái, còn một họa sĩ đương thời nhận xét bà không những là một người đàn bà xấu mà còn xấu thê thảm. Người đàn bà đó chính là nữ danh ca Pháp - Tây Ban Nha Pauline Viardot... Nhưng khi “Viardot thiên thần” bắt đầu cất tiếng hát, thì cái ngoại hình kỳ dị, gần như phản cảm của bà bỗng thay đổi hẳn. Tưởng như, gương mặt trước đó của Viardot chỉ là sự phản chiếu của một tấm gương cong và chỉ khi bà cất tiếng hát khán giả mới có dịp nhìn thấy gương mặt thật của bà. Trong một khoảng khắc bừng ngộ như vậy trên sân khấu nhà hát opera, nhà văn Nga trẻ Ivan Turgenev bắt gặp Pauline Viardot. Người phụ nữ bí ẩn, hấp dẫn này đã buộc chặt nhà văn vào cuộc đời mình. Mối tình của họ kéo dài 40 năm và chia cuộc đời Turgenev thành hai nửa: trước và sau khi gặp Pauline.

Chuyện tình ở làng quê

Đời tư của Turgenev ngay từ đầu đã gặp nhiều trắc trở. Mối tình đầu của nhà văn trẻ để lại nhiều dư vị đắng cay. Tiểu thư Katya, con gái của nữ công tước Shakhovskaya sống cạnh nhà đã hút hồn chàng trai Turgenev 18 tuổi bởi sự trẻ trung, ngây thơ và hồn nhiên. Nhưng hóa ra, nàng hoàn toàn không trong sáng và vô tư như hình ảnh trong trí tưởng tượng của chàng trai đang yêu. Một lần, Turgenev phát hiện ra  Katya từ lâu đã có tình nhân, hơn nữa “người bạn lòng” của nàng  không phải ai khác, mà chính là ông Sergey Turgenev, một kẻ nổi tiếng mê gái trong vùng và là... bố đẻ của anh. Turgenev hết sức bàng hoàng. Từ đó, mỗi lần gặp Katya, anh cảm thấy vô cùng ghê tởm.

Đứng dậy sau cú sốc ấy, Ivan thất vọng về “các tiểu thư quyền quý” và đi tìm tình yêu ở những cô gái nông nô chất phác, thật thà. Họ vui lòng đón nhận sư quan tâm của nhà quý tộc trẻ, anh dễ dàng đem lại niềm vui cho họ, nhen lên ngọn lửa ấm áp trong mắt họ, và với họ Turgenev cảm thấy rằng tình cảm của anh rốt cuộc được đền đáp. Một trong những cô gái nông nô, người đẹp Avdotya Ivanova, đã sinh hạ cho nhà văn một cô con gái.

Turgenev đưa con gái về sống tại trang ấp của mình, dự định cho con học hành tử tế, và tiếp tục một cuộc sống hạnh phúc với Avdotya. Nhưng số phận lại sắp đặt theo cách khác.

Tình yêu đơn phương

Năm 1843, trong chuyến du hành sang châu Âu, Turgenev gặp Pauline Viardot, và kể từ đó trái tim ông chỉ thuộc về nàng. Ivan Turgenev không băn khoăn về việc người yêu của ông đã có chồng, ông vui lòng làm quen với chồng Pauline, Louis Viardot. Biết Pauline hạnh phúc trong cuộc hôn nhân này, Turgenev thậm chí không đòi hỏi quan hệ của họ tiến xa hơn, và hài lòng với vai trò của một kẻ hâm mộ trung thành.

Mẹ của Turgenev kịch liệt phản đối mối quan hệ của con trai với cô “xướng ca”, chính vì thế các chuyến đi của nhà văn đến các thành phố, nơi Viardot biểu diễn, gặp khó khăn về tài chính. Nhưng phải chăng những chuyện vặt vãnh như sự bất bình của người thân hay tiền bạc có thể ngăn cản những tình cảm đang sục sôi trong trái tim chàng trẻ tuổi! Gia đình Viardot trở thành một phần cuộc sống của ông, ông gắn bó với Pauline, Louis Viardot là bạn của ông, còn con gái họ trở thành ruột thịt đối với ông. Những năm đó, Turgenev gần như sống trong gia đình Viardot, nhà văn khi thì thuê nhà cạnh nhà họ, khi thì tá túc lâu trong nhà tình nhân của mình. Louis Viardot không ngăn cản các cuộc gặp gỡ với người hâm mộ mới. Một mặt, ông coi Pauline là người phụ nữ sáng suốt và hoàn toàn tin tưởng vào lý trí lành mạnh của bà, mặt khác, tình bạn với Turgenev cũng hứa hẹn những lợi ích vật chất: bất chấp sự cấm đoán của bà mẹ, Ivan Turgenev chi rất nhiều tiền cho gia đình Viardot. Đồng thời Turgenev hiểu rất rõ tình thế khó xử của mình trong ngôi nhà của Viardot, nhiều lần ông bắt gặp những cái lườm nguýt của những người quen biết ở Paris, những cái nhún vai ngờ vực khi Pauline giới thiệu Ivan Turgenev và nói: “Còn đây là người bạn Nga của chúng tôi, xin mời các vị làm quen với nhau”. Turgenev cảm thấy rằng ông đương đương là một nhà quý tộc Nga dòng dõi, dần dần biến thành một chú chó kiểng chỉ biết vẫy đuôi và vui mừng kêu ăng ẳng khi chủ ném cho một cái nhìn khoan đãi hoặc gãi vào tai, nhưng ông không thể làm gì với mối tình vô vọng của mình. Thiếu Pauline, Ivan cảm thấy mình thực sự đau khổ và tan nát: “Tôi không thể sống xa em, tôi cần cảm thấy sự gần gũi của em, tận hưởng nó. Ngày tôi không được ánh mắt em tỏa sáng là một ngày mất đi”, - ông viết cho Pauline, không đòi hỏi bất cứ sự đền đáp nào, vẫn tiếp tục giúp đỡ bà về vật chất, đùa nghịch với các con bà và cười gượng với ông Louis Viardot.

Lại nói về người con gái của nhà văn, cuộc sống của cô trong trang ấp bà nội không lấy gì làm vui sướng. Bà địa chủ hách dịch đối xử với cháu như một nông nô. Cuối cùng, Turgenev đề nghị Pauline cho con gái ông về sống trong gia đình Viardot. Đồng thời hoặc là để làm vừa lòng người tình của mình, hoặc là vì quá yêu mến, Turgenev đã đổi tên con gái mình, từ Pelageya cô bé biến thành Paulinet. Nghiễm nhiên, việc Pauline Viardot nhận  nuôi dạy con gái nhà văn càng củng cố tình cảm của ông. Giờ đây Viardot trở nên thánh thiện hơn, nàng đã giải thoát đứa con của ông khỏi bàn tay người bà độc ác. Quả thật, Palegeya-Paulinet không tán thành mối tình của bố đối với Pauline Viardot. Sống trong ngôi nhà của Viardot cho tới lúc trưởng thành, Paulinet suốt đời ôm nỗi hờn giận đối với người bố và sự căm ghét bà mẹ nuôi, vì cho rằng chính bà đã cướp đi tình yêu và sự quan tâm của bố dành cho cô.

Trong khi đó, danh tiếng nhà văn của Turgenev nổi như cồn. Ở nước Nga, không ai coi Ivan Turgenev là một tác giả trẻ nữa, giờ đây ông gần như một nhà văn cổ điển sống. Đồng thời Turgenev tin tưởng một cách chắc chắn rằng nhờ Viardot ông mới được nổi tiếng như vậy. Trước khi công diễn các vở kịch dàn dựng theo tác phẩm của ông, ông nhắc thầm tên bà vì cho rằng nó mang lại may mắn cho ông.

Trong những năm 1852-1853, Turgenev gần như bị quản thúc tại trang ấp của mình. Chính quyền rất không hài lòng với bài điếu văn của ông viết sau khi Gogol qua đời, trong đó họ nhìn thấy mối đe doạ đối với chế độ Nga hoàng.

Tháng 3 năm 1853, biết tin Pauline Viardot sang Nga biểu diễn, Turgenev không giữ được bình tĩnh nữa. Với tấm hộ chiếu giả, nhà văn cải trang thành một tiểu thị dân và lên đường tới Moskva để gặp người phụ nữ yêu dấu của mình. Đây quả là một hành động quá liều lĩnh, nhưng tiếc thay nó không xác đáng. Mấy năm sống trong xa cách đã khiến cho tình cảm của Pauline nguội lạnh. Nhưng Turgenev sẵn sàng hài lòng với một tình bạn đơn thuần, chỉ cần được thỉnh thoảng thấy Viardor ngoái cái cổ thanh mảnh của mình nhìn ông bằng đôi mắt đen huyền bí.

Những mối tình cuối

Một thời gian sau, dù sao Turgenev vẫn cố gắng thu xếp cuộc sống riêng tư của mình. Mùa xuân năm 1854, nhà văn gặp Olga, con gái người anh họ của ông Ivan Sergeyevich. Cô gái 18 tuổi khiến nhà văn mê đến nỗi ông có ý định kết hôn. Nhưng càng gần gũi với nàng, Turgenev càng hay nhớ tới Pauline Viardot. Gương mặt tươi trẻ của Olga và ánh mắt dịu dàng tin cậy của nàng ngước lên từ dưới hàng mi cũng không thể thay thế cho sự mê hoặc mà ông cảm thấy mỗi lần gặp Pauline Viardot. Cuối cùng, quá dằn vặt vì sự phân thân đó, Turgenev thú nhận với Olga là không thể đáp ứng tình cảm của nàng. Olga hết sức đau khổ vì sự đoạn tuyệt bất ngờ đó, còn Turgenev chỉ tự trách mình, nhưng ông không thể làm gì để chế ngự tình yêu lại bùng lên với Pauline.

Năm 1879, Turgenev lần cuối cùng nỗ lực xây dựng gia đình. Nữ diễn viên trẻ Maria Savinova sẵn sàng trở thành người bạn đời của ông. Thậm chí nàng không e ngại khoảng cách tuối tác quá xa, lúc bấy giờ Turgenev đã ngoài 60.

Năm 1882, Savinova và Turgenev lên đường tới Paris. Tiếc thay, chuyến đi này đã đặt dấu châm hết cho mối quan hệ của họ. Trong ngôi nhà của Turgenev, mỗi chi tiết vụn vặt cũng gợi nhớ tới Viardot, Maria luôn luôn cảm thấy mình là người thừa và bị nỗi ghen tuông dằn vặt. Cũng trong năm đó, Turgenev bị ốm nặng. Bác sĩ chẩn đoán ông bị ung thư. Đầu năm 1882, ông được phẫu thuật ở Paris, còn vào tháng 4, sau khi ra viện, nhà văn đề nghị đưa ông trở về nhà Viardot, nơi Pauline đang đợi ông.

Turgenev không sống được bao lâu nữa, nhưng ông vẫn cảm thấy hạnh phúc bên cạnh  Pauline của mình. Ngày 3 tháng 9 năm 1883, nhà văn trút hơi thở cuối cùng. Theo di chúc, ông muốn được yên nghỉ ở nước Nga. Turgengev được an táng không phải ở thành phố Moskva mà ông yêu mến, cũng không phải ở trang ấp Spasskoye của mình, mà ở  Petersburg, thành phố ông mới chỉ dừng chân một lần.

Trần Hậu dịch

Nguồn: Aif.ru, 21.6.2005

5. Hình tượng tác giả Truyện Kiều

Thi pháp học phân biệt hình tượng tác giả trong tác phẩm với tác giả tiểu sử, kẻ sáng tạo ra tác phẩm. Hình tượng tác giả là sự biểu hiện của cái "Tôi" thứ hai của tác giả một cách tổng hợp qua cái nhìn, giọng điệu, thể hiện tập trung cho quan niệm và hệ giá trị của nhà văn.

Nguyễn Du không hề tự miêu tả mình trong Truyện Kiều, nhưng ai đã đọc Truyện Kiều thì không thể không cảm thấy gương mặt của Nguyễn Du biểu hiện qua từng chữ, từng dòng. Ta không trông thấy ông, nhưng nhận ra ông qua tiếng nói, hơi thở, tấm lòng, tính khí, trí tuệ toát ra từ lời kể, lời nói của nhân vật các chi tiết, giọng điệu, cái nhìn. Khái niệm hình tượng tác giả tương tự như khái niệm tác giả hàm ẩm trong lý thuyết tự sự học hiện đại.

Hình tượng tác giả thể hiện qua lời người kể chuyện, qua lời của nhân vật, đặc biệt thể hiện qua một số từ ngữ có tính đặc trưng mà ta có thể nói đó là ngôn ngữ của tác giả. Tác giả có thể hiện hình qua người kể chuyện. Người kể chuyện trong truyện dõng dạc vạch trời kêu tội ác. Người ấy chửi rủa: "Chém cha cái số hoa đào - Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi". Người ấy than khóc cho đời: "Đau đớn thay phận đàn bà - Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung". Người ấy mai mỉa sự đời bất công không thay đổi: "Lạ gì bỉ sắc tư phong - Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen". Người ấy trêu đùa cái sự tiu nghỉu của anh chàng si tình Kim Trọng đi tìm người yêu mà không gặp: "Lơ thơ tơ liễu buông mành - Con oanh học nói trên cành mỉa mai". Người ấy vui sướng phụ hoạ cùng đôi trẻ khi phá rào nơi bức tường để đến với nhau: "Xắn tay mở khoá động đào - Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên thai". Trước nay các nhà bình luận, chú giải đều đã ít nhiều nhận ra chân dung của Nguyễn Du qua văn Kiều và Mộng Liên Đường chủ nhân đã nói được những lời khiến ta nhớ mãi: "Nếu không có con mắt nhìn xuyên sáu cõi, có tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời thì làm sao có được bút lực ấy!". Tấm lòng và con mắt là dấu hiệu của hình tượng tác giả.

Nhưng hôm nay ta cần tìm sâu hơn chân dung của Nguyễn Du qua ngôn ngữ của ông, một chân dung được dệt bằng chính những từ mà ông thường dùng và thích dùng, những từ kết tinh quan niệm, tình cảm, kinh nghiệm của ông, vẽ nên diện mạo tâm hồn của ông. Những từ như thế phần nhiều còn nằm im trên trang sách.

Trong một bài viết trước đây hơn 10 năm trên Tạp chí Văn học, 1983 chúng tôi đã lưu ý đến một số chữ và cách dùng mang dấu ấn của Nguyễn Du. Đó là chữ lòng trong các cách xưng hô trực tiếp với nhau của nhân vật: "Trách lòng hờ hững với lòng", "Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang", "Lấy lòng gọi chút sang đây tạ lòng", "Để lòng thì phụ tấm lòng với ai"… Nhà thơ hầu như trừu tượng hết cái phần vật chất bên ngoài, cái phần tính danh dị biệt, để các nhân vật đối diện với nhau bằng những tấm lòng, lòng soi vào lòng mà hiểu nhau. Đem lòng mà ứng xử với nhau là nguyên tắc cao nhất. Văn chương xưa nói về tấm lòng đã nhiều nhưng mấy ai đã đặt tấm lòng thành những tấm gương song song soi vào trong nhau như vậy. Điều thú vị là trong Truyện Kiều không chỉ những kẻ trung thực, chân thành nói đến lòng, mà cả những kẻ giả dối, lừa đảo, tàn ác cũng luôn miệng xoen xoét nói tới "lòng" như một chiêu bài lừa mị, dối trá. Tú Bà nói: "Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!". Sở Khanh nói: "Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng!". Bạc Hạnh cũng làm một việc như vậy: "Trước sân lòng đã giãi lòng". Để cho kẻ lừa đảo, giả dối nói năng giống hệt như những người trung thực, chứng tỏ Nguyễn Du đã thâm thuý, hóm hỉnh nhìn thấu suốt mọi bề chân giả và gan ruột người đời!.

Một chữ khác cũng rất tiêu biểu cho con người của Nguyễn Du là chữ "ai". Nguyễn Du nhìn con người qua một chữ "ai" phổ biến nhân tính: "Thịt da ai cũng là người", "Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho đang?", "Tấm lòng ân ái ai ai cũng lòng", "Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai", "Công danh ai dứt lối nào cho qua"… Ông có sẵn một quan niệm về con người trần thế, thực tế, tự nhiên để đánh giá mọi người, mọi việc trong truyện. Nhờ thế mà cách cảm nhận, đánh giá của ông đã trải qua hàng trăm năm mà không cũ.

Dĩ nhiên từ "lòng", từ "ai" là những từ phổ thông của tiếng Việt. Nhưng không phải ai cũng sử dụng như nhau. Một cách sử dụng đều đặn, nhất quán, chứng tỏ nhà thơ đã đặt vào đó một quan điểm riêng, một nghĩa riêng của mình.

Thật vậy, Cung oán ngâm khúc(1), theo bản của Nguyễn Lộc khảo đính, có 13 chữ "ai", thì phần nhiều là dùng để chỉ trời, chỉ vua, chỉ bản thân dưới hình thức nghi vấn. Bản Chinh phụ ngâm diễn ca(2) do Nguyễn Thạch Giang hiệu khảo có 10 chữ "ai" thì 6 trường hợp chỉ trạng thái không có người (ví dụ: "Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn"), một trường hợp chỉ trời, hai trường hợp chỉ người cụ thể. Chỉ có một trường hợp nói tới con người phổ biến: "Tình gia thất nào ai chẳng có". Truyện Hoa Tiên(3) do Nguyễn Thiện nhuận sắc và do Đào Duy Anh khảo đính có 72 chữ "ai" thì tuyệt đại bộ phận đều là từ phiếm chỉ dùng để nói tới người cụ thể một cách duyên dáng, ý nhị. Ví dụ: "Vì ai cho luỵ đến ai - Thà liều mệnh bạc kẻo sai chữ đồng", "Nào ai gió lật trăng lừa với ai", "Ai hay ai cũng còn lòng chửa quên", "Nợ kia ai lại làm rầu rĩ ai",…

Truyện Kiềucó 108 chữ "ai", thì phần nhiều dùng để chỉ tất cả mọi người, ai cũng như ai, không trừ một ai. Đó là anh, tôi, là tất cả. Đó là chữ "ai" rất Nguyễn Du.

Đọc Truyện Kiều chúng tôi còn nhận thấy một chữ rất thú vị là chữ "chút". Từ điển "Truyện Kiều" của Đào Duy Anh thống kê có 47 trường hợp. Đây là một chữ "rất Nguyễn Du", hầu như chưa thấy ai dùng nhiều như thế bao giờ:

- "Thì chi chút ước gọi là duyên sau"

- "Thưa rằngchút phận ngây thơ"

- "Được rày nhờ chút thơm rơi"

- "Của tin gọi một chút này làm ghi"

- "Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là"

- "Xót nàng chút phận thuyền quyên"

- "Rằng tôi bèo bọt chút thân"

- "Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa"

- "Đôi tachút nghĩa đèo bòng"

- "Chút còn ân ái chưa xong"

Nguyễn du còn nói "chút song thân", "chút xa xôi", "chút nghề chơi"… "Chút" là một uyển ngữ, nó làm cho sự vật được nói đến trở nên nhỏ hơn, bé đi và cách nói trở nên khiêm nhường, tao nhã. Nhưng chữ chút này còn mang ý vị một sự thể nghiệm nhân sinh. Chữ chút này nhà thơ thường dùng để chỉ phạm vi đời sống cá nhân. Và cá nhân trong cuộc đời là một cái gì rất bé nhỏ, yếu đuối, mỏng manh, dễ hư nát, dễ bị bỏ qua giữa bao điều to tát ở đời. Người xưa thường tự gắn mình với đạo nên cảm thấy mình rất vĩ đại và hùng mạnh: nào ngùn ngụt chính khí, nào đội trời đạp đất, nào dời non lấp bể, nào làm nên lịch sử. Họ lấy sự hùng mạnh của đạo làm nên sự hùng mạnh của chính mình. Trong xã hội đã thối nát, con người bị tuột ra khỏi mọi ràng buộc mới bắt đầu cảm thấy sự nhỏ bé của mình. Nguyễn Du nhìn ra rất rõ cái nhỏ bé của kiếp người. Và biết bao thương yêu, nâng niu trong chữ chút ấy.

Nguyễn Du là người không bao giờ ảo tưởng với đời. Đoạn Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe là một đoạn rất hay. Kim Trọng nghe xong, xúc động quá, khuyên Kiều từ nay đừng chơi khúc buồn ấy nữa. Kiều của Kim Vân Kiều truyện đã trả lời một câu dễ dãi: "Vâng, thiếp cũng cảm thấy như thế. Chỉ vì lúc nhỏ đọc thơ Ly Tao thương tình Khuất Tử phải chịu hàm oan, rồi nỗi oan ức ấy cứ ám ảnh tâm hồn thành ra thói quen muốn chừa không được. Ngày nay vâng lời dạy bảo, thiếp còn dạo lại khúc ấy làm chi?"(4). Kiều của Nguyễn Du trả lời như sau:

"Rằng quen mất nết đi rồi

Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao

Lời vàng vâng lĩnh ý cao

Hoạ dần dần bớt chút nào được không"

Kiều của Nguyễn Du không dễ dãi. Người xưa nói sông núi có thể biến đổi, mà tính trời thì khó đổi thay. Một điều đã thành "thói quen muốn chừa không được" nay làm sao chỉ một lời khuyên là bỏ được ngay! Kiều của Nguyễn Du là người tự biết mình và trung thực: Em nghe lời anh, nhưng may ra thì mới dần dần bỏ được chút ít! Hiển nhiên là một cô gái trạc tuổi 15 mà trả lời như vậy là hơi già trước tuổi. Nhưng ở đây có cảm thức của Nguyễn Du, có con mắt trải đời của tác giả.

Sinh con đẻ cái là việc tự nhiên của mỗi cặp vợ chồng, nhưng nghĩ tới nàng Vân xe duyên cùng Kim Trọng, Kiều cũng chỉ dám nghĩ tới một điều may mắn cho em:

"Duyên em dù nối chỉ hồng

May ra thì đã tay bồng tay mang"

Kiều của Nguyễn Du hầu như hiếm khi đoan chắc một điều gì tốt đẹp. Ngay khi nói "Rằng bây giờ mới thấy đây - Mà lòng đã chắc những ngày một hai", thì cũng là lời nói khi sự việc đã thành, và cũng thấy "Cũng may dây cát được nhờ bóng cây". Rõ ràng khắp nơi trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đều đóng dấu ấn chân dung của ông vào trong chữ nghĩa, ngôn ngữ.

Ta còn có thể tìm thêm nhiều hơn nữa những từ ngữ, cách dùng làm bằng chứng cho chân dung tâm hồn của Nguyễn Du. Đọc Truyện Kiều mà chỉ thấy Kiều, thấy xã hội, thấy đồng tiền, mà không thấy rõ một Nguyễn Du hàm ẩn thì thật tiếc nếu không muốn nói là chưa hiểu văn. Không phải một Nguyễn Du từng làm quan, đi sứ dưới triều nhà Nguyễn, mà là một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du tâm linh chan chứa nhân ái. Cũng không phải một Nguyễn Du dạy đời, răn đời, mà là một Nguyễn Du hiểu đời, đúng như lời nhận xét tinh tế của Cao Bá Quát: "Kim Vân Kiều là lời nói hiểu đời, Hoa tiên là lời nói răn đời vậy"(5).

 


(1) Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc. Nguyễn Lộc khảo đính, giới thiệu. NXB Văn học, Hà Nội, 1986.

(2) Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm diễn ca. Nguyễn Thạch Giang giới thiệu, hiệu khảo, chú giải, NXB Văn học, Hà Nội, 1987.

(3) Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện,Truyện Hoa Tiên, Đào Duy Anh khảo đính, chú thích, giới thiệu. NXB Văn học, Hà Nội, 1978.

(4) "Truyện Kiều" đối chiếu. NXB Hà Nội, 1991, tr.103.

(5) Tựa Truyện Hoa tiên, Truyện Hoa tiên, Tlđd, tr.10.

Họ Văn - Dòng họ thượng võ

Thứ năm, 11 Tháng 6 2020 21:00 Chuyên mục: Người xứ Nghệ

Cả xã Quỳnh Đôi tới nay có hơn 40 dòng họ, trong đó ba họ: Hồ, Nguyễn, Hoàng là những dòng họ có công khai phá và tạo dựng cơ đồ từ năm 1378. Không hiểu vì sao, họ Hồ cũng chỉ là một trong ba dòng họ đến mở đất, thế mà ngày nay, dân số họ Hồ chiếm hơn 50% dân số ở Quỳnh Đôi, các họ khác chỉ dưới 50% ? Vì vậy, khi một ai đó sống ở trong Nam, ngoài Bắc giới thiệu mình là người Quỳnh Đôi thì thường phải trả lời thêm câu hỏi: “Có phải họ Hồ không?”. Còn nếu ai đó giới thiệu mình họ Hồ, quê Quỳnh Lưu thì dường như khi nào cũng phải trả lời câu hỏi tiếp theo: “Có phải người làng Quỳnh Đôi không?”.

Họ Hồ là một trong ba dòng họ mở đất Làng Quỳnh; dòng họ Dương được xem là  dòng họ “gieo chữ” ở đây. Còn những dòng họ khác đem những tinh hoa của dòng họ mình tới Làng Quỳnh và đã tạo nên một làng quê giàu bản sắc văn hóa, ham học và học giỏi, đỗ đạt cao trong thi cử, có nhiều đóng góp quan trọng trong gần như tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, từ chính trị tới văn hóa, từ quân sự tới giáo dục, từ kinh tế tới nghệ thuật... Mỗi dòng họ ở Quỳnh Đôi có gốc rễ riêng, sự phát triển riêng nhưng họ đều có chung một tinh thần phấn đầu vì sự phát triển của Làng Quỳnh. Mỗi dòng họ đều có sự đóng góp quý giá vào truyền thống tốt đẹp.

Họ Văn là một trong những dòng họ ở Quỳnh Đôi. Họ Văn không đông người nhưng đã có những đóng góp đáng kể cho làng nói riêng và cho đất nước nói chung. Theo tài liệu mà những người nghiên cứu dòng họ Văn công bố, dòng họ Văn cũng đã ghi dấu ấn trong lịch sử nước Việt Nam rất sớm với những người đỗ đạt và làm quan từ thời tiền Lê.

 Họ Văn ngày nay                                          

 So với nhiều dòng họ khác ở Việt Nam, dòng họ Văn tương đối ít người. Vì vậy, mỗi khi người họ Văn xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, mọi người thường để ý. Trước hết, có một người rất nổi tiếng là cố Đại tướng, cố Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng khiến nhiều người quan tâm. Nhưng quan tâm, tìm hiểu rồi người ta lại cho rằng, họ “Văn” của Đại tướng Dũng là khi tham gia cách mạng rồi Đại tướng chọn, kiểu như bí danh ấy, còn trên thực tế, Đại tướng có thể mang một họ phổ biến thường thấy ở Việt Nam. Nhưng tôi phải khẳng định ngay: Họ Văn của Đại tướng Văn Tiến Dũng là họ gốc, họ của cha, ông Đại tướng.

Cách đây mấy chục năm, nổi lên mấy anh em họ Văn là những cầu thủ bóng đá nổi tiếng là Văn Sỹ Hùng, Văn Sỹ Thủy, Văn Sỹ Sơn góp phần khẳng định là ở Việt Nam có dòng họ Văn; nhất là họ có một ông bố Văn Sỹ Chi vẫn thường đồng hành cùng họ.

Bản thân Nhà giáo Văn Như Cương cũng công nhận là dòng họ Văn ít người. Điều này ông cũng có đặt câu hỏi và băn khoăn đôi chút. Chính vì thế khi thấy có người họ Văn, gặp người họ Văn là ông cảm thấy có cái gì đó thân thiết. Vốn là người mê bóng đá nên ông đánh giá cao anh em cầu thủ họ Văn. Ông còn đùa: “Họ Văn là những người đá bóng giỏi, không chỉ ở Việt Nam, mà còn trên thế giới nữa. Ví dụ,  những cầu thủ nổi tiếng như Van Basten, Van Persie, Van Bronckhorst, Van Nistelrooy… đều là người họ Văn, chỉ có điều ở Hà Lan, chữ không có dấu nên đọc là Van mà thôi”.

Đó là trước kia, còn thời gian gần đây, nhất là từ năm 2009 đến nay, hoạt động của con cháu họ Văn được đẩy mạnh khiến nhiều người quan tâm. Trước hết là việc thành lập Hôi đồng Văn tộc lâm thời. Sau đấy là huy động sức người, sức của để xây dựng nhà thờ Tổ. Mốc thời gian đáng nhớ là ngày 4/4/2009 , Hội đồng họ Văn nước Việt nam đã tổ chức lễ tế Tổ và Động thổ xây dựng nhà thờ Tổ trên núi Sứ, xã Mai hung - Quỳnh lưu - Nghệ An (nay là thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An). Tới dự có đông đủ các chi phái họ Văn trong cả nước, các tập thể và cá nhân con cháu, dâu rể họ Văn ở trong và ngoài nước. Hóa ra, người họ Văn đã tỏa ra khắp nơi trên đất nước Việt Nam, từ Quảng Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Thanh Hóa, Huế, Quảng Nam, đến Thành phố Hồ Chí Minh. Đương nhiên, Nghệ An vẫn là nơi người họ Văn sống nhiều nhất vì đây là nơi phát tích của dòng họ.

Đến năm 2012, họ Văn ở Việt Nam đã triệu tập Đại hội dòng họ toàn quốc lần thứ nhất tại Huế. Đại hội này được xem là đại hội thống nhất họ Văn Việt Nam. Tại đại hội này, Nhà giáo Văn Như Cương được bầu làm Chủ tịch Hội đồng gia tộc họ Văn. Sau sự kiện này, Nhà giáo Văn Như Cương phát biểu như sau:

“Tôi có một may mắn và vinh dự là hậu duệ đời thứ 4 của tiến sĩ Văn Đức Giai , và trong thâm tâm tôi rất mong muốn được góp phần vào công việc còn dang dở của đấng tiền nhân. Trong Đại hội vừa qua, lúc đầu tôi đã định thoái thác sự đề cử của hội nghị trù bị vào chức Chủ tịch Hội đồng Tộc Văn Việt Nam, với lí do tuổi cao sức yếu. Nhưng sự từ chối ấy đã vấp phải sự không đồng thuận của Đại hội, cũng như sự mách bảo của tiền nhân, nên tôi đã nhận lời với một quyết tâm cao. Tôi càng vững tâm hơn vì sự động viên khích lệ của các đại biểu, và  vì bên cạnh tôi có 16 vị trong ban Chấp hành rất tâm huyết, đặc biệt có những thanh niên rất nhiệt tình với dòng họ, những nhà  doanh nghiệp có điều kiện, những nhà lãnh đạo có kinh nghiệm đã về hưu ….  

Tôi  xin hứa với bà con họ Văn và xin thề nguyện trước vong linh tiên tổ rằng tôi sẽ hết sức làm việc vì sự nghiệp phát triển và thịnh vượng của họ Văn chúng ta.

Đôi lời ngắn ngủi tôi xin gửi tới bà con họ Văn xa gần , trong nước cũng như ngoài nước”.

Sau khi Nhà giáo Văn Như Cương đảm nhiệm chức vụ này, nhiều người tích cực quan tâm tới lịch sử dòng họ Văn và tìm thấy nhiều điều có ý nghĩa to lớn. Những gì chúng tôi đề cập tới ở đây, chủ yếu dựa vào tài liệu của các nhà nghiên cứu họ Văn là các ông Văn Sỹ Thọ, Văn Viết Thiện, Văn Công Hùng và một số nhà nghiên cứu khác.

Nguồn gốc, truyền thuyết và nơi phát tích họ Văn

Về nguồn gốc của dòng họ Văn -  còn một số điều cần làm sáng tỏ. Thật ra, đây là một vấn đề của rất nhiều dòng họ chứ không riêng gì họ Văn. Có lẽ điều này liên quan đến việc ngày xưa, dân ta ít người biết chữ, lại cũng ít phương tiện để ghi chép và truyền lại cho thế hệ mai sau. Lịch sử của nhiều dòng họ, về thuở sơ khai, thường chỉ được truyền miệng. Mà truyền miệng thì sẽ có nhiều dị bản, có sự suy đoán và thường gắn với những sự tích nửa hư, nửa thực. Dòng họ Văn cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Các nhà sử học và nhân chủng học cho rằng, họ Văn là một dòng họ của người thuộc vùng văn hóa Đông Á. Họ này có mặt ở Việt Nam, Trung Quốc và Triều Tiên. Còn các nhà nghiên cứu ở Việt Nam (chủ yếu là người họ Văn) cho rằng, họ Văn ở Việt Nam phát tích tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Điều này trước hết liên quan đến di cảo của ông Cao Biền. Sau đó được một người xuất sắc của dòng họ Văn là ông Văn Đức Giai dày công tìm hiểu, nghiên cứu và lưu lại trong những ghi chép của mình.

Những thông tin về dòng họ Văn được chúng tôi đề cập đến trong quyển sách này, chủ yếu dựa vào nội dung công bố của các tác giả là người họ Văn như các ông Văn Sỹ Thọ, Văn Viết Thiện, Văn Công Hùng và một số nhà nghiên cứu khác. Những tại liệu này có ở địa chỉ http://hovanvietnam.com. Về nguồn gốc của dòng họ Văn, có hai ý kiến khác nhau: 1. Họ Văn xuất phát từ phương Bắc; 2. Họ Văn có nguồn gốc từ Champa (có dẫn ý kiến của Nhà sử học Trần Quốc Vượng). Tuy nhiên, mức độ tin cậy đến đâu, chúng tôi không dám khẳng định. Vấn đề này nhường lại để những người họ Văn nghiên cứu và công bố trong tương lai.

Hiện tại, chúng tôi chỉ dám căn cứ vào những tài liệu mà những người nghiên cứu họ Văn công bố, đặc biệt những gì liên quan đến dòng họ Văn ở Quỳnh Đôi làm cơ sở để nói về Nhà giáo Văn Như Cương.

Trước hết, khi đề cập đến nguồn gốc họ Văn ở Việt Nam thì người ta dựa vào một số tài liệu bằng chữ Hán Nôm được ông Văn Sỹ Thọ dịch và công bố. Đấy là một bài Vè tích Văn tộc, theo di cảo của ông Cao Biền (nhà địa lý tài ba, nổi tiếng với những truyền thuyết) và theo bài viết của Tiến sĩ Văn Đức Giai. Về hai nhân vật sống cách nhau hàng ngàn năm nhưng đều để lại dấu ấn to lớn và quan trọng trong việc tìm hiểu gốc tích họ Văn ở Việt Nam có nhiều điều rất đáng nói.

Trước hết, nói về ông Cao Biền. Có rất nhiều chuyện kể mang tính huyền thoại về ông Cao Biền lan truyền ở Việt Nam. Còn theo sử sách, Cao Biền (821 - 887) là một danh tướng, đạo sư, thầy địa lý, kiến trúc sư và nhà tiên tri sống vào thế kỷ IX, thời Đường mạt. Ông có tên tự là Thiên Lý, là thuộc hạ của Đường Tuyên Tông, Đường Ý Tông,  Đường Hy Tông và Đường Chiêu Tông - ba vị vua gần cuối cùng của thời hậu Đường, lúc triều Đường chìm trong tình trạng đại loạn, nạn tranh đoạt, cát cứ diễn ra khắp nơi. Cao Biền là một tướng giỏi nhưng có cuộc đời binh nghiệp thăng trầm và cuối cùng cũng bị giết chết trong những cuộc tranh chấp liên miên giữa các phe phái.

Ngoài việc quân, Cao Biền là một thầy địa lý, có con mắt tinh tường trong việc xem thế đất, thế sông, thế núi để tạo dựng thành quách, cũng như trấn yểm những vùng đất thiêng. Ông được xem như một thấy phù thủy “đi mây về gió”, có nhiều phép thuật thần thông nhưng nhìn chung vẫn là người thất bại. Cụm từ “Cao Biền dậy non” nói lên điều đó. Chuyện này liên quan đến huyền tích khá hoang đường là Cao Biền có thể biến những hạt đậu thành âm binh. Tuy nhiên, khi Cao Biền thực hiện điều này thường không trọn vẹn nên đội quân âm binh của Cao Biền không hoàn chỉnh, không thực hiện được sứ mệnh của mình.

Với tư cách là thầy địa lý, Cao Biền rất nổi tiếng với huyền thoại “Long Mạch đất Việt với Cao Biền” kèm theo rất nhiều khảo dị. Chuyện kể rằng, hai vợ chồng Cao Biền vốn là người phương Bắc nhưng đã đến vùng đất phía Nam (nay là Việt Nam), lấy nơi này làm quê hương, bản quán. Vợ của ông Cao Biền được xem là tổ sư nghề lụa Hà Đông, còn bản thân Cao Biền là danh tướng, đạo sư, thầy địa lý, nhà tiên tri. Ông đã để lại di cảo liên quan đến đất mộ Tổ của dòng họ Văn.

Căn cứ vào di cảo của ông Cao Biền để lại, ông Văn Đức Giai đã tìm tòi, nghiên cứu, ghi chép và chỉ ra nơi có mộ Tổ họ Văn tại núi Sứ, thuộc địa phận xã Mai Hùng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (nay thuộc Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An). Ngày nay ở nơi này, con cháu họ Văn trong cả nước đã xây dựng quần thể lăng mộ khang trang.

Xa xưa có đôi vợ chồng (được gọi là Ông Bà) từ phương Bắc di cư đến phương Nam, khi đến vùng đất Châu Ái (vùng đất Nghệ - Tỉnh ngày nay) thì ở lại, sinh sống bằng nghề chèo đò trên sông Mai (nay thuộc xã Mai Hùng, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An). Ông Bà làm ăn chăm chỉ, sinh hạ con cái, nuôi dưỡng, dạy bảo cẩn thận. Tuy là những người tha hương, cuộc sống nghèo khó nhưng Ông Bà lại khí khái, hay làm việc nghĩa, ghét bỏ gian ngoa, xu nịnh. Với phương châm “Kính sở tôn, ái sở thân”, Ông Bà được nhân dân khắp vùng quý trọng.

Gần ngôi nhà Ông Bà ở có cây đa cổ thụ, sau một đêm mưa to bão lớn, cây đa bị đổ, sáng ra Ông Bà thấy ở gốc đa có mấy cái tiểu, mở xem thì đó là mấy tiểu vàng. Ông Bà đem vào cất giữ trong nhà, đợi có người mất của đến tìm lại sẽ trao lại cho họ. Dù nhặt được nhiều vàng nhưng Ông Bà vẫn sống bằng nghề chèo đò ngang sông, ăn mặc đạm bạc như xưa.

Một thời gian sau, có mấy người từ phương xa đến, có ý tìm kiếm (theo di chúc của người trước để lại và sơ đồ của người xưa để lại). Ông Bà biết là mấy tiểu vàng đó là của các vị khách kia, mang ra trao lại cho khách. Sau khi nhận lại vàng, các vị khách xin biếu Ông Bà một nửa số vàng; song, Ông Bà quyết không nhận, vì cho rằng, của đó không chính do mồ hôi của mình làm nên.

Cảm kích trước tấm lòng cao cả của Ông Bà, những người khách tìm thầy địa lý giỏi “tầm sơn điểm huyệt” với mục đích là sau này con cháu của Ông Bà đời đời hưởng phúc, công hầu khanh tướng vinh quang. Sau khi tìm được địa điểm ưng ý, lại thấy Ông Bà tuổi cao sức yếu, không còn sống được bao lâu nữa, họ bàn với Ông Bà nên biệt ly, hy sinh cao cả cho con cháu mai sau đời đời hưởng phúc. Ông Bà ngồi vào chum kiệu, ngậm sâm với ngọn đèn bách nhật chôn xuống huyệt. Cảnh biệt ly đó được dấu kín, dân quanh vùng không ai biết. Con cháu trong nhà vẫn chèo đò ngang, tiếp nối nghề của cha ông kiếm sống.

Mấy năm sau, có tướng giặc bị quân triều đình đánh trọng thương ở cửa Lạch Cờn, chạy vào Hoàng Mai. Đến đây, ông tướng gặp con cháu Ông Bà chèo đò thì xin ăn và mong được cứu chữa. Sau khi được cho ăn và cứu chữa, tướng giặc tự trói tay và tự thú với người chèo đò xin hàng, yêu cầu gia đình đem nộp lên nhà quan để hưởng công.

Do đã có công lớn bắt được tướng giặc, nên triều đình lúc bấy giờ đã thưởng công, cho con cháu của Ông Bà được vào ăn học trong triều. Con cháu Ông Bà học giỏi nên từ đó nổi lên một họ có nhiều người thành đạt trong chốn quan trường về cả văn, lẫn võ trải dài qua các triều đại lịch sử của dân tộc ta. Đó chính là dòng tộc họ Văn.

Những gì liên quan đến sự tích Ông Bà chỉ được truyền miệng và mãi sau này mới được ghi lại. Có thể thấy sự tích được kể lại có trình tự, lớp lang, hợp lý lẽ. Tuy nhiên, ở đây vẫn nhuốm màu huyền thoại, bi hùng. Điều này có lẽ liên quan đến thầy địa lý Cao Biền - người được cho là có phép thuật.

Hiện nay, những ai đi trên Quốc lộ 1A, khi đến địa phận thị xã Hoàng Mai, nếu để ý sẽ thấy bảng chỉ dẫn lên Mộ tổ và nhà thờ họ Văn. Ngày 14/11/2013, con cháu dòng họ Văn đại tôn ở phường Phương Mai, thị xã Hoàng Mai thật vinh dự và tự hào được UBND tỉnh Quyết định công nhận di tích văn hóa: Mộ tổ và nhà thờ họ Văn đại tôn ở phường Phương Mai, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An - Một dòng họ có truyền thống "văn võ song toàn" qua nhiều triều đại, tiêu biểu như: Tiến sĩ Văn Đức Giai, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng, Giáo sư Văn Như Cương...

Khu mộ tổ là Thủy tổ của dòng họ Văn Việt nam đại tôn được tọa lạc hơn 1.000 năm trên một ngọn núi với thế lưng tựa núi mặt nhìn sông rất đắc địa, linh thiêng, dưới chân mộ là nhà thờ được con cháu họ Văn trong cả nước đóng góp, tu bổ, xây dựng xong năm 2012.

Từ nay, quần thể Mộ tổ và nhà thờ họ Văn Việt Nam đại tôn ở phường Phương Mai, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An không chỉ là di tích của dòng họ mà đã trở thành di tích văn hóa của đất nước được bảo vệ theo Quyết định số 4018/QD-UBND, ngày 16/9/2013 của UBND tỉnh Nghệ An.

Theo mô tả của một số vị cao niên học Văn, nơi phát tích Mộ tổ họ Văn rất hùng vĩ và có vẻ huyền bí, linh thiêng. Chúng tôi không dám bình luận gì thêm. Chúng tôi chỉ khẳng định khu Mộ tổ họ Văn hiện nay được xây dựng hoành tráng và đã được công nhận là di tích văn hóa. Hiện nay, không chỉ con cháu họ Văn mới đến đây hành lễ, mà rất nhiều nhà nghiên cứu cũng đến đây để tìm hiểu. Ngoài ra, du khách thập phương cũng đến để chiêm ngưỡng.

Danh nhân họ Văn

Theo sử sách, dòng họ Văn đã góp mặt trong quan trường, có chức sắc từ Triều Trần. Nổi bật nhất là ôngVăn Thế, một võ tướng. Năm 1250, ông Văn Thế được phong là Chế Đại Vương. Sau này, con cháu của Chế Đại Vương đều có công lớn trong việc dẹp giặc; họ đều có quyền cao, chức trọng. Về quan võ, theo danh sách trong “Họ Văn Việt Nam”, họ Văn có hàng mấy chục người là tướng tài, từ ông Văn Thế ở Triều Trần, đến ông Văn Tiến Dũng, làm đến chức Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thời đại Hồ Chí Minh.

Về học thuật, khoa cử, những người họ Văn cũng có những thành tích nổi bật qua các thời ký lịch sử. Hơn 20 cái tên của những người nổi bật được kể ra, bắt đầu là ông Văn Vỹ (sinh năm 1470 tại xã Ái Vũ huyện Bạch Hạc - nay thuộc xã Đại Tự -Vĩnh Lạc - Vĩnh Phú). Năm  27 tuổi, ông Văn Vỹ đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ (bia đá Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội số: 1310). Làm quan đến chức Hình Khoa Đô Cấp Sự Trung. Nhà giáo Văn Như Cương được kể tới trong danh sách này.

Tuy nhiên, cái tên nổi bật nhất trong những danh nhân họ Văn, chắc là ông Văn Đức Giai (1809-1867). Thứ nhất, ông vừa là người đỗ đạt cao, văn võ song toàn, làm quan thanh liêm, đánh trận giỏi. Những đóng góp của ông cho Triều đình nhà Nguyễn rất có giá trị, đến nỗi vua Tự Đức yêu mến, đổi tên cho ông từ Văn Đức Giai thành Văn Đức Khuê - ý vua muốn khen cận thần Văn Đức Giai là người tài giỏi, như là ngôi sao sáng. Như vậy Văn Đức Giai và Văn Đức Khuê là một người chứ không phải là hai người như một số người sau này nhầm tưởng. Thứ hai, ông là người có ý thức đi tìm nguồn gốc của dòng họ Văn. Dựa vào di cảo của Cao Biền, ông Văn Đức Giai đã tìm hiểu, khảo sát và tìm về huyệt mộ núi Sứ. Những ghi chép của ông về điều này là cơ sở để những người họ Văn về sau tìm ra nơi phát tích dòng họ Văn. Hơn thế nữa, ông cũng đã có ý thức viết về những người họ Văn thành đạt qua các triều đại vua chúa ở Việt Nam.

Có thể còn nhiều các danh nhân quan văn, võ ở trong các gia phả của các Chi Phái, chúng ta chưa thể truy tầm hết, hy vọng một ngày gần đây, Văn Tộc của chúng ta sẽ có một ban chuyên nghiên cứu về lịch sử của dòng tộc mình tương đối đầy đủ và chính xác hơn. Song với tài liệu ít ỏi này cũng đã nói lên được rằng:

 “Họ Văn chúng ta rất ít, song bất cứ hoàn cảnh nào của lịch sử dân tộc, họ Văn chúng ta cũng có những người xả thân vì nước vì dân”.

Họ Văn ở Việt Nam là một dòng họ thượng võ, dù số người không đông nhưng đã có những đóng góp đáng kể vào công việc giữ gìn bờ cõi qua nhiều triều đại.

Nhà giáo Văn Như Cương sinh ra ở vùng đất “địa linh, nhân kiệt”, lại là con cháu của họ Văn - một dòng họ thượng võ, vì vậy ông có đầy đủ điều kiện để có những đóng góp có ý nghĩa cho đất nước. Điều tuyệt vời là ông có những đóng góp có giá trị trong lĩnh vực giáo dục.   

__________________________________

Rút từ sách: Nhà giáo Văn Như Cương và những điều còn mãi               

...

3. Không gian nghệ thuật của Truyện Kiều

Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình ở trong đó. Mô hình không gian bao giờ cũng là một thể thống nhất bị phân giới thành cặp đối lập như nơi cao quý và nơi ô trọc, quê mình và quê người, gần gủi và xa cách, bên trong và bên ngoài…mà con người buộc phải trải qua đường ranh giới của chúng để thể hiện mình. Không gian nghệ thuật gắn liền với quan niệm về con người và góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy.

Truyện Kiềucủa Nguyễn Du là một tiểu thuyết lưu lạc, kể về một cuộc đời ba chìm bảy nổi, từ nơi cao quý sa vào nơi ô trọc và vật lộn, trăn trở đề giải thoát và trở về với không gian ban đầu. Đặc điểm của tiểu thuyết lưu lạc, cũng như của tiểu thuyết phiêu lưu nói chung là nhân vật phải trải qua liên tục nhiều không gian xa lạ. Sau mỗi biến cố, nhân vật lại bị ném vào một không gian mới đầy xa lạ, nhiều hiểm hoạ. Trong mười lăm năm lưu lạc giang hồ Kiều đã rời bỏ quê hương Bắc Kinh, tỉnh Hà Bắc, theo Mã Giám Sinh về lầu xanh ở Lâm Tri, tỉnh Sơn Đông. Sau khi được Thúc Sinh cứu, bị lũ Ưng Khuyển bắt về nhà Hoạn Thư ở Vô Tích, tỉnh Giang Tô. Trốn khỏi nhà Hoạn Thư, Kiều rơi vào nhà họ Bạc và bị bán về Châu Thai, tỉnh Triết Giang. Sau khi Từ Hải chết, Kiều tự tử ở sông Tiền Đường và trôi dạt về quận Nam Bình, tỉnh Phúc Kiến, tại đây nàng may mắn gặp lại Kim Trọng và gia đình theo chàng tới nơi trị nhậm. Quả là một không gian lưu lạc nghìn dặm! Tuy nhiên, bảng liệt kê các không gian địa lý không đặc trưng cho không gian nghệ thuật của truyện. Đó chỉ mới là cái nền khách quan bề ngoài tạo nên cái không gian lưu lạc mênh mông, mịt mù của tiểu thuyết. Cũng xin nói thêm, đó là không gian Trung Quốc xa lạ và xa xôi.

Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của sự sống con người, gắn liền với ý niệm về giá trị và sự cảm nhận về giới hạn giá trị của con người. Không gian nghệ thuật có thể xem là một "không quyển" tinh thần bao bọc cảm thức con người, là một hiện tượng nội cảm, giá trị, chứ không phải là hiện tượng địa lý và vật lý. Không gian địa lý, vật lý xung quanh chỉ là yếu tố mang không gian giá trị của con người.

Không gian trước lưu lạc bao giờ cũng là một không gian bình ổn, vững chãi, tượng trưng cho giá trị chuẩn mực. Không gian trong Truyện Kiều cũng vậy:

"Êm đềm trướng rủ màn che

Tường đông ong bướm đi về mặc ai"

Nhưng đó cũng là không gian cấm cung, giam hãm mà Kiều sẽ phải thoát để ra đi theo tiếng gọi của hạnh phúc. Vì thế Truyện Kiều đồng thời cũng là tiểu thuyết giải thoát. Giải thoát và lưu lạc, hai tính chất của cuộc đời Kiều.

Không gian lưu lạc của Kiều bắt đầu từ sau giấc mơ đầu tiên gặp Đạm Tiên:

"Một mình lưỡng lự canh chày

Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh

Hoa trôi bèo dạt đã đành

Biết duyên mình biết phận mình thế thôi"

Không gian lưu lạc là không gian mà mọi mối liên hệ của con người đã bị đứt tung, con người không còn nơi bấu víu, trở nên lênh đênh, vô định, trôi dạt, lơ lửng. Nguyễn Du đã láy đi láy lại cái hình ảnh "mặt nước cánh bèo", "nước trôi hoa rụng", "chiếc bách sóng đào":

- "Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"

- "Để con bèo nổi mây chìm vì ai"

- "Lỡ làng chút phận thuyền quyên

Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"

- "Bể trần chìm nổi thuyền quyên"

- "… chiếc bách sóng đào,

Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may"

- "Phận bèo bao quản nước sa,

Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh"

- "Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,

Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân"

- "… chiếc bách giữa dòng,

E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa"

- "Chân trời mặt bể lênh đênh

Nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào"

- "Mênh mông nào biết bể trời nơi nao"

- Hoa trôi nước chảy xuôi dòng,

Xót thân chìm nổi đau lòng hợp tan"

Dù Kiều trôi dạt nơi nào, không gian "cánh bèo mặt nước" vẫn đi theo như số phận của nàng. "Hoa trôi bèo dạt" là một mẫu gốc (nguyên hình) được kết đọng trong tâm hồn người phương Đông bởi lặp đi lặp lại vô vàn trường hợp con người bị bứt khỏi gia đình, quê hương, nguồn cội. Nhưng mặt khác với không gian này người đọc lại cảm thấy hết sức thân quen, gần gũi, bởi đó là cảm thức về một không gian xã hội thù địch với sự sống của con người. Không ai có thể sống yên ổn trong không gian đó. Đây đúng là cảm nhận về không gian, xuất hiện trong tâm tình nhân vật, nhưng chính cái cảm nhận này đã in dấu vào trong không gian vật chất, định hướng cho ta cảm nhận nó. Không gian gắn liền với tư thế ứng xử. Ở không gian lưu lạc con người buộc phải liều lĩnh, bất chấp tất cả:

- "Cũng liều nhắm mắt đưa chân

Mà xem con tạo xoay vần đến đâu"

- "Biết thân chạy chẳng khỏi trời,

Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh"…

Kiều đã chọi lại Sở Khanh, vặn lại Tú Bà, đã ăn cắp chuông khánh, đã nói dối Giác Duyên, nhưng đồng thời nàng vẫn luôn luôn khiếp sợ, hãi hùng: "E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa", "Một mình khôn biết làm sao - Dặm trường bước thấp bước cao hãi hùng". Nỗi khiếp sợ Hoạn Thư của Kiều được cực tả tài tình:

"Nghe thôi kinh hãi xiết đâu

Đàn bà thế ấy, thấy âu một người

Ấy mới gan, ấy mới tài

Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời"…

Trong văn học Việt Nam cổ điển, dễ thường rất hiếm có hình tượng nhân vật chính diện lại thể hiện sự khiếp sợ. Khiếp sợ như một phẩm chất tầm thường, chỉ thuộc loại người hèn nhát, đối lập hẳn với phẩm chất khí phách, bất khuất truyền thống, không thể ở cùng dãy với các phẩm chất trung, hiếu, tiết, nghĩa, trinh, liệt, là những phẩm chất lý tưởng. Như vậy không gian lưu lạc giúp bộc lộ những phẩm chất phi lý tưởng của nhân vật ngay trong không khí đạo đức lý tưởng rất đậm đặc. Khiếp sợ như một cảm thức hiện sinh mà Kierkegaad xác nhận đã được hé lộ trong Truyện Kiều khi nhân vật phát hiện mình đứng trước hư vô. Tác giả đã khẳng định những tính chất, thuộc tính người phổ biến, đồng thời cũng thể hiện tấm lòng thông cảm, bao dung rất mực của ông. Con người lưu lạc là con người đã đánh mất tất cả, con người bị đánh bật khỏi địa vị tốt đẹp trong bậc thang xã hội, lúc đó nó chỉ có thể bộc lộ một tính người không ràng buộc mà thôi. Ý kiến cho rằng Kiều chỉ là một nhân vật lý tưởng, hoặc lý tưởng hoá hơn nguyên tác, có lẽ chỉ đúng ở một vài khía cạnh nào đó, do tình tiết nguyên tác gợi nên, còn trong truyện, do Nguyễn Du đặt trọng tâm vào không gian lưu lạc, tính cách nhân vật đã đổi khác.

Đối với con người trung đại, gia đình, nguồn cội, quê hương là cái không gian đảm bảo cho sự yên ổn, giá trị, mà một khi rời bỏ nó thì con người trở nên yếu đuối, trống rỗng như tự đánh mất mình. Không gian sống của Kiều như chia làm hai nửa: quê mình và quê người (tha hương), và quê người là một không gian xa lạ, đau khổ, bơ vơ cho bất cứ ai. Kiều là nhân vật mang không gian gia đình trong người, lạ sống giữa không gian lưu lạc:

- "Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề"

- "Buồn trông phong cảnh quê người"

- "Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu"

- "Sống nhờ đất khách thác chôn quê người"

- "Nắng mưathui thủi quê người một thân"

- "Chung quanh những nước non người

     Đau lòng lưu lạcnên vài bốn câu"

- "Dặm nghìn nước thẳm non xa

    Biết đâu thân phận con ra thế này"

-"Cửa người đày đoạ chút thân,

 Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu"

- "Chỉn e đất khách một mình"

- "Những là lạ nước lạ non"

Con người lưu lạc là chiếc lá bị bứt khỏi cây, là con chim lìa khỏi đàn, trở thành kẻ cô đơn, bơ vơ, muôn dặm một mình:

- "Thiếp như con én lạc đàn"

- "Thiếp như hoa đã lìa cành"

- "Từ phen chiếc lá lìa rừng"

- "Xót thay chiếc lá bơ vơ"

Và không gian quê người được cảm nhận như là nơi tận cùng trời đất, xa xôi rợn ngợp:

- "Ngoài nghìn dặm, chốc ba đông"

- "Cho đành lòng kẻchân mây cuối trời"

- "Đầu cành quyên nhặt,cuối trời nhạn thưa"

- "Từ đâygóc bể bên trời"

- "Nàng thìdặm khách xa xăm"

- "Bên trời góc bể bơ vơ"

- "Song sa vò võ phương trời"

-"… non nước xa khơi"

- "Chân trời mặt bể lênh đênh"

Một khi không gian tha hương đã được cảm nhận là nơi hẻo lánh, xa xăm, nơi "chân trời góc bể" thì nó cũng được cảm nhận như là nơi cách trở, nơi phân chia quê mình và quê người, là nơi biên ải xa lạ. Địa bàn của các sự kiện Truyện Kiều rõ ràng là không phải nơi biên ải. Song cảm quan biên ải dường như luôn luôn thường trực trong tâm hồn nhân vật chính. Kiều tiễn Thúc Sinh ở Sơn Đông (Lâm Tri), nhưng khi chia tay thì:

"Tiễn đưa một chén quan hà,

Xuân Đình thoắt đã đổi ra Cao Đình"

Xuân Đình đang là nơi họp mặt, vui chơi thoắt một cái thành ra Cao Đình. Cao Đình là một ngọn núi ở ngoại ô phía Bắc thành phố Hàng Châu tỉnh Triết Giang, vào thời Nam Tống là cửa ải vào Lâm An, nơi có con đường rẽ, người ta thường chia tay nhau. Thơ cổ có câu: "Cao Đình tương biệt xứ"(*). Cảm giác chia tay biên ải lại hiện ra ngay trong câu thơ tiếp theo:

"Sông Tần một dải xanh xanh,

Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan"

Dương Quan là cửa ải ở tỉnh Cam Túc. Nhà thơ Vương Duy có câu: "Tây xuất Dương Quan vô cố nhân" (Ra khỏi cửa Dương Quan phía tây sẽ không có bạn cũ đâu). Không thể hiểu là nhân vật đang ở Sơn Đông, thoắt cái hiện ra ở Triết Giang, lại thoắt cái nữa hiện ra ở Cam Túc! Chỉ có thể hiểu là, khi chia tay thì tất cả phong cảnh trước mắt đều nhuốm một màu biên ải ảm đạm, và bao nhiêu địa danh, biên ải xa xôi bỗng chốc tụ về, tạo thành cái cảm thức biên ải đậm đặc. Người đọc có cảm tưởng rằng, nếu không phải là người đã từng đi sứ, xa quê mấy nghìn dặm thì làm sao có được sự cảm nhận không gian xa cách đến như thế:

"Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san"

Có thể nói, cùng với môtip "mặt nước cánh bèo", “quê người đất khách”, "chân trời góc bể", "ải quan" cũng là một mẫu gốc không gian được kết đọng trong kinh nghiệm lâu đời, dễ dàng gây xúc động về thân phận cô đơn, bé nhỏ của con người trước không gian bao la, xa lạ, cách trở.

Trong không gian lưu lạc, chí hướng của con người là hướng về quê cũ, nhớ về cội nguồn:

- "Bốn phương mây trắng một màu

Trông vời cố quốc biết đâu là nhà"

- "Đoái thương muôn dặm tử phần

Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa"

- "Tấc lòng cố quốc tha hương

Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời"…

Không gian lưu lạc càng cho thấy rõ Kiều là con người của gia đình, một bộ phận của chỉnh thể tự nhiên bền vững, hoặc của làng quê, cộng đồng. Kiều mang không gian gia đình trong mình. Bảy lần Kiều nhớ nhà là bảy lần nhớ tới những người thân trong tinh thần nghĩa vụ, và xót thương thân phận lạc loài.

Không gian lưu lạc, một dạng của không gian phiêu lưu là không gian rất đặc trưng cho tiểu thuyết; ở đó con người buộc phải sống bên ngoài các giới hạn và khuôn khổ vốn có của mình, một mình phải đương đầu với thế giới bằng tất cả những gì mà nó có. Bakhtin coi đó là không gian tiêu biểu làm bộc lộ con người trong con người.

Cần nói thêm rằng Kiều của Thanh Tâm tài nhân rất ít cảm thức lưu lạc. Khi mơ thấy Đạm Tiên hẹn gặp ở Tiền Đường, Thuý Kiều ngơ ngác tự hỏi: "Vậy thì sông đó ở đâu? Nghĩ đi nghĩ lại, khiến nàng động mối thương tâm, khóc lên nức nở". Còn Kiều của Nguyễn Du thì đã cảm thấy rõ cái không gian của mình:

"Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh

Hoa trôi bèo dạt đã đành

Biết duyên mình biết phận mình thế thôi

Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi"…

Khi Kim Trọng phải về ngay để hộ tang chú, Kim Trọng chỉ kêu than mấy tiếng, còn Kiều của Thanh Tâm tài nhân thì an ủi chàng: "Chàng ôi, thiếp thường nghe nói: Nam nhi chí ở bốn phương, nhẽ đâu lại để mối tình nhi nữ ràng buộc? Thôi thì chàng hãy sớm liệu ra đi…". Một lời khuyên khuôn sáo và nhẹ bẫng, không hệ dự cảm thấy cái gì đang chờ đợi trước mắt.  Kim Trọng của Nguyễn Du trái lại nói những lời đầy dự cảm về sự cách trở xa xôi khôn lường:

"Gìn vàng giữ ngọc cho hay,

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời"…

Kiều của Nguyễn Du, ngoài lời thề thốt còn:

"Buồn trông phong cảnh quê người

Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa"

Khi cậy em thay lời. Thuý Kiều của Thanh Tâm tài nhân chỉ nói: "Chị đây cảm tấm tình của chàng, nhưng mà kiếp này đã lỡ, kiếp sau chị sẽ báo đền. Nói xong thì nàng ngất xỉu"… Kiều của Nguyễn Du vừa cậy em, vừa như nói với chàng Kim:

"Phận sao phận bạc như vôi

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng!

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Trong Kim Vân Kiều truyện, đoạn Kiều tiễn Thúc Sinh về nhà, kể rằng cả đêm hai người mải say giấc mộng Vu Sơn, mưa gió tràn trề kéo mãi cho đến trống canh năm. Khi trời tang tảng sáng, Thúc chỉ ngập ngừng nói hai tiếng "bảo trọng" rồi gạt lệ bước ra. Kiều muốn tiễn ra khỏi cửa, bỗng thấy Thúc Ông và các bạn đến tiễn, nàng phải đứng lại sau tấm bình phong. Hai bên chỉ trả lời nhau bằng đôi dòng nước mắt mà thôi. Kiều của Nguyễn Du đã tiễn chàng tới bên con ngựa và hai tay như đang nắm chặt vạt áo của chàng:

"Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san!"

Có thể nói cảm giác phiêu dạt, trôi nổi, lênh đênh là thường trực ở Kiều của Nguyễn Du, làm cho nhân vật có linh hồn, tâm trạng sống động sâu sắc, còn Kiều của Thanh Tâm tài nhân thì chỉ có cảm giác sinh hoạt thông thường.

Cảm thức lưu lạc ở Kiều của Nguyễn Du sở dĩ có được là do ảnh hưởng của thơ Đường; do mang nỗi niềm của bao ông quan đã từng bị trích, bị biếm, luân lạc lận đận như Bạch Cư Dị: "Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân - Tương phùng hà tất tằng tương thức?" (Đều là người luân lạc nơi chân trời - Gặp nhau đâu cần phải là quen biết nhau?); do chất chứa bao nhiêu cảnh tiễn biệt, như của Vương Duy: "Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu - Tây xuất Dương Quan vô cố nhân" (Khuyên anh uống thêm một chén rượu nữa - Ra khỏi cửa ải Dương Quan phía tây sẽ không có bạn cũ đâu!), bao nhiêu cảnh xa nhà, cảnh làm khách tha hương, những cảnh mà chính Nguyễn Du đã thể nghiệm trong đời làm quan và đi sứ. Đặc biệt trong đó có cảm nhận về số phận luân lạc của bao kẻ tài hoa bạc mệnh, trâm gãy bình tan, hoa trôi hoa rụng. Thiếu cảm giác ấy, thế giới tâm hồn, không gian nhân vật không thể gây được đồng cảm sâu sắc trong lòng người đọc đến như vậy.

Chính cái không gian nội cảm nói trên làm cho người ta quên mất đi câu chuyện đang xảy ra ở tại các địa danh xa lạ của Trung Quốc mà nhập thân sống với nhân vật như là đang ở Việt Nam. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai lúc sinh thời biết chúng tôi nghiên cứu không gian Truyện Kiều, đã nêu một câu hỏi ý vị: "Anh xem câu: "Lâm Tri đường bộ tháng chầy - Mà đường hải đạo sang ngay thì gần" là không gian nào?". Sau đó đọc Lều chõng của Ngô Tất Tố, trong đó có miêu tả đoạn đường từ Thăng Long vào kinh đô Huế mà các thí sinh xưa thường đi, chúng tôi thấy rất có thể câu thơ thấm nhuần cảm thức không gian từ Thăng Long vào kinh đô Huế: đi đường bộ thường mất hơn một tháng, mà đi đường thuỷ thì nhanh hơn nhiều. Có người đọc câu "Long lanh đáy nước in trời - Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng", liên tưởng tới cảnh sắc cố đô Huế với lầu son gác tía phản chiếu dưới dònh sông Hương, và câu "Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia" thì gợi lên trong ký ức những cồn cát triền miên của xứ Quảng Bình. Rất có thể không gian nghệ thuật Truyện Kiều có đặc điểm này: bề ngoài là tên đất, phong cảnh phương Bắc, nhưng cảm thức không gian nội cảm khoác lên trên đó lại là không gian Việt Nam gần gũi, hoặc không gian sống phổ quát của kiếp người.

Nhưng Truyện Kiều đồng thời cũng là tiểu thuyết về khát vọng giải thoát. Là một thiếu nữ trung đại, Thuý Kiều sống trong trùng trùng trói buộc, giam hãm mà nàng phải luôn luôn chủ động thoát ra để được sống như những con người. Khác với không gian của truyện cổ tích là không mang sức cản (người và cây cỏ, loài vật giao tiếp với nhau dễ dàng, làm ác, làm thiện, đi xa đều không bị gây cản trở, trái lại, thực hiện dễ dàng), không gian của tiểu thuyết thường là đầy sức cản để thử thách tính tích cực chủ động của con người.

Tuổi đào tơ của Kiều được vây bọc giữa những trướng rủ, màn che tượng trưng cho sự trinh trắng, nguyên vẹn:

"Êm đềm trướng rủ màn che

Tường đông ong bướm đi về mặc ai"

Trước mắt Kim Trọng, Kiều như một người đã bị khép kín hoàn toàn:

"Thâm nghiêm kín cổng cao tường

Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh"

Bức tường trở thành trở lực ngăn cách sự tiếp xúc của đôi trẻ. Bức tường, hàng rào cũng là một mẫu gốc kết đọng những kinh nghiệm bị ngăn cấm nghìn đời mà tình yêu muôn đời phải vượt qua. Không phải ngẫu nhiên mà trong Tây sương ký của Vương Thực Phủ, Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy phải vượt qua bức tường chùa Phổ Cứu, còn trong Rômêô và Giuyliet thì Rômêô phải vượt qua bức tường nhà Capulet để đến với người yêu. Sau này, bức tường là chủ đề của văn học hiện sinh như truyện ngắn Bức tường viết năm 1939 của J.P.Sactơrơ cho biết rằng trí tưởng tượng của con người thường không thể vượt qua khỏi những bước tường có sẵn của định mệnh.

Nguyễn Du nhiều lần láy đi láy lại môtip bị giam hãm của Kiều như khoá xuân, mấy lần cửa đóng then cài, đồng toả nguyên phong, còn Kim Trọng thì loay hoay sốt ruột ở bên ngoài: "Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông!", "Cách tường phải buổi êm trời", "Lần theo tường gấm dạo quanh". Nhà thơ như đứng trên cao hồi hộp nhìn xem đôi trẻ bị ngăn cách gặp nhau thế nào. Bức tường là hiện thân của trở lực, và không ai có thể bỏ qua được nó. Kiều thì: "Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ", Kim Trọng thì vội vàng "Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng", và cuối cùng là cuộc vượt tường: "Thang mây dón bước ngọn tường!".

Tuy đã vượt qua, nhưng bức tường vẫn luôn luôn là một ám ảnh: "Một tường tuyết trở sương che - Tin xuân đâu dễ đi về cho năng" mà hễ có dịp là "Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường", và cuối cùng là cảnh xắn tay thông tường vui vẻ:

"Cuối tường dường có nẻo thông mới rào

Xắn tay mở khoá động đào,

Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên thai!"

Chữ "dường" mới thật khéo. Không biết là có nẻo thông thật hay người ta cho là có để mở thông ra?

Ngoài bức tường vật chất, giữa hai người còn có bức tường của ý thức, cái bức tường mà Kim Trọng phải vấp trán khi "Xem trong âu yếm có chiều lả lơi", bức tường sau này làm cho Kiều dằn vặt đau khổ: "Vì ai ngăn đón gió đông - Thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi".

Cuộc đời lưu lạc của Kiều là một đời đầy những sự giam hãm và những cuộc chạy thoát. Vừa bán mình cho Mã Giám Sinh, Kiều rơi vào cảnh "Bốn bề xuân khoá một nàng ở trong". Ở lầu xanh sau khi Kiều tự tử được cứu, Tú Bà lại "Khoá buồng xuân để đợi ngày đào non". Ở đây lại xuất hiện bức tường và kẻ cách tường hoạ vần, rẽ song bây giờ là một tên lừa đảo. Đối với Kiều cửa công cũng là địa ngục. Nhà họ Hoạn danh gia cũng là địa ngục trần gian, "Dễ dò rốn bể khôn lường đáy sông", đầy hiểm hoạ. Quan Âm các chỉ là nơi giam lỏng, và Kiều buộc phải "Cất mình qua ngọn tường hoa - Lần đường theo bóng trăng tà về tây". Từ đó Kiều vào lầu xanh rồi được Từ Hải cứu thoát ra, Kiều rơi vào tay Hồ Tôn Hiến rồi lại tự giải thoát trên sông Tiền Đường, Kiều vào cửa không rồi lại được trở về đoàn tụ. Một chuỗi vòng trần ai như buộc lấy Kiều và cảm thức về thân phận cá chậu chim lồng là rất tiêu biểu: "Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao", cảm giác bất lực: "Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời", lòng khao khát một bầu trời, một đôi cánh: "Cánh hồng bay bổng tuyệt vời - Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm". Có thể nói từ trong tâm hồn, cảm thức nhân vật chính của Truyện Kiều luôn luôn sống trong một không gian tù túng, giam hãm và con người ấy luôn khao khát được vùng vẫy, giải thoát, giải phóng. Bức tường này vừa thực vừa hư. Nhưng nếu không giải thoát thì đời nàng không có ý nghĩa.

Không gian giam hãm và không gian lưu lạc là hai không gian chủ yếu của cuộc sống mà con người phải đối phó để tồn tại. Với hai không gian đó Nguyễn Du đã biểu hiện hết các cung bậc tình cảm chân thật của con người đương thời và còn có thể nói là của con người nói chung.

Có thể bạn đọc sẽ tiếc nuối mà nghĩ: giá như Nguyễn du đặt câu chuyện ấy vào không gian Việt Nam, kinh đô Việt Nam, thành thị Việt Nam! Sử dụng không gian nước ngoài cũng là một yêu cầu của nghệ thuật, yêu cầu xa lạ hoá, phổ quát hoá. Chúng ta biết chỉ vì câu "Dọc ngang nào biết trên đầu có ai" mà tương truyền Tự Đức còn muốn đánh đòn nhà thơ ba trăm gậy, thì nếu câu chuyện xảy ra ở Việt Nam, hậu quả rồi sẽ ra sao?!.

Nói đến không gian Truyện Kiều ta còn có thể nói tới không gian vũ trụ, yếu tố quy định ngôn ngữ không gian trong tác phẩm; không gian "cõi ngoài" của sư Tam Hợp, không gian "trong mộng" của hồn ma Đạm Tiên hư hư ảo ảo. Nhưng điều quan trọng là trong Truyện Kiều, tác giả thực sự đã giã từ không gian kịch để thực hiện một không gian tiểu thuyết đích thực. Không gian kịch là không gian chỉ cho phép người xem một chiều, xem từ phía các dãy ghế nhìn lên. Nếu xem từ cánh gà hay hậu trường thì sẽ thấy bề trái của các trang trí giả tạo, sẽ nghe thấy tiếng nhắc vở khiến nhân vật nhắc lại như con vẹt rất buồn cười, và thường là chỉ thấy phần lưng của diễn viên, và như vậy, không phải là xem kịch! Cấu tạo của kịch múa rối, của tuồng, chèo, kịch nói… đều theo nguyên tắc nhìn một chiều. Đặc điểm thứ hai của không gian kịch là cách xa người xem. Diễn viên buộc phải nói to lên lời nói thầm cho người ngồi hàng cuối của rạp được nghe rõ. Không gian này đòi hỏi mọi biểu hiện của diễn viên phải phóng đại thì người xem mới nhận ra: phóng đại trong cử chỉ, trong nét mặt, trong lời nói và phóng đại cả phương diện tâm lý. Tính cách nhân vật kịch thường một chiều, cố chấp, không hiểu hoặc hiểu lầm người bên cạnh, và nhờ vậy mà tạo ra hiệu quả "kịch". Các truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn thường khai thác cái nhìn một chiều của kịch, tạo ra những nhân vật dẹt, chỉ được nhìn một phía. Chẳng hạn Thạch Sanh rất cả tin và nhờ thế Lý Thông lừa được chàng dễ dàng. Nếu chàng tinh ý, thì câu chuyện không thể kể được. Cũng vậy, Tấm phải cả tin ngờ nghệch thì mẹ Cám mới chặt cau khiến nàng chết. Ngược lại, cuối truyện, đến lượt mình, Cám lại cả tin ngoan ngoãn ngồi cho chị Tấm dội nước sôi… Nếu nhân vật biết phán đoán thì truyện cổ tích không dễ dàng kể được. Cũng vậy, truyện Trí khôn tao đây chỉ cho ta biết cái trí khôn "của con người", chứ không cần biết đó đã phải "trí khôn" thật chưa. Nếu chỉ dựa vào thủ đoạn và lừa bịp thì sao thuần dưỡng được con trâu, và ở đây việc đốt cháy con hổ là vô lý, vì con hổ đâu có ý hại người! Rõ ràng truyện cổ tích chỉ cho phép ta xem một phía, không được hỏi lại phía đằng sau, nếu không muốn phá huỷ ấn tượng thẩm mỹ. Và đó là nguyên tắc không gian kiểu kịch.

Truyện Kiều vẫn còn mang nhiều biểu hiện của kịch: như lối trang trí mặt nạ, hồng nhan, mặt sắt, râu hùm, hàm én… những lối vẽ mặt của kịch, cốt sao cho người ngồi xa nhìn là biết ngay. Làm thơ thì "Tay tiên gió táp mưa sa", khóc người tình thì "Vật mình vẫy gió tuôn mưa", khuyên người tình: "Thưa rằng đừng lấy làm chơi!", khóc người dưới mộ thì "Sầu tuôn đứt nối châu sa vắn dài"… đều là động tác khoa trương "ngoại hiện" kiểu kịch, làm cho người đứng xa cũng trông thấy được! Đối với người xem tiểu thuyết là người nhìn gần, nhìn từ bên trong thì các chi tiết kiểu đó gây cảm giác cộm lên, không thật.

Mặt khác, đúng như Biêlinxki từng nói, kịch điều hoà, phối hợp tự sự và trữ tình, (…) nhưng sự tồn tại của chủ thể trong kịch có một ý nghĩa khác hẳn trong thơ trữ tình: nó không tập trung vào cảm giác của chính bản thân mình, không phải là nhà thơ, mà đã bước ra để trở thành đối tượng trực quan trong thế giới khách quan mà nó tự tạo ra…. Nhân vật Kiều luôn luôn tự tập trung vào thế giới nội tâm của mình, mà không tự biểu diễn, do đó lại càng không phải là nhân vật kịch. Nhưng xét mặt khác, theo quan điểm kịch là thể loại biến việc quá khứ thành sự việc hiện tại thì Truyện Kiều đã kịch hóa tâm trạng của kiều để mang thêm kịch tính tâm lý.

Bước tiến tiểu thuyết hoá hiện đại thực sự của Truyện Kiều biểu hiện ở chỗ xóa bỏ khoảng cách xa giữa nhân vật và người đọc và xoá bỏ cách nhìn nhân vật một chiều, điều mà chúng tôi đã trình bày trong phần trước.

Cũng cần nói thêm là kịch phương Đông vốn là kịch tự sự, không hề biết đến cái ảo giác khách quan do quy tắc tam duy nhất mang lại. Nhưng yếu tố tự sự có được một phần do không gian được chia nhỏ ra, thời gian liên tục một cách ước lệ, một phần do các nhân vật tự giới thiệu về mình, tự xưng danh. Nhiều biện pháp tự sự của kịch phương Đông và tự sự của tiểu thuyết ở đây không phân biệt nhau lắm. Biện pháp thời gian gối đầu theo kiểu: "Hàn huyên chưa kịp giãi dề - Sai nha đã thấy bốn bề xôn xao" đều xoá bỏ khoảng cách thời gian của kịch. Mặt khác sáng tạo lời trần thuật nhất quán của người trần thuật cũng là biện pháp xóa bỏ kịch.

Tóm lại, Truyện Kiều tuy sử dụng những địa danh cụ thể của nước ngoài trong cốt truyện vay mượn, nhưng tác giả của nó đã sáng tạo ra một không gian nội cảm với những mẫu gốc có ý nghĩa nhân sinh phổ quát, biến không gian nghệ thuật thành một hình tượng có tầm khái quát nhân loại. Cả không gian lưu lạc lẫn không gian giam hãm đòi hỏi giả thoát đã tạo tiền đề cho việc thể hiện tính người phổ quát của nhân vật, khiến cho ai đọc đến cũng đồng cảm, thương xót.

 


(*) Trong phần chú thích của nhiều bản Kiều đều ghi là "thơ cổ" mà không nói là của ai, thời nào. Xem: Từ điển "Truyện Kiều". Đào Duy Anh: Truyện Kiều do Nguyễn Thạch Giang chú giải. Truyện Kiều do Lê Văn Hoè chú giải. Truyện Kiều của nhóm nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn. Người viết bài này cũng chưa tra ra được. Sách Vương Thuý Kiều chú giải tân truyện cũng chép theo Bùi Kỉ, và thừa nhận chưa được rõ nghĩa lắm (tr.116).

Sáng nay (23/5), thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Nghệ An tổ chức lễ khánh thành và bàn giao công trình nâng cấp nhà trưng bày bổ sung và nhà bái đường tại Khu di tích Kim Liên, huyện Nam Đàn.

Tối 18/5, tại Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Kim Liên, Nam Đànđã diễn ra cầu truyền hình trực tiếp “Hồ Chí Minh - Sáng ngời ý chí Việt Nam”. Tới dự có ông Trần Quốc Vượng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, bà Trương Thị Mai - Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Dân vận Trung ương, Đại tướng Tô Lâm - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, ông Uông Chu Lưu - Phó Chủ tịch Quốc hội, ông Nguyễn Đắc Vinh - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng cùng các đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, Quân khu 4, Bí thư Tỉnh ủy các tỉnh: Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Về phía tỉnh Nghệ An có ông Thái Thanh Quý - Bí thư Tỉnh ủy, ông Nguyễn Xuân Sơn - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, ông Nguyễn Đức Trung - Chủ tịch UBND tỉnh, ông Nguyễn Văn Thông - Phó Bí thư Tỉnh ủy, đại diện lãnh đạo các ban ngành cấp tỉnh cùng đông đảo bà con nhân dân.

 

   


XÃ LUẬN

TT

Số đăng

tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

411

25/4/2020

Nghệ An: Trân trọng quá khứ để hưởng đến tương lai!

Văn hóa Nghệ An

  1. VĂN HÓA VÀ ĐỜI SỐNG

TT

Số đăng

tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

411

25/4/2020

Việt Nam - Bài học thích ứng vượt qua, chiến thắng những gì chưa có tiền lệ

Bùi Đình Phong

2

Trung Quốc lại hung hăng trên biển Đông

Hoàng Sa & Hải Đăng

3. KHÁCH MỚI CỦA TẠP CHÍ

TT

Số đăng

tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

411

25/4/2020

Trí thức Nghệ xưa và nay

Nguyễn Hùng Vĩ

Hồ Bất Khuất

Phan Huy Dũng

Trả lời PV

                         

4. ĐẤT & NGƯỜI XỨ NGHỆ

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

411

25/4/2020

Nghệ An trong hành trình 990 năm

Bùi Đình Sâm

2

"

"

Dấu ấn người Nghệ trong tiến trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Trương Quế Phương

3

"

"

Cầu Khoa Trường và họ Đinh Kim Khê

Đinh Văn Thân

4

"

"

Làng cổ Liên Trì

Lê Nhung

5. NHỮNG GÓC NHÌN VĂN HÓA

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

411

25/4/2020

Vị trí của Hoan Châu trong danh xưng Nghệ An

Nguyễn Công Khanh

2

Đất Nghệ nơi phát tích của những tài năng

Chu Trọng Huyến

3

"

"

Đặc điểm kẻ sĩ xứ Nghệ thời Nguyễn

Hồ Sĩ Hùy

4

"

"

Đóng góp của người Nghệ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc

Châu Yến Loan

5

"

"

Xứ Nghệ miền văn chương

Bùi Việt Thắng

6

"

"

Sắc thái văn hóa thờ cúng xứ Nghệ

Phan Hữu Thịnh

7

"

"

Một góc nhìn về sự di cư của người dân xứ Nghệ

Bùi Hào

8

"

"

Tinh thần đối thoại văn hóa qua một số công trình nghiên cứu Việt Nam của Phan Ngọc

Lê Thị Thanh Tâm

9

"

"

Lịch sử Việt Nam thời tự chủ

Hồ Bạch Thảo

6. DIỄN ĐÀN VĂN HÓA

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

411

25/4/2020

Cốt cách người Nghệ An và ba hướng chiến lược sử dụng nhân tài

Nguyễn Ngọc Chu

2

Nghệ An phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong tính cách con người xứ Nghệ trước yêu cầu mới

Nguyễn Thị Loan

Nguyễn Thị Thu Sa

7. CỬA SỔ VĂN HÓA

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

411

25/4/2020

Chính sách châu Á - Thái Bình Dương của các Tổng thống B. Obama và D. Trump: tương đồng và khác biệt

Nguyễn Thị Mai Hoa

 

 

8. VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

411

25/4/2020

Từ "Các nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh" đến định hướng giảng dạy ngoại khóa hiện nay

Nguyễn Hữu Sơn

9. XỨ NGHỆ NGÀY NAY

TT

Số đăng tải

Ngày phát hành

Tên bài

Tác giả

1

411

25/4/2020

Độc đáo nghề đan võng Gai của người Thổ tại Tân Kỳ

Bông Mai

 

 

Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Hội Nhà báo Việt Nam (21/4/1950-21/4/2020), ngày 20/4/2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã gửi thư chúc mừng Hội Nhà báo Việt Nam. Văn hóa Nghệ An xin đăng nguyên văn Thư chúc mừng Hội Nhà báo Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2020

THƯ

CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN PHÚ TRỌNG

CHÚC MỪNG HỘI NHÀ BÁO VIỆT NAM

 

Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Hội Nhà báo Việt Nam (21/4/1950-21/4/2020), tôi thân ái gửi tới toàn thể cán bộ, hội viên Hội nhà báo Việt Nam qua các thời kỳ những tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Bảy mươi năm qua, kể từ ngày thành lập tại chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, các thế hệ Hội Nhà báo Việt Nam và những người làm báo cả nước đã luôn đoàn kết, chủ động sáng tạo, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, không ngừng lớn mạnh, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Trong mọi hoàn cảnh, đông đảo hội viên, nhà báo luôn đồng hành cùng dân tộc, bám sát thực tiến, tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; động viên, cổ vũ toàn dân trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay; đồng thời tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vạch trần các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Ghi nhận đóng góp to lớn của Hội Nhà báo Việt Nam cùng đội ngũ nhà báo cả nước, Đảng và Nhà nước ta đã tặng thưởng Hội Nhà báo Việt Nam Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý.

Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt biểu dương và chúc mừng những thành tựu rất đỗi tự hào của Hội Nhà báo Việt Nam và giới báo chỉ cả nước trong 70 năm qua.

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới với thế và lực mới, nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đang xen. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, nhiệm vụ của báo chí rất nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang. Tôi mong muốn Hội Nhà báo Việt Nam và các hội viên cả nước, phát huy truyền thống cách mạng của mình, xây dựng Hội ngày càng phát triển trong sạch, vững mạnh, không ngừng chăm lo bồi dưỡng tư tưởng, chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, nhất là đạo đức nghề nghiệp cho các hội viên. Các cấp hội, mỗi nhà báo hãy thấm nhuần và thực hiện thật tốt lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động nghiệp vụ của các nhà báo. Tôi đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và các tầng lớp nhân dân tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để Hội Nhà báo Việt Nam và giới báo chí hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

Với tình cảm thân thiết và tin tưởng, tôi chúc các cấp hội, hội viên, nhà báo cả nước sức khỏe, niềm vui, hạnh phúc; không ngừng đổi mới, sáng tạo, nỗ lực vươn lên, luôn xứng đáng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng.

 

Ngày 08/4/2020, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị Số 43-CT/TW về  Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt độngcủa Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới. Sau đây là nội dung Chỉ thị:

1. Sau 15 năm thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 18/3/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá IX, Hội Nhà báo Việt Nam không ngừng được củng cố và phát triển, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng. Hội đã thường xuyên tổ chức, động viên, khích lệ đội ngũ những người làm báo tích cực tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành tựu của đất nước; đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt, báo chí đã tham gia hiệu quả bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Hội đã tích cực tham gia xây dựng cơ chế và chính sách báo chí, giám sát việc tuân thủ pháp luật về báo chí, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của báo chí cách mạng Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam vẫn còn một số hạn chế. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của một số tổ chức hội còn hạn chế, chưa phát huy đầy đủ vai trò và vị thế của Hội. Công tác tập hợp những người làm báo còn gặp nhiều khó khăn. Một số tổ chức hội, cơ quan báo chí chưa chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Một bộ phận hội viên chưa tích cực | học tập nâng cao trình độ tác nghiệp báo chí trong tình hình mới. Vẫn còn tình trạng hoạt động báo chí xa rời tôn chỉ, mục đích, thiếu tính định hướng, một số người làm báo thiếu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Nguyên nhân của những khuyết điểm trên là do: Công tác xây dựng Đảng, công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn, nghiệp vụ ở một số cấp hội chưa được quan tâm đúng mức. Nội dung, phương thức hoạt động của Hội chậm đổi mới. Nhận thức về nhiệm vụ chính trị, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân và ý thức xây dựng Hội của một bộ phận hội viên còn hạn chế. Sự phối hợp hoạt động giữa một số cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan báo chí với các cấp hội chưa chặt chẽ, kịp thời, hiệu quả. Cấp uỷ, chính quyền một số địa phương, cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí chưa thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác báo chí cũng như hoạt động của Hội Nhà báo; chưa tạo điều kiện cần thiết để Hội hoạt động và phát triển.

2. Thời gian tới, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, tác động mạnh đến nước ta. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, bên cạnh những thuận lợi và cơ hội, công tác báo chí và hoạt động của Hội Nhà báo gặp nhiều khó khăn, thách thức. Báo chí có nguy cơ bị truyền thông xã hội chi phối, lấn át, gây ra nhiều tác hại. Các thế lực thù địch không ngừng chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Để nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền và Hội Nhà báo Việt Nam thực hiện tốt những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với báo chí theo hướng bảo đảm báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng và quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Tổ chức quán triệt, thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng và pháp luật liên quan đến hoạt động báo chí và Hội Nhà báo Việt Nam.

Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan báo chí, các cấp hội nhà báo. Chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để người làm báo nhận thức sâu sắc làm báo là làm cách mạng, người làm báo là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng - văn hoá của Đảng. Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong các cơ quan báo chí và các cấp hội nhà báo, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.

Cấp uỷ, chính quyền các cấp, các cơ quan chủ quản báo chí định kỳ làm việc với các cơ quan báo chí, các cấp Hội Nhà báo Việt Nam để cung cấp thông tin cần thiết đối với những vấn đề dư luận quan tâm, kịp thời định hướng tuyên truyền, phối hợp giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động báo chí và hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam. Tạo điều kiện thuận lợi để hội nhà báo các cấp hoạt động hiệu quả, phát huy tốt vai trò, vị trí của hội trong hoạt động báo chí và đời sống xã hội.

2.2. Các cấp Hội Nhà báo Việt Nam tăng cường công tác giáo dục tự tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị cho người làm báo, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Thường xuyên tổ chức cho các nhà báo, hội viên nghiên cứu, quán triệt sâu sắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với thực hiện Luật Báo chí, Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, các quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo; Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam. Bằng nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp để nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng làm báo cho hội viên.

Củng cố, xây dựng hệ thống tổ chức Hội Nhà báo Việt Nam thống nhất, chặt chẽ theo Điều lệ Hội. Phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động bằng nhiều hình thức, biện pháp phong phú, sáng tạo, thiết thực. Việc kết nạp và cấp thẻ hội viên Hội Nhà báo Việt Nam phải bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định của Điều lệ Hội. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh người làm báo vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Lãnh đạo các cấp hội phối hợp với các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách để phát triển và quản lý báo chí, đội ngũ người làm báo. Tham gia công tác quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí, lãnh đạo các cấp hội, có cơ chế để thu hút cán bộ có kinh nghiệm, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý làm công tác hội. .

Quan tâm hơn nữa việc bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của hội viên, của người làm báo; có hình thức động viên, khen thưởng xứng đáng, kịp thời đối với các đơn vị và cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động báo chí, công tác hội, nhất là các tổ chức hội, hội viên trực tiếp hoạt động ở những lĩnh vực, địa bàn có nhiều khó khăn.

Người làm báo, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam cần nhận thức sâu sắc trách nhiệm của người làm báo, ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nêu cao đạo đức nghề nghiệp, tinh thần cống hiến, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu góp phần xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam giàu tính chiến đấu, nhân văn, chuyên nghiệp và hiện đại, vì lợi ích của đất nước và nhân dân.

3. Ban cán sự đảng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về báo chí. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí; có cơ chế, chính sách khuyến khích cán bộ làm công tác hội; làm tốt công tác bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật; quan tâm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người làm báo, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.

Đảng đoàn Hội Nhà báo Việt Nam, cấp uỷ đảng, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, các cơ quan báo chí, các cấp Hội Nhà báo Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo việc học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này.

Ban Tuyên giáo Trung ương có trách nhiệm đôn đốc, theo dõi việc triển khai và thực hiện Chỉ thị này, định kỳ báo cáo Ban Bí thư.