Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Thứ năm, 06 Tháng 8 2020 04:04

Lịch sử Việt Nam thời tự chủ [kỳ 24]

Tượng vua Lý Anh Tông 

Vua Lý Anh Tông [1138-1175]

Niên hiệu:

Thiệu Minh: 1138-1139

Đại Định: 1140-1162

Chính Long Bảo Ứng: 1163-1173

Thiên Cảm Chí Bảo: 1174-1175

Vua Anh Tông lên ngôi lúc mới 2 tuổi, trị vì chưa được bao lâu, vào năm 1140 có người thầy bói tên là Thân Lợi tự xưng là con riêng của Vua Lý Nhân Tông, mang đồ đảng đến vùng Thái Nguyên, Bắc Kạn xúi giục dân chúng nổi dậy:

 Theo Tống Sử, cũng vào thời gian này có người tên là Triệu Trí tự xưng là Bình vương nhận là con vợ kế của Vua Lý Nhân Tông [Càn Đức] đến Quảng Tây xin triều cống và mượn quân, nhưng Vua Tống từ khước:

 “Năm Tống Thiệu Hưng thứ 9 [1139] ban chiếu cho Soái ty Quảng Tây không cho Triệu Trí vào cống. Trước đó có con vợ kế của Càn Đức chạy vào nước Đại Lý, đổi họ tên là Triệu Trí, tự xưng là Bình vương. Nghe tin Dương Hoán chết, Đại Lý cho về để tranh quyền với Thiên Tộ [Anh Tông];yxin được vào triều cống, cùng mượn quân, nhưng Thiên tử không cho.” Tống Sử, quyển 488, Giao Chỉ.

(九年,詔廣西帥司毋受趙智之入貢。初,乾德有側室子奔大理,變姓名爲趙智之,自稱平王。聞陽煥死,大理遣歸,與天祚爭立,求入貢,欲假兵納之,帝不許。)

Năm sau tại châu Thái Nguyên, Thân Lợi cũng tự xưng là Bình vương, lập vợ làm Hoàng hậu; như vậy có khả năng Thân Lợi và Triệu Trí là một người, y từ nước ngoài lén vào nội địa gây loạn. Nhận thư cáo cấp, triều đình sai Gián nghị đại phu Vũ Nhị mang quân thủy bộ noi theo thượng nguồn sông Cầu tiến đánh, quân Nhị bị đại bại tại vùng Bắc Kạn. Thân lợi tiếp tục xua quân về kinh sư, bị Thái úy Đỗ Anh Vũ đánh bại tại Bắc Ninh. Đến tháng 10năm Đại Định thứ 2 [1141], bọn Thân Lợi bị Thái phó Tô Hiến Thành bắt tại Lạng Sơn, đóng cũi mang về kinh sưxử chém:

“Mùa Xuân tháng Giêng năm Đại Định thứ 2 [1141].Thân Lợi tiếm xưng là Bình Vương, lập vợ cả, vợ lẽ,làm hoàng hậu và phu nhân, con làm vương hầu, cho đồ đảng quan tước theo thứ bậckhác nhau. Khi ấy đồ đảng của Thân Lợi chỉ hơn nghìn người, đi đến đâu nói phao là Lợi giỏi binh thuật để hiếp chế người miền biên giới. Người các khe động dọc biên giới đều khiếp sợ, không dám chống lại.

Tháng 2, quan coi biên giới dâng thư cáo cấp. Xuống chiếu cho Gián nghị đại phu Lưu Vũ Nhĩ đem quân do đường bộ tiến đi, Thái phó là Hứa Viêm đem quân ngược đường thủy để tiến đánh. Khi ấy Vũ Nhĩ sai tướng tiên phong là Thị vệ đô Tô Tiệm và Chủ đô trại Tuyên Minh là Trần Thiềm đem quân đi trước, đóng ở sông Bác Đà, gặp thủy quân của Lợi cùng giao chiến. Tiệm thua, bị Lợi giết, Lợi trở về giữ châu Thượng Nguyên, đắp đồn ải ở huyện Bác Nhự để chống quan quân. Vũ Nhĩ đánh nhổ được ải Bác Nhự, tiến đến Bồ Đinh [Bắc Kạn], gặp thủy quân của Lợi, đánh lớn, Vũ Nhĩ thua trận, tướng sĩ chết đến quá nửa, phải rút về.

Mùa Hạ, tháng 4, ngày Mậu Thìn, Vũ Nhĩ về đến Kinh sư. Ngày Tân Mùi, Lợi ra chiếm châu Tây Nông, sai người ở các châu Thượng Nguyên Tuyên Hóa [Định Hóa, Thái Nguyên], Cảm Hóa [Ngân Sơn, Bắc Kạn], Vĩnh Thông [Phú Lương, Thái Nguyên] đánh lấy phủ Phú Lương. Lợi chiếm giữ phủ trị, ngày đêm hợp bè đảng mưu cướp kinh sư. Ngày Kỷ Mão, vua sai thái úy Đỗ Anh Vũ đem quân đi đánh Lợi.

Tháng 5, ngày Tân Mão, quân của Lợi kéo về cướp kinh sư, đóng ở Quảng Dịch, gặp quân của Anh Vũ, đánh lớn. Quân của Lợi thua, chết không kể xiết. Anh Vũ sai chém lấy đầu bêu lên ở cạnh đường suốt từ quan Bình Lỗ đến sông Nam Hán.

Bắt được thủ lĩnh châu Vạn Nhai [Võ Nhai, Thái Nguyên] là Dương Mục, thủ lĩnh động Kim Kê là Chu Ái, đóng cũi giải về Kinh sư. Lợi chỉ chạy thoát một mình về châu Lục Lệnh. Ngày Nhâm Ngọ, giải bọn Mục và Ái về trói giam ở huyện phủ của chúng.  Xuống chiếu cho Anh Vũ chiêu tập bọn tàn tốt của Lợi ở cửa quan Bình Lỗ.

Mùa Đông, tháng 10, ngày mồng 1, lại sai Anh Vũ đi đánh châu Lục Lệnh, bắt được bọn bè đảng của Lợi hơn 2.000 người. Lợi trốn sang châu Lạng, Thái phó Tô Hiến Thành bắt được Lợi, giao cho Anh Vũ đóng cũi giải về kinh sư. Sai Lý Nghĩa Lâm chiêu tập vỗ yên dư đảng của Lợi. Xuống chiếu cho quan Đình úy xét tội Lợi. Án xét xong, vua ngự điện Thiên khánh xử tội Lợi và bọn đồng mưu 20 người đều xử trảm, những kẻ còn lại đều theo tội nặng nhẹ mà xử, tha cho những kẻ vì ép buộc mà phải theo. Các quan dâng biểu mừng.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

Năm sau [1142], triều đình tha tội lưu đày cho đồng đảng Thân Lợi:

Tháng 12 năm Đại Định thứ 3 [1142]. Xuống chiếu tha tội lưu cho các bè đảng của Thân Lợi.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

Trong chiến dịch nêu trên, tướng Lưu Vũ Nhị bại trận; sau đó y 2 lần dâng ngọc quí, vật lạ lên Vua để tìm cách xóa tội:

Năm Đại Định thứ 2 [1141] Lưu Vũ Nhĩ dâng hươu trắng, lại dâng ngọc tân lang [ngọc cau].” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

Mùa Xuân, tháng 2 năm Đại Định thứ 3 [1142], Lưu Vũ Nhĩ dâng ngọc thiềm thừ [ngọc cóc].” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

Lại có vụ nổi loạn tại vùng biên giới do Đàm Hữu Lượng, người Trung Quốc,chủ mưu;viên trấn thủ Ung châu [Nam Ninh, Quảng Tây] hợp tác với quan quân ta, dẹp được:

Hữu Lượng trốn sang châu Tư Lang nước ta, nói dối là vâng sứ mạng nhà Tống đi chiêu dụ dân chúng ở biên thùy. Dân các khê động ở duyên biên theo về với hắn nhiều lắm. Hắn bèn chiếm giữ đất Thông Nông, đem đồ đảng cướp bóc Quảng Nguyên. Gặp lúc ấy kinh lược súy ty tỉnh Quảng Tây nhà Tống đưa thư sang bảo ta đánh giúp để bắt Hữu Lượng. Nhà vua xuống chiếu cho bọn Dương Tự Minh, Nguyễn Mai và Lý Nghĩa Vinh đi đánh. Lại sai Thái sư Mâu Du Đô đem quân kế tiếp tiến lên. Tự Minh đánh phá được Thông Nông, Hữu Lượng thua chạy. Ta bắt được đồ đảng nó là lũ Bá Đại 21 người, trao trả cho nhà Tống. Nhà cầm quyền ở Ung Châu (Tống) làm ra cáo sắc giả để đón Hữu Lượng về. Hữu Lượng liền cùng với đồ đảng hơn 20 người, đem dâng ấn đồng và địa đồ. Khi đến trại Dương Sơn, viên tri châu Ung Châu là Triệu Nguyên bắt lấy đưa đến suý ty chém chết.Cương Mục, Chính Biên, quyển 4.

Triều đình tiếp tục mang quân đi đánh dẹp, bình định các nơi; xin liệt kê như sau:

Tháng Giêng năm Đại Định  thứ 15 [1154], Người Sơn Lão [bộ tộc Lão tại miền núi] ở Chàng Long làm phản. Tháng 2 xuống chiếu cho Đỗ Anh Vũ đi đánh người Sơn Lão ở Chàng Long, hàng phục được.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

 “Ngày Đinh Mùi tháng 11, năm Đại Định thứ 15 [1154], vua thân đi đánh Nông Khải Lai. Ngày Canh Tuất, xuất phát từ Kinh sư. Ngày Giáp Dần thắng trận. Ngày Bính Thìn, đem quân về. Ngày Kỷ Mùi, về đến Kinh.”Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

Mùa Hạ, tháng 5, năm Đại Định thứ 20 [1159] Ngưu Hống và Ai Lao làm phản. Sai Tô Hiến Thành đi đánh, bắt được người và trâu ngựa voi, vàng bạc châu báu rất nhiều. Phong Hiến Thành làm Thái úy.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

Một vụ dâm loạn xảy ra trong chốn cung đình, ảnh hưởng lớn đến sự ổn định của đất nước. Bấy giờ, Lê Thái hậu mẹ Vua còn trẻ, bà phải lòng em ruột của Đỗ Thái hậu tên là Đỗ Anh Vũ. Cậy có chị làm Thái hậu, nên Anh Vũ thường ra vào nơi cung cấm; lúc Vua Anh Tông mới lên ngôi, còn thơ dại, Lê Thái hậu ban cho Anh Vũ chức Cung điện lệnh:

Năm Đại Định năm thứ 1[1140]; lấy Đỗ Anh Vũ làm Cung điện lệnh tri nội ngoại sư. Anh Vũ là em của Đỗ Thái hậu, nên Lê thái hậu trao cho chức này.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4

Được Thái hậu yêu, Anh Vũ tác oai lũng đoạn trong triều. Một số quan Đại thần trong đó có Vũ Đái, Nguyễn Dương bất bình; nhắm lúc Vua đã hơi lớn, bèn tâu vua xin bắt Đỗ Anh Vũ, được Vua chấp thuận. Nguyễn Dương muốn giết Anh Vũ để trừ hậu họa, nhưng Vũ Đái nhận hối lộ của Thái hậu tìm cách ngăn cản; Nguyễn Dương tức giận chửi Vũ Đái rồi tự tử. Đỗ Anh Vũ bị xử lưu đày, Thái hậu tìm cách mở hội lớn, xá tội nhân, trong đó có Anh Vũ. Rồi Anh Vũ được phục chức Thái úy phụ chính như cũ, tìm cách phục thù, giết đến mấy chục quan Đại thần và thuộc cấp, những ngườitrước đây đã tố cáo y:

 “Năm Đại Định thứ 11 [1150]. Khi trước vua còn trẻ thơ, chính sự không cứ việc lớn, việc nhỏ đều ủy cho Đỗ Anh Vũ cả. Anh Vũ sai vợ là TôThị ra vào cung cấm hầu hạ Đỗ Thái hậu, do đó mà Anh Vũ tư thông với Lê Thái hậu, nhân thế lại càng kiêu rông, ở triều đình thì khoát tay lớn tiếng, sai bảo quan lại thì hất hàm ra hiệu, mọi người đều liếc nhau nhưng không ai dám nói. Điện tiền đô chỉ huy sứ là Vũ Đái, Hỏa đầu đô Quảng Vũ là Lương Thượng Cá, Hỏa đầu đô Ngọc Giai là Đồng Lợi, Nội thị là Đỗ Ất, cùng với bọn Trí Minh Vương, Bảo Ninh hầu, Phò mã lang Dương Tự Minh cùng mưu bắt giam Anh Vũ. Bàn tính xong, bọn Đáiđem quân lính đến ngoài cửa Việt Thành hô to rằng:

 “Anh Vũ ra vào cấm đình, làm nhiều điều ô uế, tiếng xấu đồn ra ngoài, không tội gì to bằng. Bọn thần xin sớm trừ đi, khỏi để mối lo về sau”.

 Bèn có chiếu sai cấm quân đến bắt Anh Vũ trói giam ở hành lang Tả Hưng Thánh, giao cho Đình úy tra xét. Thái hậu sai người mang cơm rượu cho Anh Vũ, ngầm để vàng vào trong đồ đựng món ăn để đút cho Vũ Đái và các người canh giữ. Hỏa đầu ở đô Tả Hưng Thánh là Nguyễn Dương nói:

“Các ông tham của đút, tôi với các ông tất không thoát khỏi tay Anh Vũ đâu, chi bằng cứ giết trước đi cho khỏi tai họa về sau”.

Bèn cầm giáo định đâm. Đô Tả Hưng Thánh là Đàm Dĩ Mông ôm Dương, cướp lấy giáo, ngăn rằng:

“Điện tiền bảo Anh Vũ tội đáng chết, nhưng còn phải đợi mệnh lệnh của vua, không nên tự tiện”

 Dương giận, chửi:

“Điện tiền Vũ cứt chứ chẳng phải Đái! (chữ Cát Đái phương ngôn nói là cứt đái). Sao tham của đút mà không tiếc đến mạng mình!”.

Nói xong, tự biết không khỏi chết, bèn nhảy xuống giếng tự tử. Bấy giờ vua xét án của Anh Vũ, đày Anh Vũ làm Cảo điền nhi (1). Thái hậu lo buồn, cố nghĩ làm thế nào để phục hồi chức nhiệm cho Anh Vũ, mới nhiều lần mở hội lớn để xá cho tội nhân, mong Anh Vũ được dự vào đấy. Anh Vũ được mấy lần xá tội, lại làm Thái úy phụ chính như cũ, càng được yêu dùng hơn, do đấy chuyên làm oai, làm phúc, sinh sát mà lòng báo thù lúc nào cũng tỏ rõ, còn sợ rằng bọn quân lại đi bắt bớ phần nhiều không được như ý, mới dâng hơn một trăm người thủ hạ để làm đô Phụng quốc vệ, người nào phạm tội đều giao cho đô Phụng quốc vệ đi bắt. Anh Vũ mật tâu với vua rằng:

“Trước kia bọn Vũ Đái tự tiện đem cấm quân xông vào cung đình, tội ấy không gì to bằng, nếu không sớm trừng trị, sợ một ngày kia sinh biến, không thể lường được”.

Vua chẳng biết gì cả, bèn chuẩn tâu. Anh Vũ sai đô Phụng quốc về đi bắt bọn Vũ Đái giam vào ngục để trị tội. Hạ chiếu giáng Trí Minh Vương xuống tước hầu, Bảo Ninh hầu xuống tước minh tự, Bảo Thắng hầu xuống tước phụng chức, Nội thị là bọn Đỗ Ất 5 người bị “cưỡi ngựa gỗ” (2), bọn Hỏa đầu đô Ngọc Giai là Đồng Lợi 8 người bị chém ở chợ Tây Giai, bọn Điện tiền đô chỉ huy Vũ Đái 20 người chém bêu đầu ở các bến sông, bọn Phò mã lang Dương Tự Minh 30 người bị tội lưu ở nơi xa độc, những người dự mưu đều bị tội đồ làm điền hoành, khao giáp, quả như lời nói của Nguyễn Dương.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

Mặt khác Đỗ Anh Vũ tìm cách nịnh hót Vua, bằng cách dâng những vật lạ:

Mùa Hạ, tháng 4 năm Đại Định thứ 12 [1151] , Đỗ Anh Vũ dâng cây cau một gốc 28 nhánh. Tháng 5, Đỗ Anh Vũ dâng hươu trắng.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

Vào năm 1156, viên Sứ thần Nguyễn Quốc đi sứ Trung Quốc, thấy nước này cho đặt thùng thư tại sân đình để nhận lời tâu cáo của dân chúng, khi trở về nước bèn tâu cho thực hiện. Nhà Vua chấp nhận, lúc mở thùng trong đó có thư nặc danh tố cáo Đỗ Anh Vũ làm loạn. Anh Vũ nghi Quốc là tác giả thư, bèn tìm cách bắt đi đày; lúc Quốc được Vua gọi về thì bị Anh Vũ đầu độc chết. Sau sự kiện này, vào tháng 8, Đỗ Anh Vũ mất; nhà Vua bắt đầu trọng dụng Tô Hiến Thành, tình hình trong nước trở nên sáng sủa hơn:

"Mùa Xuân, tháng 2 năm Đại Định thứ 19 [1158], Nguyễn Quốc sang sứ nước Tống về, dâng tâu rằng:

“Thần sang nước Tống thấy ở giữa sân vua có cái hòm bằng đồng để nhận các chương tấu của bốn phương, thần xin bắt chước mà làm như thế để bề trên rõ được tình người dưới.

Vua y theo, cho đặt cái hòm ở giữa sân để ai có trình bày việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy. Bấy giờ có người ngầm bỏ thư nặc danh nói là Anh Vũ làm loạn, tìm xétkhông biết là ai. Anh Vũ vu cho Quốc làm, đày Quốc đến trại đầu ở Thanh Hóa. Không bao lâu, vua gọi Quốc về. Anh Vũ lại đưa cho Quốc rượu có thuốc độc, Quốc tự nghĩ không khỏi bị hại, bèn uống thuốc độc chết.

Mùa Thu, tháng 8, Đỗ Anh Vũ chết.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

 Vào năm 1126 nước Tống gặp thảm họa gọi là Mối Nhục Thời Tĩnh Khang [靖康之恥 Tĩnh Khang Chi Sỉ]; quân nước Kim từ phương Bắc, hai mặt tấn công, bắt sống Vua, đánh tan thủ phủ Khai Phong [Hà Nam]; đám tàn dư phải rút về phương Nam  gọi là Nam Tống. Nam Tống thế lực suy yếu trở nên hòa hoãn với Đại Việt. Khi Vua Thần Tông lên ngôi; triều đình dâng biểu báo tin sang Trung Quốc, Vua Tống phong nhà Vua tước Giao Chỉ Quận vương:

Năm Thiệu Minh thứ 2 [1139]. Nhà Tống phong vua làm Giao Chỉ Quận Vương.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

Tiếp đến cứ 4 hoặc 5 năm, triều đình ta sai Sứ thần sang cống, cống vật chủ yếu là voi thuần:

Tục Tư Trị Thông Giám, quyển 127, Tống Cao Tông năm Thiệu Hưng thứ 16 [1146]

Tháng 6 [7/1146], tháng này An Nam hiến 10 voi thuần.”

(是月,安南献驯象十。)        

 “Tục Tư Trị Thông Giám, Quyển 128, năm Thiệu Hưng thứ 20 [1150]

Tháng 2 [3/1150], tháng này An Nam tiến 10 voi thuần.”

(是月,安南进驯象十。)

Tục Tư Trị Thông Giám, Quyển 130, năm Thiệu Hưng thứ 25 [1155]

Ngày Giáp Thân tháng 4 [10/5/1155], An Nam đến cống, chiếu Soái thần Quảng Tây sai Sứ thần quen việc thân cận với trên, bạn tống đến hành tại.”

(甲申,安南入贡,诏广西帅臣差熟事近上使臣伴送赴行在。)

Vào năm 1156, triều đình nước ta sai Sứ đến mừng thanh bình, đưa đồ cống kỳ này rất hậuhỹ:

Tục Tư Trị Thông Giám, quyển 131. Ngày Canh Dần tháng 8 năm Thiệu Hưng thứ 26 [7/9/1156], Nam bình vương Lý Thiên Tộ [Anh Tông]sai Thứ sử châu Thái Bình Lý Quốc, Hữu vũ đại phu Lý Nghĩa, Vũ dực lang Quách Ứng Ngũ đến mừng thanh bình. Hiến đồ vật bằng vàng 1.136 lượng, minh châu 100, trầm hương 1.000 cân, thủy vũ 500; lăng [lụa trơn], quyên[lụa thô] các màu 5.000 tấm, 10 ngựa, 9 voi. Chiếu sai Thượng thư  Tả tư lang trung Uông Ứng Thần đãi Quốc yến tại vườn Ngọc Tân. Thăng Quốc làm Đoàn luyện sứ châu Thái Bình, Nghĩa chức Tả vũ đại phu, Ứng Ngũ chức Vũ kinh lang; ban y phục, dây đai, đồ vật, tiền, có sai biệt.”

Ngày Ất Vị tháng 8 [12/9/1156], Tĩnh hải quân tiết độ sứ, Kiểm hiệu thái úy, Nam bình vương Lý Thiên Tộ làm Kiểm hiệu thái sư, công hiệu thêm 2 chữ “Qui Nhân”; ban y phục, dây đai, yên ngựa, tiền.”

 (庚寅,南平王李天祚,遣太平州刺史李國以右武大夫李義、武翼郎郭應五來賀升平,獻黃金器千一百三十六兩,明珠百,沈香千斤,翠羽五百隻,雜色綾絹五千匹,馬十,象九。詔尚書左司郎中汪應辰燕國於玉津園。遷國為太平州團練使,義左武大夫,應五武經郎,加賜襲衣、金帶、器、幣有差

乙未,靜海軍節度使、檢校太尉、南平王李天祚為檢校太師,功號加「歸仁」二字,賜襲衣、金帶、鞍馬、器、幣。)

Riêng Tống Sử xác nhận năm Thiệu Hưng thứ 25 [1155] Vua Tống đặc cách phong Vua Anh Tông [Thiên Tộ] tước Nam bình vương, có lẽ muốn cảm ơn hậu đãi này, nên năm sau [1156] triều đình ta sai Sứ thần Lý Quốc tiến cống trọng hậu như vậy. Cũng cần lưu ý rằng sau khi nhà Lý mất, nhà Trần ra lệnh đổi họ Lý thành Nguyễn, nên Sứ thần Lý Quốc Tống Sử chép dưới đây, Toàn Thư đã chép là Nguyễn Quốc, tức vị quan từng đề nghị lập thùng thư tại triều, rồi bị Đỗ Anh Vũ hãm hại vào năm 1158:

Năm thứ 25 [1155] chiếu ban cho Sứ giả An Nam lưu tại quán dịch Hoài Viễn, ban yến, biểu lộ đặc cách; tiến phong Thiên Tộ Nam bình vương, ban cho lễ phục, dây đai vàng, yên ngựa. Năm thứ 26 [1156] mệnh Hữu ty lang trung Uông Ứng Thần ban yến sứ giả An Nam tại vườn Ngọc Tân; vào tháng 8 Thiên Tộ sai bọn Lý Quốc mang kim châu, trầm thủy hương, thúy vũ, ngựa tốt, voi thuần đến cống; chiếu gia phong Thiên Tộ Kiểm hiệu thái sư, tặng thực ấp.Tống Sử, quyển 488, Giao Chỉ.

(二十五年,詔館安南使者于懷遠驛,賜宴,以彰異數。進封天祚南平王,賜襲衣、金帶、鞍馬。二十六年,命右司郎中汪應辰宴安南使者于玉津園。八月,天祚遣李國等以金珠、沉水香、翠羽、良馬、馴象來貢。詔加天祚檢校太師,增食邑)

Sau đóAn Nam lại cống voi thuần như cũ; có lẽ quen ăn với lễ cống hậu hỹ vào năm 1156, nên Vua Tống ra chỉ dụ bảo An Nam đừng cống voi:

Tục Tư Trị Thông Giám, quyển 133, ngày Canh Ngọ tháng Chạp, năm Thiệu Hưng thứ 30 [24/1/1161], An Nam tiến voi thuần. Vua bảo các quan Đại thần rằng:

Man di dâng sản vật địa phương cùng đồ cống; nhưng Trẫm không muốn nhận thú lạ làm mệt nhọc người xa xôi; hãy ra lệnh cho Soái thần ban dụ lần sau đừng đem voi thuần đến cống.”

(安南進馴象,邊吏以聞,帝謂大臣曰:「蠻夷貢方物及其職,但朕不欲以異獸勞遠人。可令帥臣諭今後不必以馴象入獻。」)

Sử nước ta cũng xác nhận rằng trong lễ cống năm 1161, Vua Tống ngỏ ý không muốn cống voi thuần:

Năm Đại Định thứ 22 [1161]. Mùa Xuân, sai đem voi thuần sang biếu nhà Tống. Vua Tống bảo các đại thần rằng:

‘Trẫm không chuộng thú vật lạ, làm khó nhọc người xa, nên sai sứ thần bảo họ từ nay về sau bất tất phải mang vật ấy tiến cống”. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 4.

(Còn nữa)

 

 

1. Cảo điền nhi: Theo Toàn thư chú thích, Cảo điền nhi là người có tội, bị đầy cày ruộng cho nhà nước, tại xứ Cảo Động, huyện Từ Liêm.

2. Theo Toàn thư chú thích: Cưỡi ngựa gỗ (thượng mộc mã): thứ hình phạp thời cổ, đem tội nhân đóng đinh lên tấm vám, đem đi bêu chợ rồi đem ra pháp trường tùng xẻo.

 

 

Chuyên mục: Góc nhìn văn hóa

Nước Nam Việt (南越国 hoặc 南粤国) là một vương quốc ở vùng đông nam Trung Quốc do Triệu Đà lập ra năm 204 TCN. Sử Trung Quốc coi vương triều Nam Việt là một chính quyền cát cứ địa phương, không thuộc vương triều chính thống. Có lẽ vì thế mà tư liệu về nước Nam Việt đã rất ít lại quá sơ sài.

Dù chỉ tồn tại 93 năm và đã biến mất 21 thế kỷ qua nhưng Nam Việt quốc vẫn còn duyên nợ với Việt Nam ta. Phải chăng vì hai nước có tên gọi giống nhau hay vì ở liền kề nhau? Cớ sao một số nhà chính trị và sử gia nổi tiếng Việt Nam xưa và nay coi nhà Triệu là vương triều đầu tiên của nước ta, nhưng giới sử học chính thống Việt Nam hiện nay lại coi nhà Triệu là kẻ đầu tiên xâm chiếm nước ta, mở đầu thời kỳ Bắc thuộc?

Tìm hiểu nước Nam Việt nhằm giải đáp mấy câu hỏi trên sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ nguồn gốc tổ tiên mình và mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, cũng như giúp chấm dứt cuộc tranh cãi về vai trò của nhà Triệu đối với nước ta.[1]

Cuốn “Lịch sử nước Nam Việt” (南越国史Nam Việt quốc sử, NVQS)[2] đã phần nào đáp ứng yêu cầu đó. Tuy NVQS đã tham khảo 975 tài liệu, gồm 113 tài liệu nước ngoài (60 của Việt Nam) nhưng các tài liệu ấy có chỗ chưa nhất quán với nhau, sao chép lẫn nhau và lời lẽ khó hiểu, lại viết quá sơ sài về nước ta. Sách cổ sử Trung Quốc chủ yếu viết về hành trạng của các nhân vật, ít viết các vấn đề tổng quan, đã thế cách viết lại khó hiểu. Đọc NVQS cùng các tài liệu liên quan, chúng tôi cảm thấy dường như việc nghiên cứu nước Nam Việt nên dựa trên suy luận, phỏng đoán hơn là dựa vào thư tịch.

Với suy nghĩ như vậy, dưới đây xin nêu ra vài ý kiến về mối quan hệ Nam Việt - Việt Nam. Các ý kiến này khó tránh khỏi có sai sót, mong được bạn đọc chỉ bảo.

Đất Nam Việt và đất Việt Nam

Sách cổ sử Trung Quốc ít chú trọng vấn đề cương vực, ít lập bản đồ. Sách NVQS 503 trang không có lấy một bản đồ nước Nam Việt. Dù sao ai cũng biết rằng trước khi có cái tên Việt Nam thì trên dải đất dài hẹp được núi và biển bọc kín bốn mặt ở phía Nam nước Nam Việt từ cổ xưa đã tồn tại một tộc người về sau gọi là người Kinh - Việt Nam, tức tổ tiên chúng ta.[3] Tộc người này có các tố chất chủng tộc, ngôn ngữ và văn hóa khác hẳn các tộc người sống trên vùng đất liền kề ở phía Bắc, về sau được gọi là Trung Quốc. Sự khác biệt ấy khiến cho người Kinh - Việt Nam sau khi bị người Trung Quốc đông dân và mạnh hơn xâm chiếm đã không ngừng đấu tranh đánh đuổi kẻ xâm lược và cuối cùng giành độc lập trọn vẹn.

“Sử ký” chép: năm thứ 33 (214 TCN), Tần Thủy Hoàng chiếm Lục Lương tức Lĩnh Nam và chia làm 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng. Theo NVQS, cho tới nay giới sử học vẫn chưa nhất trí về vấn đề quận Tượng đời Tần có ở trên đất Việt Nam hay không - nghĩa là nhà Tần có chiếm Việt Nam hay không. Ở đây có hai quan điểm khác nhau.

Một quan điểm cho rằng quận Tượng đời Tần gồm Bắc Bộ và Trung Bộ Việt Nam. Sau đó nhà Tần diệt vong nên [tên gọi] quận Tượng biến mất nhưng đất của nó vẫn bao gồm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (do Hán Vũ Đế lập năm 111 TCN); nước Nam Việt thời kỳ đầu (Hán sơ) cũng sở hữu đất 3 quận đó. Nói cách khác, quận Tượng đời Tần nằm trên đất Việt Nam, nghĩa là nhà Tần đã chiếm Việt Nam. NVQS gọi quan điểm này là Thuyết Ba Quận. Đây là quan điểm chính thống của sử học Trung Quốc trước năm 1916.

Một quan điểm khác được NVQS gọi là Thuyết Hai quận do sử gia Pháp Maspero[4] ở Viện Viễn đông Bác cổ Hà Nội đưa ra năm 1916, cho rằng quận Tượng do nhà Tần lập ra là ở hai quận Uất Lâm (Yulin) và Tang Kha (Zangke) thuộc Quảng Tây. Lâm Trần [Linchen] nơi đặt trụ sở chính quyền quận thì ở quận Uất Lâm. Nói cách khác, quận Tượng đời Tần ở trên đất Trung Quốc, nghĩa là nhà Tần chưa hề chiếm Việt Nam. NVQS cho rằng hai thuyết trên trái ngược nhau là do khác nhau về khảo chứng các sử liệu.

Maspero có tham khảo “Hán thư - Chiêu đế kỷ”, “Hán thư - Cao đế kỷ”, “Giao châu Ngoại vực ký”. Ông nói đất Giao Chỉ (lưu vực sông Hồng) không ở quận Tượng mà ở phía Nam quận Tượng, vốn là nước An Dương của Hoàng tử Thục [Thục Phán?]. Thời Lữ Hậu (195-180 TCN) hoặc Hán Văn Đế (180-157 TCN), nước Nam Việt diệt nước An Dương rồi đặt hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân trên đất Việt Nam; nghĩa là không có việc chia quận Tượng làm hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân khi thành lập nước Nam Việt.

Theo NVQS, sử gia Đào Duy Anh và các sử gia Trung Quốc Mông Văn Thông, Đàm Kỳ Tương, Châu Trấn Hạc tán thành Thuyết Hai quận; còn đa số sử gia Trung Quốc theo Thuyết Ba quận.

NVQS cho rằng Thuyết Ba quận hợp lý vì dựa theo “Hán thư - Địa lý chí” của Ban Cố. Trong đó từ “Nhật Nam quận” có ghi chú 11 chữ “故秦象郡,元鼎六年开,更名” [Cố Tần Tượng quận, Nguyên Đỉnh lục niên khai, cánh danh]. Tạm hiểu: “(Quận Nhật Nam) trước kia là quận Tượng đời Tần, (quận Nhật Nam) lập năm Nguyên Đỉnh 6 (tức năm 111 TCN), đổi tên (từ quận Tượng) mà thành.” Vì quận Nhật Nam ở Trung Bộ Việt Nam nên quận Tượng đời Tần ở trên đất Việt Nam.

Theo chúng tôi, chỉ dựa vào 11 chữ ghi chú của Ban Cố mà suy ra kết luận đó là chưa đủ thuyết phục. Vả lại quận Nhật Nam là do Triệu Đà lập ra sau khi chiếm Âu Lạc (179 TCN), không phải do Vũ Đế lập ra năm 111 TCN.

NVQS viết: Tuy các sách sử khác đều không viết về vị trí quận Tượng, nhưng do “Hán thư” có uy tín cao nên Thuyết Ba quận trở thành quan điểm chính thống của Trung Quốc suốt hơn 2000 năm… Các ghi chép lịch sử cho thấy quân Tần đã vào tận Trung Bộ Việt Nam (khoảng vĩ tuyến 13-16) và đặt quận Tượng ở đây. Sách “Hoài Nam Tử - Nhân gian huấn” chép: Quân Tần giết được Dịch Dụ Tống [Yi Yusong] vua nước Tây Âu, người Việt không chịu để bị quân Tần bắt mà vào rừng sống chung với cầm thú… đêm đến ra phục kích quân Tần, hạ sát Đồ Tuy, giết mấy chục vạn lính Tần… Vì NVQS coi Tây Âu là Việt Nam, nên việc quân Tần giết vua Tây Âu có nghĩa là nhà Tần đã chiếm Việt Nam.

Nhận định trên cũng thiếu tin cậy, bởi lẽ chưa sách nào nói rõ vị trí nước Lạc Việt, nước Tây Âu và lai lịch Dịch Dụ Tống. Trong bài “Giải mật Tây Âu quốc - nước thứ tư của 10 đại cổ quốc Quảng Tây”[5] thì Tây Âu (còn gọi Tây Việt) là nước bộ lạc ở vùng lưu vực sông Quế Giang, Tầm Giang thuộc Lĩnh Nam - nghĩa là ở Quảng Tây. Các tư liệu trên mạng baidu cũng viết như vậy. Sử sách Việt Nam chưa hề nói tới cái tên “Dịch Dụ Tống vua nước Tây Âu” và địa danh Lâm Trần. Thực ra Lĩnh Nam cũng như Việt Nam hồi ấy là đất của nhiều bộ lạc, chưa có khái niệm quốc gia (nước) và sự phân định biên giới. NVQS chưa nói rõ đất Việt Nam ngày ấy gọi là Tây Âu, Tây Ẩu, Lạc Việt hay Âu Lạc? Tây Âu quân [vua] Dịch Dụ Tống có phải là người Kinh - Việt Nam không? Khi còn chưa biết rõ vị trí địa lý và tộc người Việt Nam sao có thể nói nhà Tần chiếm Việt Nam?

Sách “Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt”[6] cũng không viết về việc quân Tần chiếm Việt Nam, mà chỉ cho biết: khi bị quân Tần tấn công, người Lạc Việt ở Quảng Tây [không nói là người Việt Nam] đã vào rừng đánh du kích, giết Đồ Tuy. Sách sử Việt Nam cũng chưa hề viết Đồ Tuy bị giết trên đất Việt Nam.

NVQS nhận định: nhiều di vật khảo cổ khai quật được tại Việt Nam chứng minh các lực lượng chính trị Trung Quốc đời Tần đã vào đến Việt Nam. Theo chúng tôi, lập luận này chưa xác đáng vì trong 1.000 năm Bắc thuộc cũng như trong các lần xâm lược Việt Nam, người Trung Quốc có thể đem những đồ vật làm từ đời Tần chôn ở nhiều nơi trong nước ta để đánh dấu họ từng đến đây (tại Malaysia từng có chuyện tương tự).

NVQS viết: các thư tịch cổ Maspero trích dẫn không tin cậy. Chuyện An Dương Vương dùng nỏ thần chống quân Triệu Đà, chuyện Mỵ Châu - Trọng Thủy… đều là thần thoại. Thực ra là Hoàng tử Thục [Thục Phán?] dẫn bộ tộc mình di chuyển từ tây sang đông thì xung đột với bộ tộc Lạc Việt. Thục chiến thắng, trở thành thủ lĩnh bộ tộc Lạc Việt và tự xưng An Dương Vương. Thuyết Hai quận nói một thời gian sau ngày lập quốc, Triệu Đà dẫn quân đánh chiếm Lĩnh Nam, bộ tộc An Dương Vương chống lại, gây cho Đà nhiều tổn thất nhưng cuối cùng Đà thắng - chuyện đó xảy ra vào thời Lữ Hậu, Văn Đế.

NVQS cho rằng nhận định đó thiếu căn cứ. “Sử ký” có chép việc Tây Âu, Lạc Việt lệ thuộc Nam Việt, nhưng đó không phải là kết quả xung đột quân sự mà là do Triệu Đà hối lộ các nước này, và sách cũng không nói rõ tộc Lạc Việt đó có phải là tộc An Dương Vương hay không. Hơn nữa do thi hành “Hòa tập Bách Việt” nên Triệu Đà không thể dùng chiến tranh để giải quyết vấn đề dân tộc trong nước mình. Ngược lại, sách sử cho biết cuộc chiến chiếm hai quận Quế Lâm và Tượng do Triệu Đà tiến hành (chắc là vào năm 205 TCN) thì xảy ra trước khi Triệu Đà lập nước Nam Việt.

Theo chúng tôi, quận Tượng đời Tần toàn bộ ở trên đất Trung Quốc, không ở đất Việt Nam; nhà Tần chưa hề chiếm nước ta; nhà Triệu là vương triều Trung Quốc đầu tiên thôn tính Việt Nam.

Lý do: sau khi chiếm Lĩnh Nam, nhà Tần không còn đủ sức tiến đánh Việt Nam. Trước khi đánh Lĩnh Nam, nhà Tần đã làm 2 con đường từ Trung Nguyên tới Lĩnh Nam thế mà vẫn không tiếp tế kịp lương thực ra mặt trận. Phần trên đã nói, “Hoài Nam Tử” kể: Trong trận tấn công Quảng Tây, nhà Tần thất bại thảm hại, thương vong mấy chục vạn quân và phải ngừng tấn công, bỏ ra mấy năm đào kênh Linh Cừ nhằm giải quyết việc chở lương thực từ Trung Nguyên ra mặt trận. Việt Nam ở rất xa Lĩnh Nam, lại càng xa Trung Nguyên. Từ Lĩnh Nam đi Việt Nam không có đường, chỉ có chặt cây leo núi qua thập vạn đại sơn, không thể bảo đảm tiếp tế lương thực. Sau thiệt hại lớn ở Quảng Tây, nhà Tần còn lính đâu, sức đâu mà tiến xuống Việt Nam. Chỉ sau khi lập nước Nam Việt ít lâu, Triệu Đà mới chiếm Việt Nam, và có lẽ Đà không gây chiến mà dùng cách mua chuộc. Việc này chưa có tư liệu xác thực làm căn cứ. Giới sử học nước ta có lý khi cho rằng thời kỳ Bắc thuộc bắt đầu vào khoảng năm 179 TCN. Tác giả NVQS chưa chú ý tới quan điểm này.

Người Nam Việt và người Việt Nam

Sử Trung Quốc cổ đại gọi tộc người sống ở Trung Nguyên (lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang, về sau gọi là Trung Quốc) là người Hoa Hạ - trong bài này, để tiện, sẽ gọi không chính xác là người Hán - các tộc còn lại là Man Di. Người Hán gọi tất cả các tộc người ở phía nam Trường Giang là tộc Việt, người Việt (Việt tộc, Việt nhân). Không may là bộ tộc người Kinh – Việt Nam ở vào vị trí địa lý ấy nên bị gọi vơ đũa cả nắm là người Việt. Từ đó trở đi sử Trung Quốc và sử ta ngày xưa (chủ yếu chép theo sử Trung Quốc) đều nói người Kinh - Việt Nam là người Bách Việt hoặc Lạc Việt; nói mãi, tự nhiên quan điểm đó trở thành chính thống!

Việt tộc trong sử Trung Quốc là một khái niệm tù mù, có những giải thích khác nhau. Theo NVQS, Việt tộc ở Lĩnh Nam có các tên gọi: Bách Việt, Dương Việt, Ngoại Việt, Lục Lương, Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt… Tộc Tây Âu hoặc Tây Ẩu chủ yếu sống ở Quảng Tây, nhưng sử gia Đào Duy Anh nói họ cũng sống ở Việt Nam (thượng lưu sông Lô, sông Cẩm[?], sông Cầu, sông Thương). NVQS không phân tích các yếu tố làm nên bản sắc của mỗi dân tộc, như tiếng nói, phong tục tập quán… mà viết liều: Tộc Lạc Việt sống ở Quảng Tây, Quý Châu và châu thổ sông Hồng Việt Nam - nói như vậy NVQS coi người Lạc Việt là người Kinh - Việt Nam, bởi lẽ người ở châu thổ sông Hồng chỉ có thể là Kinh - Việt Nam. Nhưng nói người Kinh - Việt Nam sống ở Quảng Tây, Quý Châu là sai sự thực. Hơn nữa tài liệu[7] viết: Người Lạc Việt là tổ tiên của người Tráng Quảng Tây; và ta biết ngôn ngữ Tráng khác xa ngôn ngữ Kinh-Việt Nam. Tóm lại, NVQS đã hoàn toàn sai khi coi người Kinh-Việt Nam là người Lạc Việt.

Cái tên gọi chung “Việt” ấy đã gây ra sự nhầm lẫn người Việt ở nước Nam Việt với người Kinh - Việt Nam. Như khi sử Trung Quốc viết Triệu Đà theo phong tục Việt, lấy vợ người Việt, Lữ Gia là người Việt [thực ra là người Bách Việt] nhưng có sử gia ta quả quyết rằng Đà lấy vợ người làng Đồng Sâm huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình, Lữ Gia là người Quốc Oai, Sơn Tây (xem chú thích 1; chuyện ấy có thể xuất phát từ tâm lý ưa gắn kết Việt Nam với Trung Quốc).

Chỉ cần xét vài lý do sau đây là đủ thấy sự hư cấu này thậm vô lý: Sau ngày bắt đầu Bắc thuộc (179 TCN) ít nhất dăm chục năm, chữ Hán mới được dạy cho dân ta; thời đầu nhà Triệu, dân ta chưa ai biết tiếng Hán, sao lại có người (Lữ Gia) giỏi Hán ngữ làm tới chức Thừa tướng 3 đời vua nhà Triệu? Mãi đến thế kỷ 18 Nguyễn Công Trứ mới đưa dân ra lập huyện Tiền Hải (Thái Bình), bởi lẽ trước Công nguyên, tỉnh Thái Bình còn ở dưới đáy biển (xem hình dưới), sao mà hồi ấy đã có làng mạc trù phú sinh ra những cô gái xinh đẹp giỏi tiếng Hán được vua Triệu kén làm vợ?

Nguồn: Tana Li, “A Historical Sketch of the Landscape of the Red River Delta”, TRaNS: Trans-Regional and - National Studies of Southeast Asia, Volume 4, Special Issue 2 (Water in Southeast Asia)July 2016 , pp. 351-363.  Sự tiến hóa trong lịch sử của đồng bằng châu thổ Sông Hồng. (BP: Before present - trước đây/cách nay). Thước tỷ lệ cho thấy 2000 năm trước, vùng đất cách bờ biển hiện nay 40 km trong tỉnh Thái Bình đều ngập dưới mặt nước biển. Triệu Đà sống cách nay 2260 năm, lúc đó mực nước biển càng cao hơn.

Xét về địa lý, tộc Kinh - Việt Nam sống trên mảnh đất cách xa cộng đồng Bách Việt hàng ngàn dặm, lại có núi và biển ngăn cách, sao có thể là thành viên của cộng đồng ấy được? Hơn nữa tiếng nói của người Kinh - Việt Nam (thuộc ngữ hệ Nam Á) khác xa người Bách Việt (thuộc ngữ hệ Hán - Tạng), sao có thể sống chung trong một cộng đồng được?

Thực ra “người Việt” trong sách sử Trung Quốc là người Bách Việt, có ngôn ngữ gần gũi với Hán ngữ của người Hán (cùng ngữ hệ Hán - Tạng), một số tộc như Dương Việt, Mân Việt… nói các phương ngữ của Hán ngữ. Vì thế nên người Bách Việt nhanh chóng học được tiếng Hán và chữ Hán. Còn tộc Kinh - Việt Nam dù bị người Hán ra sức đồng hóa suốt 1.000 năm nhưng do dị biệt ngôn ngữ quá lớn (và do các nguyên nhân khác) nên về cơ bản chẳng hề bị Hán hóa. Riêng một sự thực lịch sử bất hủ ấy đủ chứng tỏ tộc Kinh - Việt Nam hoàn toàn không thuộc cộng đồng các tộc Bách Việt, không phải là “Việt nhân” của nước Nam Việt (vấn đề này chúng tôi sẽ viết riêng trong một chuyên luận khác).

Triệu Đà với Việt Nam

NVQS viết rất ít về mối quan hệ này, có lẽ vì Triệu Đà chẳng quan tâm tới xứ Việt Nam xa xôi cách trở. Theo chúng tôi, nước Nam Việt quốc khi mới lập quốc hoàn toàn ở trên đất Trung Quốc. Sau lần thứ hai thần phục nhà Hán (179 TCN), khi không còn nguy cơ bị Hán tấn công nữa, Triệu Đà mới chiếm Âu Lạc (tức Việt Nam?). Vì thế có thể coi thời kỳ Bắc thuộc bắt đầu từ năm 179 TCN. NVQS viết: Triệu Đà sau khi xưng vương đã cho quân đánh An Dương Vương và chinh phục bộ tộc Lạc Việt, nhưng sau đó cũng để họ tự trị.

Đối với người Việt Nam thì Tần Thủy Hoàng, Triệu Đà, Hán Vũ Đế đều là kẻ ngoại bang; kẻ nào xâm chiếm nước ta đều như nhau. Thời ấy người Hán đều ngại sang Việt Nam làm việc, triều đình thường cử các quan lại bị cách chức hoặc phạm tội sang ta. Bọn họ số người đã ít, sang đây lại đều lấy vợ Việt Nam, hòa nhập với người bản xứ và bị Việt hóa, vì thế một số người đối xử tốt với dân ta, cai trị tương đối lỏng lẻo.

Cần thấy rằng Triệu Đà thi hành chính sách Hòa tập Bách Việt tại Nam Việt và Việt Nam đâu phải vì ông ta tốt bụng, mà chỉ vì hai vùng này ít người Hán trong khi các bộ tộc bản xứ có thế lực mạnh. Hơn nữa người Hán ở đây không phục Đà, vì y là tướng nhà Tần mà không phò Tần, về sau lại chống Hán - tức chống vương triều trung ương. Do đó Đà phải dựa vào người bản xứ và để họ tự trị một phần.

Nhà Triệu đóng đô ở Quảng Châu rất xa biên giới Trung Quốc - Việt Nam; quan lại và quân đội của triều đình đều là người Hán hoặc người Bách Việt, không hề có người Kinh - Việt Nam, rõ ràng là kẻ xâm chiếm và thống trị nước ta, không thể coi là vương triều của nước ta. Sử gia Ngô Thì Sĩ, các học giả Phan Khôi,[8] Phạm Quỳnh cũng từng nói như vậy.

Đúng là ở ta có những đền miếu thờ người Trung Quốc như thờ Triệu Đà, Lữ Gia v.v… Điều đó không có gì lạ. Suốt hàng nghìn năm trong và sau Bắc thuộc không ít quan lại các vương triều Trung Quốc bị lật đổ hoặc con cháu họ phải trốn sang Việt Nam định cư rồi bị Việt hóa, làm thành các dòng họ Triệu, Lữ (Lã) v.v… và họ dựng đền, tạc tượng thờ tổ tiên mình. Các đền và tượng ấy lâu nhất chỉ mới ra đời vài trăm năm nay. Những người được thờ không phải là người Việt Nam; vì thế chớ nhầm lẫn coi đó là tín ngưỡng của dân ta.

Tóm lại, NVQS và sách sử Trung Quốc đều truyền bá quan điểm người Kinh - Việt Nam thời cổ là người Lạc Việt thuộc tộc Bách Việt trong cộng đồng Hán tộc. Ngày nay Bắc Kinh đang dùng quan điểm đó để phục vụ mục đích chính trị. Năm 2014, khi dân ta mạnh mẽ phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam, Nhân dân nhật báo Trung Quốc đăng bài “Trung Quốc khuyên Việt Nam lãng tử hồi đầu”; thâm ý muốn nói Việt Nam vốn là con em trong đại gia đình Bách Việt, về sau “lãng tử” hư hỏng này tách ra độc lập, nay nên “hồi đầu” (ăn năn hối lỗi trở lại) đại gia đình xưa.[9]

Chúng ta cần cảnh giác bác bỏ luận điệu thâm hiểm ấy và khẳng định một sự thực lịch sử: Người Kinh - Việt Nam không phải là hậu duệ của người Bách Việt hoặc Lạc Việt.

—————–

[1] Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử. Trương Sỹ Hùng, Nguyễn Khắc Mai. Nxb Hội Nhà văn, 2017.

[2] 南越国史. Trương Vinh Phương, Hoàng Miễu Chương 张荣芳黄淼章. Nxb Quảng Đông, 9/2008.

[3] Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó DT Kinh (Việt) chiếm hơn 86%, còn lại 53 DT thiểu số. Ngôn ngữ của dân tộc Kinh thuộc ngữ hệ Nam Á, khác hẳn ngôn ngữ của người Trung Quốc thuộc ngữ hệ Hán - Tạng.

[4] Henri Paul Gaston Maspero (1883-1945), gốc Do Thái, nhà Hán học, sử học.

[5] 360doc.com/content/18/1006/07/30558861_792336194.shtml.

[6] 骆越方国研究. Chủ biên: Lương Đình Vọng nguyên Phó Hiệu trưởng ĐH Dân tộc Trung ương và Lệ Thanh nguyên Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Sử Địa Biên cương Viện KHXHTQ. Sách gồm 2 tập, 1,4 triệu chữ, Nxb Dân tộc xuất bản. Nội dung trình bày kết quả đề tài “Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt”, là đề tài trọng điểm của Quỹ KHXH nhà nước, thực hiện bởi Viện KHXHTQ, ĐH Dân tộc Trung ương, Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt Quảng Tây.

[7] Như trên.

[8] http://lainguyenan.free.fr/pk1936/HayBoTrieuDa.html

[9] http://nghiencuuquocte.org/2019/08/04/bac-bo-luan-dieu-lang-tu-hoi-dau/

 

 

Chuyên mục: Diễn đàn

1. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, lịch sử Việt Nam là lịch sử của các cuộc chiến tranh. Như một định mệnh và số phận của lịch sử, trong tiến trình phát triển lâu dài của mình, dân tộc Việt Nam đã phải thường xuyên đương đầu với các cuộc chiến tranh xâm lược, với các đế chế lớn. Trong tác phẩm “Tính thống nhất trong đa dạng của lịch sử Việt Nam”, Giáo sư sử học Phan Huy Lê từng tổng kết: Chưa kể những cuộc kháng chiến chống xâm lược thời Hùng Vương được phản ánh trong truyền thuyết, chỉ tính từ cuộc kháng chiến chống Tần vào thế kỷ III trước Công nguyên đến năm 1975, dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành 15 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trong số đó, có 12 cuộc kháng chiến giành thắng lợi và 3 cuộc kháng chiến bị thất bại. Các cuộc kháng chiến không thành công đó đã dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam[1].

Hành trình vượt lãnh Đại Dữu, liên quan đến lịch sử Việt Nam.

Lãnh tức là vùng núi, cao nguyên; có 5 lãnh nằm giữa đường biên giới nhà Hán và nước Nam Việt thời Triệu Đà, nên sử gọi là Ngũ Lãnh. Đại Dữu là một trong 5 lãnh đó, vị trí tại biên giới 2 tỉnh Giang Tây và Quảng Đông ngày nay. Thời xưa đã có đường giao thông từ bắc chí nam qua lãnh này, khái quát từ Cửu Giang [Cửu Giang thị, Giang Tây, tọa độ 29.703252, 116.018004Report a problemReport a problemReport a problem] tại phía nam sông Dương Tử, vượt hồ lớn đến Nam Xương, rồi ngược dòng sông  Cám mấy trăm cây số cho đến lãnh Đại Dữu [tọa độ 25.468275,114.434167]. Tại lãnh này phải dùng đường bộ một khoảng, rồi theo thượng nguồn sông Bắc Giang phát nguyên từ Cám Châu, xuôi dòng hợp với sông Châu Giang, chảy qua tỉnh thành Quảng Châu [tọa độ 23.104696,113.355309, Quảng Đông].

Chủ nhật, 02 Tháng 11 2014 19:46

Gs Lê Thành Khôi và lịch sử Việt Nam

Cuối tháng 8-2014  Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội vừa cho ra mắt quyển  Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX của Giáo Sư Lê Thành Khôi do dịch giả Nguyễn Nghị. Phải hơn 50 năm, một tác phẩm được giới nghiên cứu các ngành Khoa Học Xã hội thế giới xem kinh điển về lịch sử Việt Nam mới được đến với độc giả trong nước.

Năm 2006, một trang điện tử của người Việt ở nước ngoài công bố bài Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt - Trung (bản dịch của Lê Quỳnh) giới thiệu một số quan điểm của GS TS Liam C Kelley - giảng viên Đại học Hawaii ởManoa (Hoa Kỳ), về lịch sử Việt Nam và quan hệ văn hóa Việt - Trung trong quá khứ. Từ việc đọc các bài thơ của sứ thần Việt Nam, Liam C Kelley không chỉ coi: “Chúng không bộc lộ bất kì cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc, mà lại mô tả một sự khẳng định toàn diện về một trật tự thế giới mà quan hệ triều cống dựa vào và về vị trí phụ của Việt Nam trong thế giới ấy”, mà ông đi xa hơn bằng việc coi luận điểm về bản sắc dân tộc, văn chương chống ngoại xâm,... chỉ là “phóng chiếu các ý niệm và cảm xúc hiện tại vào quá khứ”, và “cái nơi mà chúng ta giờ đây gọi là Việt Nam đúng hơn đã từng là một vùng của sự giao tiếp văn hóa, một khu vực biên nơi mà việc anh là ai không quan trọng bằng việc anh làm gì?”. Thậm chí, GS TS Liam C Kelley còn không tin vào ý thức tự chủ, lòng tự tôn dân tộc của người Việt Nam, như đã cho rằng Bình Ngô đại cáo “không hẳn thể hiện niềm tự hào của người Việt trước người Trung Quốc, Bình Ngô đại cáo lại là sự cảnh cáo nghiêm khắc với những người Việt đã hợp tác với quân Minh chiếm đóng”! Vì thế với bút danh Hà Yên, tôi viết và công bố bài Từ một góc nhìn “xưa cũ và bảo thủ” về quan hệ văn hóaViệt - Trung, lạm bàn với Liam C. Kelleynhằm chứng minh Liam C Kelley đã nghiên cứu một cách chủ quan, như: khu biệt các sự vật hiện - tượng khỏi bối cảnh lịch sử và không gian sinh tồn, không quan tâm tới các nội dung có tính “ngầm ẩn”, “phi văn bản” của lịch sử - văn hóa,...

Thứ ba, 22 Tháng 11 2011 16:33

De Gaulle và Việt Nam ( 1945- 1969 ) (Kỳ 1)

 VHNA: Tiến sĩ s học Đại học Paris I Panthéon-Sorbonne, PIERRE JOURNOUD là nghiên cu viên Học viện Nghiên cu Chiến lược trường Đại Học Quân s Pháp, đồng thi cũng là cộng tác viên nghiên cu Trung Tâm Lịch s Châu Á hiện đại. Cuốn sách viết về De Gaulle và Việt Nam dày 543 trang vi 100 trang liệt kê danh sách các chú thích và các tài liệu lưu tr trong văn khố Pháp, Mỹ, Canada... .