Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Thứ bảy, 18 Tháng 7 2020 15:54

Chữ Nho, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ

Đã hơn trăm năm nay nước ta chính thức sử dụng chữ Quốc ngữ, thứ chữ viết được các nhà trí thức tiên tiến đầu thế kỷ XX ca ngợi là Hồn trong nước; Công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt và tin rằng Nước Nam ta sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ.

Dư luận nước ta trước đây quy công trạng làm ra thứ chữ kỳ diệu ấy cho giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes. Gần đây lại có dư luận yêu cầu ghi công các giáo sĩ không phải người Pháp như Francisco de Pina, António Barbosa, Gaspar do Amaral, António de Fontes… và đóng góp của giáo dân miền Nam nước ta từng giúp các giáo sĩ đó học tiếng Việt, và đóng vai trò “giám định” trong quá trình thí điểm sử dụng thứ chữ mới ấy. 

Đáng tiếc là cho tới nay công luận ở ta vẫn chưa nhất trí chọn được các nhân vật tiêu biểu làm ra chữ Quốc ngữ, và cơ quan chính quyền liên quan cũng chưa dứt điểm giải quyết vấn đề này. Để tình trạng đó kéo dài sẽ không có lợi cho hình ảnh một dân tộc văn minh. Đã đến lúc cần bàn thảo rộng rãi và sớm có hành động tri ân những người xứng đáng ghi công. Bài này nhằm góp một ý kiến bàn thảo. Vì người viết ít hiểu biết về ngôn ngữ học nên ý kiến nêu ra khó tránh khỏi có sai sót, mong được bạn đọc chỉ bảo.

***

Tiếng nói là khả năng bẩm sinh của con người, còn chữ viết là một phát minh sáng tạo không phải dân tộc nào cũng có. Ở thời xưa, tiến trình làm chữ viết cho một ngôn ngữ cần thời gian nhiều thế kỷ, thậm chí hàng ngàn năm. Tiếng Việt có hệ thống ngữ âm cực kỳ phong phú, cho nên càng có sức sống bền dai và càng khó làm được chữ viết; có thể vì thế mà ta chậm có chữ của mình. Nhưng cũng chính nhờ tiếng ta giàu ngữ âm mà rốt cuộc dân tộc ta được thừa hưởng một loại chữ viết tuyệt vời nhất vùng Đông Á.

Hiếm thấy nướcnào từng sử dụng ba loại chữ viết như nước ta: chữ Nho, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, mỗi loại chữ ấy làm nên một trang sử vẻ vang đáng ôn lại.

CHỮ NHO

Khoảng thế kỷ II trước CN, phong kiến Trung Quốc (TQ) chiếm nước ta, bắt dân ta học chữHán [1]. Nhờ đó lần đầu tiên người Việt Nam biết tới chữ viết - phương tiện truyền thông tin cực kỳ tiện lợi, không bị hạn chế về không gian và thời gian như tiếng nói. Có thể vì thấy được cái lợi lớn ấy mà các bậc đại trí người Việt đã nảy ra ý tưởng mượn dùng loại chữ này. Nhưng học Hán ngữ cực kỳ khó, vì người TQ đọc tiếng Hán theo hàng trăm phương ngữ khác nhau. Cái khó ló cái khôn: tổ tiên ta đã nghĩ ra cách chỉ đọc thứ chữ này bằng tiếng Việt mà không đọc bằng tiếng Hán, tức chỉ học chữ mà không học tiếng Hán. Ngôn ngữ học ngày nay giải thích điều đó là hợp lý, vì chữ Hánlà chữ biểu ý (chữ ghi ý, ideograph), tương tự chữ tượng hình vẽ con vật hoặc chữ số 1, 2, 3 hoặc ký hiệu $, %,… cả thế giới đều hiểu ý nghĩa các ký hiệu biểu ý đó, tuy đọc bằng tiếng của mình. Tổ tiên ta đã lợi dụng tính biểu ý của chữ Hánđể đọc nó bằng tiếng Việt, như cách người Trung Quốc các địa phương đọc bằng phương ngữ của họ. Vì thế chính quyền chiếm đóng không thể cấm dân ta đọc chữ Hántheo cách của ta.

Người Việt gọi thứ chữ Hán đã Việt hóa phần ngữ âm ấy là chữ Nho, tức chữ của người có học. Khi ấy mỗi chữ Hán được đọc bằng một âm (từ) Hán - Việt gần giống âm Hán của nó; nhưng một âm Hán có thể chuyển thành một số âm Việt khác nhau. Không chữ Hán nào không được đặt tên tiếng Việt. Việc đặt tên cho hàngchục nghìn chữ Hán kéo dài hàng trăm năm, thực sự là một công trình vĩ đại. Chỉ bằng truyền miệng mà cách nay 2000 năm các thầy đồ Nho trong cả nước ta đã đọc chữ Hán bằng một âm Việt thống nhất (TQ đặt mục tiêu đến năm 2020 toàn dân đọc chữ Hán bằng một âm Hán thống nhất). Có lẽ đây là lần đầu tiên chữ Hán được phiên  âm ra tiếng nước ngoài.

Do dạy và học chữ Hán bằng tiếng mẹ đẻ nên dân ta học chữ Hán dễ hơn khi dạy và học bằng tiếng Hán, nhờ đó mượn được thứ chữ nàyđể dùng, và coi chữ Nho là chữ viết chính thức, là “chữ ta” trong khoảng 2000 năm. Không ít người giỏi chữ chẳng kém người Hán. Như Khương Công Phụ (731-805) người Thanh Hóa đỗ Trạng nguyên ở TQ, về sau được vua nhà Đường phong Tể tướng.

Sau khi có chữ viết, dân tộc ta thoát khỏi thời tiền sử lạc hậu, tiến sang thời đại có sử sách ghi chép, có công cụ giao tiếp đối nội đối ngoại, sáng tác văn thơ, xây dựng ngành giáo dục, tiếp thu nền văn minh Trung Hoa tiên tiến, tổ chức xã hội theo mô hình TQ, từ đó tạo dựng nền văn minh Việt. Việc dùng chữ Hán mà không nói tiếng Hán đã giúp dân ta đời đời nói tiếng mẹ đẻ; nhờ thế dù có học và dùng chữ Hán bao lâu thì vẫn tránh được thảm họa bị người Hán đồng hóa. Chữ Nho đã thầm lặng bóp chết âm mưu Hán hóa tiếng Việt. Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, dân tộc ta vẫn giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ cùng nền văn hóa của mình. Đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam.

Phương pháp dùng từ Hán - Việt để phiên âm chữ Hán, qua đó làm thành chữ Nho, là một sáng tạo xuất sắc về ngôn ngữ, cực kỳ ích lợi: vừa mượn được chữ của người Hán về dùng, vừa lợi dụng được kho từ vựng chữ Hán làm nguồn bổ sung vô hạn cho kho từ vựng tiếng Việt. Thực ra hiện nay từ Hán - Việt đã kết hợp nhuần nhuyễn với từ thuần Việt tới mức khó phân biệt (ví dụ: lập trình, cận nghèo, v.v…). Khi cần dịch một từ ngữ mới xuất hiện, ta thường tham khảo cách dùng từ của người TQ. Ví dụ từ quantum, người TQ dịch là量子, ta đọc Hán-Việt là lượng tử, rất hay và dễ hiểu. Toàn bộ từ vựng Hán ngữ hiện đại do người Nhật cuối thế kỷ XIX phiên dịch các từ ngữ phương Tây [2], sau khivào Việt Nam đều được các nhà Nho Đông Kinh Nghĩa Thục chuyển thẳng thành từ Hán-Việt như vậy. Ngày nay khôngmộttừ ngữ mới nào không thể chuyển thành tiếng Việt.

Hơn nữa, tổ tiên ta phiên âm chữ Hán theo cách khôn ngoan không đâu có. Người Triều Tiên/Hàn Quốc phiên âm theo kiểu bám sát âm Hán, hậu quả là thừa kế 100% tình trạng tồn tại quá nhiều chữ đồng âmtrong chữ Hán; bởi vậy sau 7 thế kỷ dùng chữ Hangul, cho tới nay họ vẫn phải dùng chữ Hánđể ghi chú các chữ đồng âm. Người Nhật đọc chữ Hántheo nghĩa tiếng Nhật, không theo âm tiếng Hán - cách phiên âm này khiến cho ban đầu họ phải dùng hàng chục nghìn chữ Hán, làm cho tiếng Nhật thời cổ trở nên cực kỳ phức tạp. Về sau họ làm ra chữ Kana biểu âm, nhờ thế chỉ còn cần dùng khoảng 2000 chữ Hán. Tổ tiên ta phiên âm chữ Hántheo kiểu một âm tiếng Hán được chuyển thành hàng chục âm tiếng Việt, nhờ thế giảm hàng chục lần số chữ đồng âm, qua đó làm cho từ Hán - Việt chính xác hơn. Ví dụ âm [yi] tiếng Hán có 135 chữ đồng âm, ta chuyển thành hàng chục âm tiếng Việt như ất, dật, di, dĩ, dị, dịch, duệ, ích, y, ý, nghi, nghị, nghĩa, nhị, ức,…

Chữ Nho vốn là chữ Hán nên không ghi được lời nói tiếng Việt, do đó không thể làm chữ viết của tiếng Việt. Trên thực tế chữ Nho hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ của tầng lớp bình dân, chỉ một số ít người thuộc giới quan lại hoặc giới tinh hoa ở ta biết dùng chữ Nho, và chỉ dùng để viết (bút đàm) trong một số lĩnh vực hẹp, không dùng để nói. Văn thơ chữ Nho làm theo kiểu văn thơ của người Hán không được coi là văn thơ tiếng Việt.

CHỮ NÔM

Từ khoảng thế kỷ XII tổ tiên ta bắt đầu sáng tạo một loại chữ viết nhằm ghi âm tiếng mẹ đẻ, gọi là chữ Nôm. Thử nghiệm này nói lên ý thức tự chủ ngôn ngữ muốn có chữ viết riêng của ta, chấm dứt tình trạng dùng chữ đi mượn, lại thể hiện được trí tuệ của người Việt: tiến tới làm ra loại chữ tiên tiến nhất - chữ biểu âm(chữ ghi âm, phonograph), loại chữ người Hán chưa từng có.

Chữ Nôm được xây dựng trên cơ sở chữ Hán đọc theo âm Hán - Việt, kết hợp cả hai yếu tố biểu ý và biểu âm. Vì chưa biết tới ký tự Latin abc nên tổ tiên ta đã dùng các ký tự vuông chữ Hán(có cải tiến) để ghi âm tiếng mẹ đẻ của mình. Ban đầu chữ Nôm mượn dạng chữ Hán để ghi âm tiếng Việt, dần dần dùng cách ghép hai chữ Hán để tạo ra một chữ mới, một phần gợi âm, một phần gợi ý - về sau loại chữ tự tạo này được dùng ngày một nhiều. Nhưng vì các ký tự vuông gốc chữ Hán không phải là chữ cái ghép vần, cho nên mức chính xác ghi âm tiếng Việt còn thấp, chưa tiêu chuẩn hóa, nhiều chữ phải đoán âm đọc, có trường hợp một âm có nhiều chữ, v.v...

Mỗi chữ Nôm thể hiện một âm tiết. Tiếng Việt giàu âm tiết nên có nhiều chữ Nôm. Theo tài liệu [3], vào giữa thế kỷ XVII đã có khoảng 80.000 chữ Nôm (?). “Bảng tra chữ Nôm” (xuất bản năm 1976) cho biết có 8.187 chữ [4].“Từ điển Chữ Nôm dẫn giải” của GS Nguyễn Quang Hồng (xb. 2015) có 9.450 chữ Nôm (gồm gần 3.000 chữ tự tạo), ghi 14.519 âm tiết tiếng Việt. Do chữ Nôm chưa chuẩn hóa nên các số liệu trên có khác nhau, nhưng đều cho thấy tổ tiên ta đã làm được rất nhiều chữ, suy ra chữ Nôm thời xưa đã ghi được rất nhiều (nếu không nói là hầu hết) âm tiếng Việt đã dùng.

Chữ Nômtừng được gọi là Quốc ngữ hoặc Quốc âm, tức chữ của tiếng nói nước ta (chữ Nho chưa bao giờ được gọi như vậy). Nhưngdo cấu tạo trên nền tảng chữ Hánnên chữ Nôm phụ thuộc vào chữ Hán, khó học (biết chữ Nho mới học được chữ Nôm), khó phổ cập. Hơn nữa, do Nhà nước phong kiến và tầng lớp tinh hoa ở ta mù quáng sùng bái chữ Háncho nên chữ Nôm chưa được thừa nhận là chữ viết chính thức, bị coi là thấp kém dưới chữ Hán. Vì thế chữ Nôm khó được phát triển và hoàn thiện, chưa tiêu chuẩn hóa.

Tuy vậy văn thơ chữ Nôm, tức văn thơ tiếng Việt, do nói lên được tiếng nói và nỗi lòng của người bình dân nên đã tỏ ra trội hơn hẳn văn thơ chữ Nho. Nền văn học chữ Nôm từng đạttới cực thịnh từ thời Hậu Lê đến thời kỳ đầu nhà Nguyễn (thế kỷ XVII-XIX), với các kiệt tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), Đoàn Thị Điểm (1705-1749), Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), Nguyễn Huy Tự (1743-1790), Nguyễn Du (1765-1820), Hồ Xuân Hương (1772-1822), Phạm Thái (1777-1813), Bà Huyện Thanh Quan (1805-1848), Lý Văn Phức (1785-1849), Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), Nguyễn Khuyến (1835-1909), Trần Tế Xương (1870-1907), v.v…[4]. Sách Thiên Nam Ngữ Lục (cuối thế kỷ XVII) gồm 8.136 câu thơ lục bát, dùng tới 58.212 chữ Nôm.

Càng về sau chữ Nôm càng được sử dụng nhiều: trong hơn 200 năm sau khi chữ Quốc ngữ đã ra đời nhưng chưa phổ cập, các linh mục Công giáo đều dùng chữ Nôm viết tài liệu giảng đạo. Điều đó cho thấy vai trò to lớn của chữ Nôm trong đời sống văn hóa ở ta, đặc biệt trong cộng đồng Công giáo vốn không ưa dùng chữ gốc Hán.

Vì sao chữ Nôm khó học mà lại được sử dụng khá phổ biến đến như vậy? Chủ yếu do chữ Nôm có yếu tố ghi âm rất rõ, ghi được tiếng nói người bình dân, là “chữ của tiếng ta”. Hãy xem câu “Sóng tình dường đã xiêu xiêu/ Xem trong âu yếm có chiều lả lơi” (Truyện Kiều, câu số 499-500): hầu như toàn bộ là tiếng “thuần Việt”, không có từ Hán - Việt - là những âm mà chữ Nho không thể hiện được. Ngôn ngữ học thời nay giải thích: chữ Nôm có được yếu tố ghi âm là do tiếng Việt giàu âm tiết nên vượt qua được sự hạn chế của ngôn ngữ đơn âm tiết (monosyllabic)[5].

CHỮ QUỐC NGỮ

Thế kỷ XVII các giáo sĩ Kitô giáo Dòng Tên Francisco de Pina, António Barbosa, Gaspar do Amaral, António de Fontes,Girolamo Maiorica, Alexandre de Rhodes v.v… đến nước ta truyền giáo. Dòng Tên chỉ tuyển người có trình độ tiến sĩ [6], và nghiêm khắc yêu cầu nhà truyền giáo phải thông thạo ngôn ngữ và theo phong tục tập quán của dân bản xứ.

Theo ghi chép, Francisco de Pina đến Việt Nam năm 1617, ba năm sau đã cùng các giáo sĩ soạn tài liệu giáo lý bằng chữ Nôm. Trong các năm 1632-1656 giáo sĩ Girolamo Maiorica (người Ý) đã viết 45 tác phẩm chữ Nôm, trong đó Thư viện Quốc gia Pháp hiện còn giữ 15 tác phẩm với tổng số 1, 2 triệu chữ Nôm [7], nhiều gấp 52 lần số chữ Nôm trong Truyện Kiều. Một số thư viện còn giữ được nhiều tài liệu chữ Nôm của các giáo sĩ đi đầu làm chữ Quốc ngữ như Gaspar do Amaral, António Barbosa…   

Vì đối tượng truyền giáo thời ấy là nông dân, ngư dân Quảng Nam, Quảng Ngãi nên dĩ nhiên các tài liệu giảng đạo chữ Nôm phải dùng từ ngữ của dân thường. Từ đây có thể suy ra các vị giáo sĩ-bậc thầy ngôn ngữ học ấy không thể không nhận thấy chữ Nôm có yếu tố biểu âm, vàđã ghi được phần lớn âm tiếng Việt, nhưng chỉ vì dùng ký tự vuông của Hán ngữ nên ghi âm chưa chính xác, và khó học, khó phổ cập. Kinh nghiệm thất bại của các giáo sĩ Dòng Tên ở Nhật trong việc phiên âm Latin hóa chữ Kanji biểu ý (tức chữ Hán) càng cho thấy việc chữ Nôm có yếu tố biểu âm là một thuận lợi lớn khi phiên âm nó thành chữ biểu âm Latin hóa.

Với nhận thức như vậy, các giáo sĩ giỏi chữ Nôm kể trên dĩ nhiên đã sớm nảy ra ý tưởng và niềm tin có thể dùng chữ cái Latin để phiên âm chữ Nôm, biến thứ chữ gốc Hán có yếu tố biểu âm ấy thành thứ chữ biểu âm Latin hóa dễ học dễ dùng cho việc truyền giáo.  

Hiển nhiên, phiên âm một loại tiếng nói đã có chữ viết ghi lại âm của tiếng đó thì đơn giản nhiều so với việc phiên âm thứ tiếng nói chưa có chữ viết - ở thời xưa, đó là một công trình lao động sáng tạo cực kỳ phức tạp, cần nhiều người làm trong hàng trăm năm.

Trên thực tế, các giáo sĩ kể trên dù rất ít người và làm việc phân tán nhưng đã nhanh chóng tìm ra các chữ cái Latin thích hợp thay cho các ký tự vuông tương ứng trong chữ Nômvà tạo ra loại chữ mới trong thời gian ngắn kỷ lục: 32 năm (1617-1649). Năm 1617 Francisco de Pina đến Đàng Trong, năm 1619 đã viết xong một bản từ vựng tiếng Việt bằng chữ Latin. Năm 1631 Gaspar do Amaral đến Đàng Ngoài, năm sau đã ghi âm rất tốt tiếng Việt, năm 1634 làm xong một cuốn từ vựng tiếng Việt. Trongmấy cuộc gặp tại Macao (1630-1631), các giáo sĩ đã xác định được 6 thanh điệu và tính đơn âm tiết của tiếng Việt. Năm 1649 Rhodes mang theo bản thảo Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) rời Việt Nam. Năm 1651 Từ điển này được xuất bản tại Roma, đánh dấu sự ra đời chữ Quốc ngữ Việt Nam [8]. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, chữ viết biểu âm Latin hóa thành công ra đời tại khu vực ảnh hưởng của Hán ngữ.

Trong quá trình làm chữ Quốc ngữ, các giáo sĩ đã phải giải quyết nhiều khó khăn gây ra bởi hệ ngữ âm tiếng Việt quá phong phú và mới lạ. Vấn đề phức tạp nhất là phải nghiên cứu sáng tạo ra hệ thống ký hiệu thể hiện được các thanh điệu sắc, huyền, hỏi. ngã, nặng, và các con chữ thể hiện được các ngữ âm không có trong bộ chữ La tinh như ă, â, ê, ơ, ô, ư, đ. Bộ ký hiệu và con chữ ấy làm nên cái gọi là “giày và mũ” trong nhận xét của một học giả nổi tiếng Trung Quốc: “Chữ viết của Việt Nam sau khi phiên âm hóa, đầu đội mũ, chân đi giày, rất nực cười.” [9]. Thực ra “mũ, giày” ấy là những sáng tạo hợp lý tới mức người Việt xưa và nay đều không chấp nhận bất cứ thứ chữ Quốc ngữ nào không có các ký hiệu và con chữ đó. Ví dụ gần đây công luận không tán thành một số phương án chữ Quốc ngữ bỏ dấu. Ngoài ra các giáo sĩ đã hiệu chỉnh những âm tiếng Việt mà chữ Nôm chưa ghi chính xác, và hiện đại hóa ngữ pháp cùng cách viết, như đưa vào các loại dấu ngắt câu, ngắt đoạn, dấu ngoặc, ký hiệu toán học, lối viết hoa, viết tắt, v.v…

Về hình thức, chữ Quốc ngữ khác hẳn chữ Nôm, nhưng về bản chất cả hai đều là các hệ chữ viết ghi âm tiếng Việt; chữ Quốc ngữ trong Từ điển Việt-Bồ-La thể hiện rất rõ mối tương quan với chữ Nôm [10].

Sau mấy chục năm dầy công lao động sáng tạo, các vị giáo sĩ nói trên đã hoàn thành việc phiên âm và biến đổi chữ Nôm thành một thứ chữ biểu âm dùng chữ cáiLatin -loại chữ viết tiên tiến nhất, quốc tế hóa nhất thời đó, về sau được gọi là chữ Quốc ngữ. Rõ ràng, chữ Quốc ngữ chính là chữ Nôm được Latin hóa và hiện đại hóa.

Giả thử thời ấy chưa có chữ Nôm, chỉ có chữ Nho, thì việc làm chữ của các giáo sĩ sẽ vô cùng khó khăn vì chữ Nho vốn là chữ Hán. Thực tiễn cải cách chữ viết ở Trung Quốc đã chứng tỏ không thể dùng bất cứ bộ chữ cái nào để phiên âm chữ Hán thành chữ biểu âm.

Năm 1582 giáo sĩ Dòng Tên người Ý Matteo Ricci đến Trung Quốc truyền giáo. Ông rất giỏi Hán ngữ, đã dành nhiều năm nghiên cứucách phiên âm chữ Hán. Năm 1605, Ricci đưa ra phương án phiên âm chữ Hánbằng chữ cái Latin, nhưng phương án này chỉ giúp người Âu học chữ Hán dễ hơn, chứ chưa phải là một loại chữ viết mới. Về sau, giới trí thức Trung Quốc tiếp tục nghiên cứutheo phương hướng của Ricci nhằm mục tiêu tạo ra một thứ chữ biểu âm có thể thay thế chữ Hán mà họ muốn loại bỏ. Nhưng mọi cố gắng ấy đều không có kết quả. Năm 1958, Ủy ban Cải cách chữ viết Trung Quốc làm ra Phương án phiên âm (Pinyin) Hán ngữ dùng chữ cái Latin, nhưng chỉ có tác dụng phụ trợ là ghi chú âm cho chữ Hán, không phải là một loại chữ viết. Từ năm 1986, Ủy ban này không còn nhắc tới mục tiêu tạo ra loại chữ biểu âm thay cho chữ Hánnữa, và nói tương lai của chữ Hánsẽ do các thế hệ sau quyết định. Hiện nay Trung Quốc vẫn dùng chữ Hánnhư cũ, có kết hợp dùng phương án Pinyin Hán ngữ chỉ để ghi chú âm đọc chữ Hán.

Tóm lại, việc dùng chữ cái Latin phiên âm chữ Nôm thành chữ biểu âm đã thành công ngay từ giữa thế kỷ XVII, trong khi mọi cố gắng tương tự đối với chữ Háncho tới nay vẫn bất thành. Tại sao vậy? Đó là do chữ Nôm có yếu tốbiểu âm, còn chữ Hánbiểu ý không biểu âm; và tình trạng đó bắt nguồn sâu xa từ chỗ tiếng Việt giàu âm tiết, tiếng Hán nghèo âm tiết.

Đến đây có thể kết luận:Chữ Nôm đã xây đắp nền tảng ngôn ngữ để các giáo sĩ nói trên dựa vào đó tạo ra chữ Quốc ngữ. Toàn dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công trạng làm chữ Nôm của tổ tiên ta, coi chữ Nôm là một sáng tạo ngôn ngữ xuất sắc góp phần quyết định sự hình thành chữ Quốc ngữ.

Sau cùng cần nhấn mạnh vai trò quan trọng của Kitô giáo. Là hiện tượng văn hóa của số đông loài người, các tôn giáo lớn đều tôn sùng và truyền bá tư tưởng nhân ái cao quý. Thế kỷ XVII, các giáo sĩ Kitô giáo người Âu khi đến Việt Nam truyền giáo đã kết hợp làm sứ mạng khai hóa dân bản xứ, khác hẳn hành vi xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Thực dân Bồ Đào Nha khi chiếm Brazil đã cưỡng bức đồng hóa dân bản xứ bằng cách bắt họ nói tiếng Bồ, trong khi các giáo sĩ Kitô giáo người Bồ như Franciscode Pina… đến Việt Nam truyền giáo đã không làm thế mà còn tìm cách Latin hóa chữ Nôm. Hơn nữa, de Pina còn nghĩ tới việc dùng thứ chữ hiện đại này bắc cây cầu đối thoại Việt Nam với châu Âu văn minh, và tạo dựng một nền văn hóa mới cho nước ta [11]. Đây thật là một ý tưởng cao quý! Khi mới chiếm Việt Nam, thực dân Pháp từng chủ trương bắt dân ta đời đời nói tiếng Pháp như chúng đã làm ở các thuộc địa châu Phi. Nhưng giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes lại hăng hái làm chữ viết riêng giúp cho người Việt giữ được tiếng mẹ đẻ. Nếu chưa có chữ Quốc ngữ thì nước ta ắt hẳn đã bị người Pháp đồng hóa từ lâu.

Bởi vậy sẽ là sai lầm khi cho rằng các giáo sĩ đạo Kitô đến Việt Nam truyền giáo là để phục vụ chính sách xâm lược của thực dân Pháp. Với truyền thống Uống nước nhớ nguồn, dân tộc ta ghi ơn tất cả các giáo sĩ Kitô giáo đã góp phần làm ra thứ chữ viết kỳ diệu ta dùng hơn trăm năm nay.

Và như vậy có thể nói chữ Quốc ngữ là thành quả kết hợp trí tuệ của nền văn minh Việt với nền văn minh Kitô giáo, là món quà vô giá mà các giáo sĩ Dòng Tên trao cho dân tộc ta trong một ngẫu nhiên lịch sử xảy ra ở thế kỷ XVII.

 

 

Ghi chú

[1] Thứ chữ này đến đời nhà Nguyên (thế kỷ XIV) mới có tên “chữ Hán”. Ở đây gọi thế cho tiện.

[2]  Nguyễn Hải Hoành: “Người Nhật phát triển Hán ngữ hiện đại”

[3] https://hocthenao.vn/2013/09/07/the-chan-vac-cua-ngon-ngu-van-tu-viet-dao-mong-nam-nguyen-tien-van/

[4]  Lại Nguyên Ân :  “Chữ Quốc ngữ và đời sống cộng đồng người Việt”.

[5]  Nguyễn Hải Hoành: “Một vài tìm tòi về ngôn ngữ”. Tạp chí Tia Sáng số 11 (5/6/2020).

[6]  https://tuoitre.vn/chu-quoc-ngu-nhung-nguoi-dau-tien-khai-sang-20191206213804476.htm

[7]  https://vi.wikipedia.org/wiki/Girolamo_Maiorica.  

     Lã Minh Hằng: “Đôi nét về thư tịch Hán Nôm Công giáo tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm”.

[8]  Phạm Thị Kiều Ly: “Lịch sử chữQuốc ngữ từ 1615 đến 1861: Quá trình La-tinh hóa tiếng Việt trong trào lưu ngữ học truyền giáo”. TC Tia Sáng số 24  (20/12/2019).

[9]  Nguyễn Hải Hoành: “Sao lại nói chữ Quốc ngữ Việt Nam rất nực cười?”

[10]  Nguyễn Ngọc Quân: “Chữ Quốc ngữ trong Từ điển Việt-Bồ-La trong tương quan với cấu tạo chữ Nôm đương thời”.

[11]  http://www.rfi.fr/vi/ việt-nam/20200122-ông-tổ-quốc-ngữ-pina-người-bắc-cầu-văn-hóa-âu-việt.

---------------

Chuyên mục: Diễn đàn
Thứ bảy, 04 Tháng 7 2020 15:31

Từ chữ Nôm đến chữ Quốc ngữ

                                                                       

Các nhà nghiên cứu trao đổi tại Hội thảo khoa học 100 năm chữ Quốc ngữ, TP Hồ Chí Minh 12/2019. nguồn ảnh nld.com.vn

Sách sử chép: từ thế kỷ XVII Tòa Thánh Vatican bắt đầu cử các giáo sĩ đạo Ki Tô người châu Âu đến vùng Đông Á làm sứ mạng truyền giáo. Tới đâu họ đều trước tiên học ngôn ngữ của dân bản xứ theo cách dùng chữ La tinh để ghi âm tiếng nói hoặc phiên âm chữ viết (nếu có) của nước sở tại.

Tại Việt Nam, vào nửa đầu thế kỷ XVII các giáo sĩ đạo Ki Tô dòng Tên như Francisco de Pina, Antonio Barbosa, Gaspar do Amaral, António de Fontes,Alexandre de Rhodes, v.v… đã dùng con chữ La tinh làm ra một loại chữ viết mới cho tiếng Việt, về sau gọi là chữ Quốc ngữ. Chữ viết này có hai ưu điểm nổi bật là biểu âm và La tinh hóa, ghi được toàn bộ các âm tiếng Việt, rất dễ học dễ dùng và có tính quốc tế. Chữ Quốc ngữ ra đời đã giúp các giáo sĩ đạo Ki Tô làm tốt sứ mạng truyền giáo, đồng thời đã mang lại một “công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt” (lời học giả Phạm Quỳnh), từ đó làm thay đổi hẳn đời sống xã hội nước ta và nâng nền văn minh Việt lên một tầng cao chưa từng thấy.

Tại Trung Quốc, năm 1605, giáo sĩ người Ý Matteo Ricci làm ra phương án phiên âm chữ Hán bằng chữ La tinh; nhưng phương án này chỉ giúp người Âu học chữ Hán dễ hơn, chứ chưa phải là một loại chữ viết mới. Về sau, giới trí thức Trung Quốc tiếp tục nghiên cứutheo phương hướng của Ricci, nhằm tạo một loại chữ biểu âm (chữ ghi âm, phonograph) thay thế chữ Hán mà họ cho là lạc hậu. Nhưng tất cả mọi cố gắng ấy đều thất bại. Năm 1958, Ủy ban Cải cách chữ viết Trung Quốc làm ra Phương án phiên âm Hán ngữ dùng chữ cái La tinh (汉语拼音方案, Scheme of the Chinese Phonetic Alphabet), chỉ có tác dụng phụ trợ là ghi chú âm cho chữ Hán, không phải là một loại chữ viết. Năm 1986, Nhà nước Trung Quốc từ bỏ mục tiêu tạo ra loại chữ biểu âm thay cho chữ Hán. Trở ngại chính là Hán ngữ có nhiều chữ đồng âm, tức cùng một âm đọc có nhiều chữ khác tự hình, khác ý nghĩa, khi viết thành chữ phiên âm (tức biểu âm) sẽ đọc không hiểu nghĩa. Có lẽ vì thế mà tổ tiên người Hoa Hạ đã làm một loại chữ biểu ý (chữ ghi ý, ideograph), không biểu âm, về sau gọi là chữ Hán, có thể dùng tự hình để phân biệt các chữ đồng âm.

Vì sao chữ Quốc ngữ Việt Nam ra đời nhanh chóng và thành công mỹ mãn như vậy? Những nhân tố nào đã góp phần làm nên thành tựu ngôn ngữ kiệt xuất đó?

Xưa nay mọi người đều quy công đầu cho nhóm các giáo sĩ nói trên, rồi đến cộng đồng giáo dân miền Nam nước ta đã thí điểm sử dụng, thẩm định và hoàn thiện thứ chữ mới đó.

Thực ra, nhân tố căn bản quyết định sự ra đời chữ Quốc ngữ chính là chữ Nôm - một sáng tạo ngôn ngữ học xuất sắc của tổ tiên ta từ thế kỳ XII.

Chữ Nôm là loại chữ biểu âmkết hợp biểu ý, từng có thời được gọi là “Quốc ngữ” hoặc “Quốc âm”, tức chữ của “tiếng nói nước ta”[1]. Chữ Nôm được cấu tạo trên nền tảng chữ Nho (tức chữ Hánđọc bằng tiếng Việt), vì thế phụ thuộc vào chữ Hán, khó học (biết chữ Nho mới học được chữ Nôm), khó phổ cập, lại chưa được chính quyền thừa nhận, bị coi là “nôm na”. Tuy vậy, văn học chữ Nôm do nói lên được tiếng nói và nỗi lòng của người bình dân nên đã trội hơn hẳn văn học chữ Nho, tạo ra một thời kỳ phát triển rực rỡ nền văn học nước ta.

Sau nhiều thế kỷ hoàn thiện, chữ Nôm đã đạt mức ghi được hầu như toàn bộ các âm tiếng Việt. Có thể thấy rõ điều đó từ các tác phẩm văn thơ chữ Nôm như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, v.v… và các tác phẩm chữ Hán được dịch ra chữ Nôm, như Truyền kỳ mạn lục, Chinh phụ ngâm khúc, v.v… Ngay cả khi chữ Quốc ngữ đã ra đời nhưng chưa được sử dụng, các linh mục Công giáo đều dùng chữ Nôm để viết sách viết bài giảng đạo.

Sử sách chép rằng khi các giáo sĩ kể trên đến nước ta truyền giáo, họ đã học và dùng thành thạo tiếng Việt và chữ Nôm, biên soạn nhiều sách và tài liệu truyền giáo bằng chữ Nôm. Có thể suy ra qua đó họ nhận thấy xứ này đã có chữ viết lâu đời, hơn nữa lại là chữ biểu âm- loại chữ được dùng nhiều nhất trên thế giới. Họ cũng biết rõ: chỉ vì dùng ký tự vuông của Hán ngữ để ghi âm tiếng Việt mà chữ Nôm khó học, khó phổ cập; nếu dùng chữ cái La tinh phiên âm chữ Nôm thì chắc chắn sẽ làm được một loại chữ biểu âm La tinh hóa tiện dùng cho việc truyền giáo. Với suy nghĩ như vậy, họ bắt tay vào việc tạo ra một loại chữ mới cho tiếng Việt.

Như vậy nhiệm vụ chủ yếu của các giáo sĩ này là dùng bộchữ cái La tinh thay thế các ký tự vuông ghi âm trong chữ Nôm - nghĩa là chỉ cải tạo, hoàn thiện và La tinh hóa một thứ chữ biểu âm có sẵn. Nhiệm vụ này dễ hơn nhiều so với việc tạo ra loại chữ biểu âm mới cho một ngôn ngữ chưa có chữ viết, tức chưa có các ký hiệu ghi âm.

Dĩ nhiên nhiệm vụ trên cũng có nhiều khó khăn, nhất là việc chọn ký hiệu thể hiện các thanh điệu (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) và các âm không có trong bộ chữ La tinh, như ă, â, ê, ơ, ô, ư, đ… Năm 2008, một học giả hàng đầu Trung Quốc chê bai “Chữ viết của Việt Nam sau khi phiên âm hóa, đầu đội mũ, chân đi giày, rất nực cười.” [2]. Thực ra “mũ”,“giày” ấy là những sáng tạo tinh tế và hợp lý, tới mức người Việt xưa và nay đều không chấp nhận bất cứ thứ chữ Quốc ngữ nào không có các ký hiệu đó.

Giả thử nước ta thời bấy giờ chưa có chữ Nôm, tức chỉ có chữ Nho, thì công việc của các giáo sĩ ấy sẽ khác hẳn: họ phải làm mới một loại chữ biểu âmcho tiếng Việt. Chữ Nho bản chất là chữ Hán, là loại chữ biểu ý, không biểu âm. Thực tế ở Trung Quốc cho thấy không thể dùng bất cứ bộ chữ cái nào để phiên âm chữ Hán thành một loại chữ biểu âm.

Chữ Nho có chút thuận lợi hơn ở chỗ từ Hán - Việt (từ Việt để gọi tên chữ Hán) có nhiều âm hơn chữ Hán, nhưng vẫn là quá ít so với tổng số âm của tiếng Việt [3]. Suy ra việc phiên âm chữ Nho thành chữ biểu âm cũng cần thời gian rất lâu, nếu không nói là bất khả thi. Giả thử bỏ qua chữ Nho, làm mới một loại chữ biểu âm cho tiếng Việt chưa có chữ viết, thì ở thế kỷ XVII, khi lý luận ngôn ngữ học chưa ra đời, đó sẽ là một công trình sáng tạo có quy mô cực lớn, đòi hỏi thời gian cả trăm năm.

Theo Phạm Thị Kiều Ly[4], các giáo sĩ kể trên dù rất ít người và làm việc phân tán nhưng đã tạo ra chữ Quốc ngữ trong thời gian ngắn kỷ lục: từ năm 1617 đến 1649. Họ đã nhanh chóng tìm ra các chữ cái La tinh phù hợp để ghi âm tiếng Việt. Năm 1617, Giáo sĩ Francisco de Pina đến Đàng Trong, tới năm 1619 đã viết xong một bản từ vựng tiếng Việt bằng chữ La tinh. Năm 1631, Gaspar do Amaral đến Đàng Ngoài, chỉ sau một năm đã ghi âm rất tốt tiếng Việt và đến năm 1634 đã làm xong một cuốn từ vựng tiếng Việt. Trongcác cuộc gặp tại Macao (1930-1931), các giáo sĩ đã xác định được 6 thanh điệu và tính đơn âm tiết của tiếng Việt. Năm 1649, Rhodes rời Việt Nam mang theo bản thảo Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum). Năm 1651, Từ điển này được in và xuất bản tại Roma, đánh dấu chữ Quốc ngữ Việt Nam chính thức ra đời.

Trong điều kiện ở thế kỷ XVII, quá trình làm chữ Quốc ngữ diễn ra nhanh chóng như vậy cho thấy các giáo sĩ nói trên đã gặp thuận lợi lớn - đó là chữ Nôm, một loại chữ biểu âm đã tồn tại dăm trăm năm, ghi được hầu như toàn bộ âm tiếng Việt. Các ký hiệu thị giác của chữ Nôm thể hiện hệ thống ngữ âm cực kỳ phong phú của tiếng Việt, tạo nguồn tư liệu ngôn ngữ để dựa trên nền tảng đó, các giáo sĩ dùng chữ cái La tinh thay cho các ký tự hình vuông, đồng thời hiện đại hóa phần ngữ pháp (như áp dụng các dấu ngắt câu, ngắt đoạn, viết hoa, v.v…), qua đó biến chữ Nôm thành một thứ chữ biểu âm La tinh hóa, là loại chữ viết tiên tiến và thích hợp nhất với tiếng Việt. Có thể coi chữ Quốc ngữ là chữ Nôm được La tinh hóa và hiện đại hóa.

Tóm lại, cần khẳng định tổ tiên ta đã góp phần quan trọng làm ra chữ Quốc ngữ - thành quả kết hợp trí tuệ của dân tộc Việt với trí tuệ của nền văn minh Ki Tô giáo.

 

 

[1]   https://bigschool.vn/chu-quoc-ngu-trong-lich-su-tieng-viet

[2]  http://nghiencuuquocte.org/2017/12/11/sao-lai-noi-chu-quoc-ngu-vn-rat-nuc-cuoi/

[3]  Hán ngữ có khoảng 1300 âm tiết có xét thanh điệu, tiếng Việt có khoảng 18000; Tự điển Hán-Việt Thiều Chửu dùng 1839 từ Hán-Việt phiên âm 8295 chữ Hán.

[4]   https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Lich-su-chu-Quoc-ngu-tu-1615-den-1861-Qua-trinh-La tinhh-hoa-tieng-Viet-trong-trao-luu-ngu-hoc-truyen-giao-20834

Chuyên mục: Diễn đàn

Nước Nam Việt (南越国 hoặc 南粤国) là một vương quốc ở vùng đông nam Trung Quốc do Triệu Đà lập ra năm 204 TCN. Sử Trung Quốc coi vương triều Nam Việt là một chính quyền cát cứ địa phương, không thuộc vương triều chính thống. Có lẽ vì thế mà tư liệu về nước Nam Việt đã rất ít lại quá sơ sài.

Dù chỉ tồn tại 93 năm và đã biến mất 21 thế kỷ qua nhưng Nam Việt quốc vẫn còn duyên nợ với Việt Nam ta. Phải chăng vì hai nước có tên gọi giống nhau hay vì ở liền kề nhau? Cớ sao một số nhà chính trị và sử gia nổi tiếng Việt Nam xưa và nay coi nhà Triệu là vương triều đầu tiên của nước ta, nhưng giới sử học chính thống Việt Nam hiện nay lại coi nhà Triệu là kẻ đầu tiên xâm chiếm nước ta, mở đầu thời kỳ Bắc thuộc?

Tìm hiểu nước Nam Việt nhằm giải đáp mấy câu hỏi trên sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ nguồn gốc tổ tiên mình và mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, cũng như giúp chấm dứt cuộc tranh cãi về vai trò của nhà Triệu đối với nước ta.[1]

Cuốn “Lịch sử nước Nam Việt” (南越国史Nam Việt quốc sử, NVQS)[2] đã phần nào đáp ứng yêu cầu đó. Tuy NVQS đã tham khảo 975 tài liệu, gồm 113 tài liệu nước ngoài (60 của Việt Nam) nhưng các tài liệu ấy có chỗ chưa nhất quán với nhau, sao chép lẫn nhau và lời lẽ khó hiểu, lại viết quá sơ sài về nước ta. Sách cổ sử Trung Quốc chủ yếu viết về hành trạng của các nhân vật, ít viết các vấn đề tổng quan, đã thế cách viết lại khó hiểu. Đọc NVQS cùng các tài liệu liên quan, chúng tôi cảm thấy dường như việc nghiên cứu nước Nam Việt nên dựa trên suy luận, phỏng đoán hơn là dựa vào thư tịch.

Với suy nghĩ như vậy, dưới đây xin nêu ra vài ý kiến về mối quan hệ Nam Việt - Việt Nam. Các ý kiến này khó tránh khỏi có sai sót, mong được bạn đọc chỉ bảo.

Đất Nam Việt và đất Việt Nam

Sách cổ sử Trung Quốc ít chú trọng vấn đề cương vực, ít lập bản đồ. Sách NVQS 503 trang không có lấy một bản đồ nước Nam Việt. Dù sao ai cũng biết rằng trước khi có cái tên Việt Nam thì trên dải đất dài hẹp được núi và biển bọc kín bốn mặt ở phía Nam nước Nam Việt từ cổ xưa đã tồn tại một tộc người về sau gọi là người Kinh - Việt Nam, tức tổ tiên chúng ta.[3] Tộc người này có các tố chất chủng tộc, ngôn ngữ và văn hóa khác hẳn các tộc người sống trên vùng đất liền kề ở phía Bắc, về sau được gọi là Trung Quốc. Sự khác biệt ấy khiến cho người Kinh - Việt Nam sau khi bị người Trung Quốc đông dân và mạnh hơn xâm chiếm đã không ngừng đấu tranh đánh đuổi kẻ xâm lược và cuối cùng giành độc lập trọn vẹn.

“Sử ký” chép: năm thứ 33 (214 TCN), Tần Thủy Hoàng chiếm Lục Lương tức Lĩnh Nam và chia làm 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng. Theo NVQS, cho tới nay giới sử học vẫn chưa nhất trí về vấn đề quận Tượng đời Tần có ở trên đất Việt Nam hay không - nghĩa là nhà Tần có chiếm Việt Nam hay không. Ở đây có hai quan điểm khác nhau.

Một quan điểm cho rằng quận Tượng đời Tần gồm Bắc Bộ và Trung Bộ Việt Nam. Sau đó nhà Tần diệt vong nên [tên gọi] quận Tượng biến mất nhưng đất của nó vẫn bao gồm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (do Hán Vũ Đế lập năm 111 TCN); nước Nam Việt thời kỳ đầu (Hán sơ) cũng sở hữu đất 3 quận đó. Nói cách khác, quận Tượng đời Tần nằm trên đất Việt Nam, nghĩa là nhà Tần đã chiếm Việt Nam. NVQS gọi quan điểm này là Thuyết Ba Quận. Đây là quan điểm chính thống của sử học Trung Quốc trước năm 1916.

Một quan điểm khác được NVQS gọi là Thuyết Hai quận do sử gia Pháp Maspero[4] ở Viện Viễn đông Bác cổ Hà Nội đưa ra năm 1916, cho rằng quận Tượng do nhà Tần lập ra là ở hai quận Uất Lâm (Yulin) và Tang Kha (Zangke) thuộc Quảng Tây. Lâm Trần [Linchen] nơi đặt trụ sở chính quyền quận thì ở quận Uất Lâm. Nói cách khác, quận Tượng đời Tần ở trên đất Trung Quốc, nghĩa là nhà Tần chưa hề chiếm Việt Nam. NVQS cho rằng hai thuyết trên trái ngược nhau là do khác nhau về khảo chứng các sử liệu.

Maspero có tham khảo “Hán thư - Chiêu đế kỷ”, “Hán thư - Cao đế kỷ”, “Giao châu Ngoại vực ký”. Ông nói đất Giao Chỉ (lưu vực sông Hồng) không ở quận Tượng mà ở phía Nam quận Tượng, vốn là nước An Dương của Hoàng tử Thục [Thục Phán?]. Thời Lữ Hậu (195-180 TCN) hoặc Hán Văn Đế (180-157 TCN), nước Nam Việt diệt nước An Dương rồi đặt hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân trên đất Việt Nam; nghĩa là không có việc chia quận Tượng làm hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân khi thành lập nước Nam Việt.

Theo NVQS, sử gia Đào Duy Anh và các sử gia Trung Quốc Mông Văn Thông, Đàm Kỳ Tương, Châu Trấn Hạc tán thành Thuyết Hai quận; còn đa số sử gia Trung Quốc theo Thuyết Ba quận.

NVQS cho rằng Thuyết Ba quận hợp lý vì dựa theo “Hán thư - Địa lý chí” của Ban Cố. Trong đó từ “Nhật Nam quận” có ghi chú 11 chữ “故秦象郡,元鼎六年开,更名” [Cố Tần Tượng quận, Nguyên Đỉnh lục niên khai, cánh danh]. Tạm hiểu: “(Quận Nhật Nam) trước kia là quận Tượng đời Tần, (quận Nhật Nam) lập năm Nguyên Đỉnh 6 (tức năm 111 TCN), đổi tên (từ quận Tượng) mà thành.” Vì quận Nhật Nam ở Trung Bộ Việt Nam nên quận Tượng đời Tần ở trên đất Việt Nam.

Theo chúng tôi, chỉ dựa vào 11 chữ ghi chú của Ban Cố mà suy ra kết luận đó là chưa đủ thuyết phục. Vả lại quận Nhật Nam là do Triệu Đà lập ra sau khi chiếm Âu Lạc (179 TCN), không phải do Vũ Đế lập ra năm 111 TCN.

NVQS viết: Tuy các sách sử khác đều không viết về vị trí quận Tượng, nhưng do “Hán thư” có uy tín cao nên Thuyết Ba quận trở thành quan điểm chính thống của Trung Quốc suốt hơn 2000 năm… Các ghi chép lịch sử cho thấy quân Tần đã vào tận Trung Bộ Việt Nam (khoảng vĩ tuyến 13-16) và đặt quận Tượng ở đây. Sách “Hoài Nam Tử - Nhân gian huấn” chép: Quân Tần giết được Dịch Dụ Tống [Yi Yusong] vua nước Tây Âu, người Việt không chịu để bị quân Tần bắt mà vào rừng sống chung với cầm thú… đêm đến ra phục kích quân Tần, hạ sát Đồ Tuy, giết mấy chục vạn lính Tần… Vì NVQS coi Tây Âu là Việt Nam, nên việc quân Tần giết vua Tây Âu có nghĩa là nhà Tần đã chiếm Việt Nam.

Nhận định trên cũng thiếu tin cậy, bởi lẽ chưa sách nào nói rõ vị trí nước Lạc Việt, nước Tây Âu và lai lịch Dịch Dụ Tống. Trong bài “Giải mật Tây Âu quốc - nước thứ tư của 10 đại cổ quốc Quảng Tây”[5] thì Tây Âu (còn gọi Tây Việt) là nước bộ lạc ở vùng lưu vực sông Quế Giang, Tầm Giang thuộc Lĩnh Nam - nghĩa là ở Quảng Tây. Các tư liệu trên mạng baidu cũng viết như vậy. Sử sách Việt Nam chưa hề nói tới cái tên “Dịch Dụ Tống vua nước Tây Âu” và địa danh Lâm Trần. Thực ra Lĩnh Nam cũng như Việt Nam hồi ấy là đất của nhiều bộ lạc, chưa có khái niệm quốc gia (nước) và sự phân định biên giới. NVQS chưa nói rõ đất Việt Nam ngày ấy gọi là Tây Âu, Tây Ẩu, Lạc Việt hay Âu Lạc? Tây Âu quân [vua] Dịch Dụ Tống có phải là người Kinh - Việt Nam không? Khi còn chưa biết rõ vị trí địa lý và tộc người Việt Nam sao có thể nói nhà Tần chiếm Việt Nam?

Sách “Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt”[6] cũng không viết về việc quân Tần chiếm Việt Nam, mà chỉ cho biết: khi bị quân Tần tấn công, người Lạc Việt ở Quảng Tây [không nói là người Việt Nam] đã vào rừng đánh du kích, giết Đồ Tuy. Sách sử Việt Nam cũng chưa hề viết Đồ Tuy bị giết trên đất Việt Nam.

NVQS nhận định: nhiều di vật khảo cổ khai quật được tại Việt Nam chứng minh các lực lượng chính trị Trung Quốc đời Tần đã vào đến Việt Nam. Theo chúng tôi, lập luận này chưa xác đáng vì trong 1.000 năm Bắc thuộc cũng như trong các lần xâm lược Việt Nam, người Trung Quốc có thể đem những đồ vật làm từ đời Tần chôn ở nhiều nơi trong nước ta để đánh dấu họ từng đến đây (tại Malaysia từng có chuyện tương tự).

NVQS viết: các thư tịch cổ Maspero trích dẫn không tin cậy. Chuyện An Dương Vương dùng nỏ thần chống quân Triệu Đà, chuyện Mỵ Châu - Trọng Thủy… đều là thần thoại. Thực ra là Hoàng tử Thục [Thục Phán?] dẫn bộ tộc mình di chuyển từ tây sang đông thì xung đột với bộ tộc Lạc Việt. Thục chiến thắng, trở thành thủ lĩnh bộ tộc Lạc Việt và tự xưng An Dương Vương. Thuyết Hai quận nói một thời gian sau ngày lập quốc, Triệu Đà dẫn quân đánh chiếm Lĩnh Nam, bộ tộc An Dương Vương chống lại, gây cho Đà nhiều tổn thất nhưng cuối cùng Đà thắng - chuyện đó xảy ra vào thời Lữ Hậu, Văn Đế.

NVQS cho rằng nhận định đó thiếu căn cứ. “Sử ký” có chép việc Tây Âu, Lạc Việt lệ thuộc Nam Việt, nhưng đó không phải là kết quả xung đột quân sự mà là do Triệu Đà hối lộ các nước này, và sách cũng không nói rõ tộc Lạc Việt đó có phải là tộc An Dương Vương hay không. Hơn nữa do thi hành “Hòa tập Bách Việt” nên Triệu Đà không thể dùng chiến tranh để giải quyết vấn đề dân tộc trong nước mình. Ngược lại, sách sử cho biết cuộc chiến chiếm hai quận Quế Lâm và Tượng do Triệu Đà tiến hành (chắc là vào năm 205 TCN) thì xảy ra trước khi Triệu Đà lập nước Nam Việt.

Theo chúng tôi, quận Tượng đời Tần toàn bộ ở trên đất Trung Quốc, không ở đất Việt Nam; nhà Tần chưa hề chiếm nước ta; nhà Triệu là vương triều Trung Quốc đầu tiên thôn tính Việt Nam.

Lý do: sau khi chiếm Lĩnh Nam, nhà Tần không còn đủ sức tiến đánh Việt Nam. Trước khi đánh Lĩnh Nam, nhà Tần đã làm 2 con đường từ Trung Nguyên tới Lĩnh Nam thế mà vẫn không tiếp tế kịp lương thực ra mặt trận. Phần trên đã nói, “Hoài Nam Tử” kể: Trong trận tấn công Quảng Tây, nhà Tần thất bại thảm hại, thương vong mấy chục vạn quân và phải ngừng tấn công, bỏ ra mấy năm đào kênh Linh Cừ nhằm giải quyết việc chở lương thực từ Trung Nguyên ra mặt trận. Việt Nam ở rất xa Lĩnh Nam, lại càng xa Trung Nguyên. Từ Lĩnh Nam đi Việt Nam không có đường, chỉ có chặt cây leo núi qua thập vạn đại sơn, không thể bảo đảm tiếp tế lương thực. Sau thiệt hại lớn ở Quảng Tây, nhà Tần còn lính đâu, sức đâu mà tiến xuống Việt Nam. Chỉ sau khi lập nước Nam Việt ít lâu, Triệu Đà mới chiếm Việt Nam, và có lẽ Đà không gây chiến mà dùng cách mua chuộc. Việc này chưa có tư liệu xác thực làm căn cứ. Giới sử học nước ta có lý khi cho rằng thời kỳ Bắc thuộc bắt đầu vào khoảng năm 179 TCN. Tác giả NVQS chưa chú ý tới quan điểm này.

Người Nam Việt và người Việt Nam

Sử Trung Quốc cổ đại gọi tộc người sống ở Trung Nguyên (lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang, về sau gọi là Trung Quốc) là người Hoa Hạ - trong bài này, để tiện, sẽ gọi không chính xác là người Hán - các tộc còn lại là Man Di. Người Hán gọi tất cả các tộc người ở phía nam Trường Giang là tộc Việt, người Việt (Việt tộc, Việt nhân). Không may là bộ tộc người Kinh – Việt Nam ở vào vị trí địa lý ấy nên bị gọi vơ đũa cả nắm là người Việt. Từ đó trở đi sử Trung Quốc và sử ta ngày xưa (chủ yếu chép theo sử Trung Quốc) đều nói người Kinh - Việt Nam là người Bách Việt hoặc Lạc Việt; nói mãi, tự nhiên quan điểm đó trở thành chính thống!

Việt tộc trong sử Trung Quốc là một khái niệm tù mù, có những giải thích khác nhau. Theo NVQS, Việt tộc ở Lĩnh Nam có các tên gọi: Bách Việt, Dương Việt, Ngoại Việt, Lục Lương, Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt… Tộc Tây Âu hoặc Tây Ẩu chủ yếu sống ở Quảng Tây, nhưng sử gia Đào Duy Anh nói họ cũng sống ở Việt Nam (thượng lưu sông Lô, sông Cẩm[?], sông Cầu, sông Thương). NVQS không phân tích các yếu tố làm nên bản sắc của mỗi dân tộc, như tiếng nói, phong tục tập quán… mà viết liều: Tộc Lạc Việt sống ở Quảng Tây, Quý Châu và châu thổ sông Hồng Việt Nam - nói như vậy NVQS coi người Lạc Việt là người Kinh - Việt Nam, bởi lẽ người ở châu thổ sông Hồng chỉ có thể là Kinh - Việt Nam. Nhưng nói người Kinh - Việt Nam sống ở Quảng Tây, Quý Châu là sai sự thực. Hơn nữa tài liệu[7] viết: Người Lạc Việt là tổ tiên của người Tráng Quảng Tây; và ta biết ngôn ngữ Tráng khác xa ngôn ngữ Kinh-Việt Nam. Tóm lại, NVQS đã hoàn toàn sai khi coi người Kinh-Việt Nam là người Lạc Việt.

Cái tên gọi chung “Việt” ấy đã gây ra sự nhầm lẫn người Việt ở nước Nam Việt với người Kinh - Việt Nam. Như khi sử Trung Quốc viết Triệu Đà theo phong tục Việt, lấy vợ người Việt, Lữ Gia là người Việt [thực ra là người Bách Việt] nhưng có sử gia ta quả quyết rằng Đà lấy vợ người làng Đồng Sâm huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình, Lữ Gia là người Quốc Oai, Sơn Tây (xem chú thích 1; chuyện ấy có thể xuất phát từ tâm lý ưa gắn kết Việt Nam với Trung Quốc).

Chỉ cần xét vài lý do sau đây là đủ thấy sự hư cấu này thậm vô lý: Sau ngày bắt đầu Bắc thuộc (179 TCN) ít nhất dăm chục năm, chữ Hán mới được dạy cho dân ta; thời đầu nhà Triệu, dân ta chưa ai biết tiếng Hán, sao lại có người (Lữ Gia) giỏi Hán ngữ làm tới chức Thừa tướng 3 đời vua nhà Triệu? Mãi đến thế kỷ 18 Nguyễn Công Trứ mới đưa dân ra lập huyện Tiền Hải (Thái Bình), bởi lẽ trước Công nguyên, tỉnh Thái Bình còn ở dưới đáy biển (xem hình dưới), sao mà hồi ấy đã có làng mạc trù phú sinh ra những cô gái xinh đẹp giỏi tiếng Hán được vua Triệu kén làm vợ?

Nguồn: Tana Li, “A Historical Sketch of the Landscape of the Red River Delta”, TRaNS: Trans-Regional and - National Studies of Southeast Asia, Volume 4, Special Issue 2 (Water in Southeast Asia)July 2016 , pp. 351-363.  Sự tiến hóa trong lịch sử của đồng bằng châu thổ Sông Hồng. (BP: Before present - trước đây/cách nay). Thước tỷ lệ cho thấy 2000 năm trước, vùng đất cách bờ biển hiện nay 40 km trong tỉnh Thái Bình đều ngập dưới mặt nước biển. Triệu Đà sống cách nay 2260 năm, lúc đó mực nước biển càng cao hơn.

Xét về địa lý, tộc Kinh - Việt Nam sống trên mảnh đất cách xa cộng đồng Bách Việt hàng ngàn dặm, lại có núi và biển ngăn cách, sao có thể là thành viên của cộng đồng ấy được? Hơn nữa tiếng nói của người Kinh - Việt Nam (thuộc ngữ hệ Nam Á) khác xa người Bách Việt (thuộc ngữ hệ Hán - Tạng), sao có thể sống chung trong một cộng đồng được?

Thực ra “người Việt” trong sách sử Trung Quốc là người Bách Việt, có ngôn ngữ gần gũi với Hán ngữ của người Hán (cùng ngữ hệ Hán - Tạng), một số tộc như Dương Việt, Mân Việt… nói các phương ngữ của Hán ngữ. Vì thế nên người Bách Việt nhanh chóng học được tiếng Hán và chữ Hán. Còn tộc Kinh - Việt Nam dù bị người Hán ra sức đồng hóa suốt 1.000 năm nhưng do dị biệt ngôn ngữ quá lớn (và do các nguyên nhân khác) nên về cơ bản chẳng hề bị Hán hóa. Riêng một sự thực lịch sử bất hủ ấy đủ chứng tỏ tộc Kinh - Việt Nam hoàn toàn không thuộc cộng đồng các tộc Bách Việt, không phải là “Việt nhân” của nước Nam Việt (vấn đề này chúng tôi sẽ viết riêng trong một chuyên luận khác).

Triệu Đà với Việt Nam

NVQS viết rất ít về mối quan hệ này, có lẽ vì Triệu Đà chẳng quan tâm tới xứ Việt Nam xa xôi cách trở. Theo chúng tôi, nước Nam Việt quốc khi mới lập quốc hoàn toàn ở trên đất Trung Quốc. Sau lần thứ hai thần phục nhà Hán (179 TCN), khi không còn nguy cơ bị Hán tấn công nữa, Triệu Đà mới chiếm Âu Lạc (tức Việt Nam?). Vì thế có thể coi thời kỳ Bắc thuộc bắt đầu từ năm 179 TCN. NVQS viết: Triệu Đà sau khi xưng vương đã cho quân đánh An Dương Vương và chinh phục bộ tộc Lạc Việt, nhưng sau đó cũng để họ tự trị.

Đối với người Việt Nam thì Tần Thủy Hoàng, Triệu Đà, Hán Vũ Đế đều là kẻ ngoại bang; kẻ nào xâm chiếm nước ta đều như nhau. Thời ấy người Hán đều ngại sang Việt Nam làm việc, triều đình thường cử các quan lại bị cách chức hoặc phạm tội sang ta. Bọn họ số người đã ít, sang đây lại đều lấy vợ Việt Nam, hòa nhập với người bản xứ và bị Việt hóa, vì thế một số người đối xử tốt với dân ta, cai trị tương đối lỏng lẻo.

Cần thấy rằng Triệu Đà thi hành chính sách Hòa tập Bách Việt tại Nam Việt và Việt Nam đâu phải vì ông ta tốt bụng, mà chỉ vì hai vùng này ít người Hán trong khi các bộ tộc bản xứ có thế lực mạnh. Hơn nữa người Hán ở đây không phục Đà, vì y là tướng nhà Tần mà không phò Tần, về sau lại chống Hán - tức chống vương triều trung ương. Do đó Đà phải dựa vào người bản xứ và để họ tự trị một phần.

Nhà Triệu đóng đô ở Quảng Châu rất xa biên giới Trung Quốc - Việt Nam; quan lại và quân đội của triều đình đều là người Hán hoặc người Bách Việt, không hề có người Kinh - Việt Nam, rõ ràng là kẻ xâm chiếm và thống trị nước ta, không thể coi là vương triều của nước ta. Sử gia Ngô Thì Sĩ, các học giả Phan Khôi,[8] Phạm Quỳnh cũng từng nói như vậy.

Đúng là ở ta có những đền miếu thờ người Trung Quốc như thờ Triệu Đà, Lữ Gia v.v… Điều đó không có gì lạ. Suốt hàng nghìn năm trong và sau Bắc thuộc không ít quan lại các vương triều Trung Quốc bị lật đổ hoặc con cháu họ phải trốn sang Việt Nam định cư rồi bị Việt hóa, làm thành các dòng họ Triệu, Lữ (Lã) v.v… và họ dựng đền, tạc tượng thờ tổ tiên mình. Các đền và tượng ấy lâu nhất chỉ mới ra đời vài trăm năm nay. Những người được thờ không phải là người Việt Nam; vì thế chớ nhầm lẫn coi đó là tín ngưỡng của dân ta.

Tóm lại, NVQS và sách sử Trung Quốc đều truyền bá quan điểm người Kinh - Việt Nam thời cổ là người Lạc Việt thuộc tộc Bách Việt trong cộng đồng Hán tộc. Ngày nay Bắc Kinh đang dùng quan điểm đó để phục vụ mục đích chính trị. Năm 2014, khi dân ta mạnh mẽ phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam, Nhân dân nhật báo Trung Quốc đăng bài “Trung Quốc khuyên Việt Nam lãng tử hồi đầu”; thâm ý muốn nói Việt Nam vốn là con em trong đại gia đình Bách Việt, về sau “lãng tử” hư hỏng này tách ra độc lập, nay nên “hồi đầu” (ăn năn hối lỗi trở lại) đại gia đình xưa.[9]

Chúng ta cần cảnh giác bác bỏ luận điệu thâm hiểm ấy và khẳng định một sự thực lịch sử: Người Kinh - Việt Nam không phải là hậu duệ của người Bách Việt hoặc Lạc Việt.

—————–

[1] Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử. Trương Sỹ Hùng, Nguyễn Khắc Mai. Nxb Hội Nhà văn, 2017.

[2] 南越国史. Trương Vinh Phương, Hoàng Miễu Chương 张荣芳黄淼章. Nxb Quảng Đông, 9/2008.

[3] Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó DT Kinh (Việt) chiếm hơn 86%, còn lại 53 DT thiểu số. Ngôn ngữ của dân tộc Kinh thuộc ngữ hệ Nam Á, khác hẳn ngôn ngữ của người Trung Quốc thuộc ngữ hệ Hán - Tạng.

[4] Henri Paul Gaston Maspero (1883-1945), gốc Do Thái, nhà Hán học, sử học.

[5] 360doc.com/content/18/1006/07/30558861_792336194.shtml.

[6] 骆越方国研究. Chủ biên: Lương Đình Vọng nguyên Phó Hiệu trưởng ĐH Dân tộc Trung ương và Lệ Thanh nguyên Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Sử Địa Biên cương Viện KHXHTQ. Sách gồm 2 tập, 1,4 triệu chữ, Nxb Dân tộc xuất bản. Nội dung trình bày kết quả đề tài “Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt”, là đề tài trọng điểm của Quỹ KHXH nhà nước, thực hiện bởi Viện KHXHTQ, ĐH Dân tộc Trung ương, Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt Quảng Tây.

[7] Như trên.

[8] http://lainguyenan.free.fr/pk1936/HayBoTrieuDa.html

[9] http://nghiencuuquocte.org/2019/08/04/bac-bo-luan-dieu-lang-tu-hoi-dau/

 

 

Chuyên mục: Diễn đàn

Có mấy lý do cần phải nhận thức lại quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx

Thứ nhất, quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx là cơ sở lý luận và tư tưởng chỉ đạo công tác tôn giáo của chúng ta [tức Trung Quốc] hiện nay. Nếu có chỗ nào sai lệch với quan điểm đó thì công tác tôn giáo của chúng ta sẽ không lành mạnh. Bởi thế cần phải luôn luôn học tập và nhận thức quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx.

Thứ hai, công tác tôn giáo của Trung Quốc thời gian qua tuy có thành tích lớn song đồng thời cũng đã xuất hiện những vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt trong thời kỳ Cách mạng văn hóa chúng ta từng đòi tiêu diệt tôn giáo, từng mặc ý phá hoại văn hóa tôn giáo - sai lầm đó có liên quan tới nhận thức cực tả về quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx. Cái gì thực tiễn chứng tỏ là đúng thì ta cần tiếp tục; cái gì thực tiễn chứng tỏ là sai thì cần chỉnh đốn.

Thứ ba, tình hình khách quan hiện nay đã thay đổi rất lớn, thời đại mới xuất hiện những vấn đề mới mà thời K. Marx và F. Engels chưa nghĩ tới, chúng ta không thể mời các vị ấy ra giải quyết giúp. Ví dụ vấn đề nhà nước xã hội chủ nghĩa [XHCN] nên xử lý như thế nào mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo và giới tôn giáo. Vấn đề này K. Marx và F. Engels chưa nghĩ đến, Lenin có đề cập vấn đề này, nhưng kết quả thực tế thì nhà nước Liên Xô lại giải quyết chưa tốt vấn đề tôn giáo; chúng ta không thể noi theo họ.

Một ví dụ nữa: K. Marx từng cho rằng cùng với sự phát triển khoa học, tôn giáo sẽ dần dần mất địa bàn và đi tới suy tàn. Tình hình thực tế hiện nay là khoa học kỹ thuật phát triển cao nhưng số lượng tín đồ tôn giáo trên thế giới lại tăng lên không ngừng. Thống kê hồi thập niên 1960 cho thấy tín đồ tôn giáo chiếm hơn 60% dân số toàn thế giới; hiện nay tỷ lệ này là hơn 80%. Những người theo chủ nghĩa Marx phải có giải đáp mới về vấn đề này. Ngoài ra, vấn đề tôn giáo dân tộc đang ảnh hưởng ngày càng lớn tới đời sống xã hội, chính trị quốc tế và sự ổn định xã hội - vấn đề này K. Marx cũng chưa từng quan tâm tới. Mặt khác, sự ra đời và phát triển ngày một mạnh mẽ các tôn giáo mới trở thành vấn đề chúng ta cần nghiên cứu.

Thứ tư, từ ngày nước CHND Trung Hoa thành lập, nhất là từ cải cách mở cửa trở đi, trên vấn đề tôn giáo, các nhà lãnh đạo và các học giả Trung Quốc đã có nhiều sáng tạo phát triển về lý luận và thực tiễn, nay cần tổng kết lại để làm phong phú quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx.

Hạt nhân quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx

Lâu nay người ta luôn luôn có những quan điểm khác nhau về vấn đề hạt nhân trong quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx là gì. Nhiều người cho rằng đó là “Thuyết Thuốc phiện“: Tôn giáo là thứ thuốc phiện để ru ngủ nhân dân.

Có nhiều người chưa nghiêm chỉnh đọc sách của K. Marx nhưng mỗi khi nói đến tôn giáo thì họ nghĩ ngay tôn giáo là thuốc phiện, và cho rằng đây là luận điểm quan trọng nhất của K. Marx về vấn đề tôn giáo. Cách nghĩ này khá phổ biến.

Thực ra, “Thuyết thuốc phiện” không phải là hạt nhân quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx, bởi lẽ nó không vạch ra được bản chất và nguồn gốc thực sự của tôn giáo.

Cơ sở lý luận quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx là quan điểm duy vật lịch sử, tức coi tôn giáo là một loại kiến trúc tầng trên, một loại hình thái ý thức, là sự phản ánh nền tảng kinh tế xã hội và đời sống xã hội, nhưng là sự phản ánh lắt léo, đảo ngược.

Marx nói: “Nhà nước, xã hội sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan đảo ngược, bởi lẽ bản thân tôn giáo là thế giới đảo ngược”.

Engels cũng có một định nghĩa tương tự về tôn giáo: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua đều là sự phản ảnh trong đầu óc con người các sức mạnh bên ngoài chi phối đời sống hàng ngày của người ta; trong sự phản ánh đó, sức mạnh con người thì sử dụng hình thức sức mạnh siêu việt con người”, cũng tức là nói các vị thánh thần của tôn giáo là sản phẩm của sự áp bức của thiên nhiên và của các lực lượng xã hội đối lập với con người. K. Marx và F. Engels nói như vậy đã vạch rõ bản chất và nguồn gốc của tôn giáo.

Thế thì những người theo chủ nghĩa Marx nên có thái độ như thế nào đối với tôn giáo?

Bởi lẽ nguồn gốc tôn giáo tồn tại trong xã hội có tình trạng bất hợp lý, cho nên nếu muốn căn bản cải tạo xã hội, muốn thực hành cách mạng xã hội, thì phải dẫn dắt mọi người chuyển sự phê phán tôn giáo thành phê phán xã hội, phấn đấu xây dựng thiên đường trên trái đất. Có thiên đường ngay trên trái đất thì người ta sẽ không hướng tới thiên đường trên trời [Thiên quốc, Nước Trời] nữa.

Có thể khái quát quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx thành hai luận thuyết: Thuyết phản ánh duy vật và Thuyết cải tạo xã hội; cả hai thuyết này đều xem xét tôn giáo từ góc độ xã hội.

Trước kia các nhà chủ trương thuyết vô thần đều khảo sát tôn giáo theo cách chỉ hạn chế xem xét trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng, hoặc đơn giản hóa phê phán các sai lầm của tôn giáo, coi tôn giáo là cái vòng sai lầm trong nhận thức của loài người. Triết gia Feuerbach quy kết tính thần thánh [tính thiêng liêng của tôn giáo] thành tính người [nhân tính], cho rằng con người sáng tạo ra thần linh chứ không phải thần linh tạo ra con người; nhưng ông coi con người là vật trừu tượng đơn lẻ, không hiểu tính xã hội của con người.

Ngược lại, K. Marx và F. Engels hướng ánh mắt khảo sát tôn giáo vào đời sống xã hội, nhất là đời sống kinh tế, phương thức sản xuất, cơ cấu xã hội; vì thế hai ông đưa ra được lý luận tôn giáo rất sâu sắc, lý luận này được giới xã hội học tôn giáo thế giới đánh giá rất cao.

Tất nhiên lý luận ấy cũng có chỗ chưa hoàn mỹ. K. Marx, F. Engels là những nhà cách mạng, hai ông chủ yếu xem xét tôn giáo từ góc độ cách mạng mà thiếu tính đa dạng về góc nhìn. Tôn giáo là một hệ thống văn hóa xã hội đa tầng, lập thể hóa. Khi xem xét tôn giáo không thể chỉ dừng lại ở lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội mà còn cần có tầm mắt của văn hóa học, có sự phân tích của tâm lý học, thậm chí quan tâm cả tới sinh tử học [khoa học tìm hiểu vấn đề sống và chết]. Có điều, nếu yêu cầu các tác gia kinh điển đều giải quyết xong tất cả mọi vấn đề thì còn cần chúng ta làm gì nữa?

Trong “Lời nói đầu Phê phán triết học Hegel” đúng là K. Marx có nói “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Nhưng nếu đọc toàn bộ sách này thì sẽ thấy K. Marx không hề có chút ý định nào nói bản thân tôn giáo là thứ xấu xa, như thuốc độc làm hại con người. Ông chỉ nói chế độ xã hội bất hợp lý làm cho nhân dân không được hạnh phúc, vì không thể chịu đựng nổi cảnh khổ đau nên nhân dân đành tìm đến sự an ủi ở tôn giáo. Trong tình trạng đó, “Nỗi khổ đau trong tôn giáo là biểu hiện nỗi khổ đau hiện thực, lại là sự phản kháng tình trạng khổ đau trong thực tế đời sống”, “vì vậy sự phê phán Nước Trời biến ra thành sự phê phán trần thế”.

Có thể thấy K. Marx luôn chĩa mũi dùi vào các chế độ áp bức bóc lột. Ông chưa bao giờ dùng câu nói “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” làm hạt nhân quan điểm tôn giáo của mình; nhiều nhất chỉ ví von thuốc phiện là một thứ chức năng xã hội của tôn giáo.

“Thuyết thuốc phiện” và “Thuyết đấu tranh”

Vậy “Thuyết [tôn giáo là] thuốc phiện” xuất hiện vào khi nào?

Nó xuất hiện vào thời kỳ Lenin; những người theo chủ nghĩa xã hội kiểu Nga, kiểu Liên Xô đã có trục trặc trong việc giải thích quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx.

Lenin có rất nhiều tư tưởng vô cùng đặc sắc. Ông nói: “Sự nhất trí ý kiến của giai cấp bị áp bức trong cuộc đấu tranh cách mạng nhằm xây dựng thiên đường trên trái đất còn quan trọng hơn sự nhất trí của giai cấp vô sản về vấn đề xây dựng thiên đường đó”, cũng tức là nói sự khác biệt về tín ngưỡng không phải là quan trọng nhất mà lợi ích lâu dài chung của quần chúng nhân dân mới là quan trọng nhất.

Lenin phản đối sự tuyên chiến với tôn giáo, cho rằng đó là hành động ngu xuẩn. Ông còn nói về sự tách rời tôn giáo với chính quyền, tách rời tôn giáo với giáo dục, cố gắng làm cho tôn giáo trở thành việc riêng của từng công dân.

Thế nhưng trong bài “Bàn về thái độ của chính đảng công nhân đối với tôn giáo” ông lại nói một câu có tính khái quát: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân, danh ngôn này của K. Marx là hòn đá tảng của toàn bộ thế giới quan Marxist trên vấn đề tôn giáo.”

Ta không thể tìm thấy từ các tác phẩm kinh điển của K. Marx và F. Engels những căn cứ cho sự khái quát ấy của Lenin. Sự khái quát này cũng không vạch ra nguồn gốc và bản chất xã hội của tôn giáo; coi một chức năng xã hội của tôn giáo là hòn đá tảng quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx - làm như thế là [Lenin] đã xa rời quan điểm duy vật lịch sử, hạ thấp trình độ xuống độ cao của thuyết vô thần cũ - như vậy có hợp lý không? Rõ ràng là đi ngược lại chủ nghĩa Marx.

Thế nhưng câu khái quát của Lenin rất ngắn gọn rõ ràng, hình ảnh ví von sinh động, dễ lưu truyền, cộng thêm uy tín và danh vọng của Lenin, câu nói đó dần dần trở thành kinh điển, có ảnh hưởng trên diện quá rộng.

Theo sau “Thuyết thuốc phiện” là đến “Thuyết đấu tranh”. Lenin nói: “Chúng ta phải đấu tranh với tôn giáo, đây là nguyên tắc tối thiểu của chủ nghĩa duy vật, vì vậy nó cũng là nguyên tắc tối thiểu của chủ nghĩa Marx”, “Người Marxist phải là người duy vật, là kẻ địch của tôn giáo”. Như thế đã xác định lập trường chống tôn giáo của những người Bolshevik Nga.

Dĩ nhiên người duy vật không tán thành giáo lý tôn giáo, nhưng vì cớ gì mà họ không thể tôn trọng tôn giáo mà nhất thiết cứ phải đứng trên lập trường chống tôn giáo để đấu tranh với tôn giáo? “Thuyết đấu tranh” của Lenin đi ngược lại chủ nghĩa Marx và ngược lại với chính lời Lenin nói không cần tuyên chiến với tôn giáo.

Vì vậy chủ nghĩa Lenin có mâu thuẫn sâu sắc trên vấn đề tôn giáo. Về sau Stalin lãnh đạo Liên Xô một thời gian dài, trên lý luận và thực tiễn ông đều đề cao lập trường đấu tranh với tôn giáo, hậu quả làm cho mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo ở vào tình trạng căng thẳng lâu dài, chỉ trong thời kỳ Chiến tranh Vệ quốc mới có giảm nhẹ chút ít.

Tóm lại, giữa những người theo chủ nghĩa xã hội với tôn giáo, với giới tôn giáo, với văn hóa tôn giáo, rốt cuộc nên xây dựng một mối quan hệ như thế nào - vấn đề đó mãi vẫn chưa được giải quyết.

Nguyễn Hải Hoành lược dịch, nguyên văn tiêu đề: “Nhận thức lại quan điểm tôn giáo của chủ nghĩa Marx”, trích từ “Mạng tôn giáo dân tộc Trung Quốc”.

Chuyên mục: Diễn đàn

Khái quát vài nét về “chủ nghĩa xã hội dân chủ” Thụy Điển

Dưới ảnh hưởng tuyên truyền của Liên Xô, lâu nay chúng ta có thành kiến rất sâu sắc về phong trào chủ nghĩa xã hội dân chủ Tây Âu. Thực ra, cho tới ngày Liên Xô biến mất, người Liên Xô chưa bao giờ giới thiệu cho chúng ta biết một cách khách quan, trung thực về tình hình thực sự của phong trào xã hội dân chủ Tây Âu (kể cả mối quan hệ giữa các đảng cộng sản với các đảng xã hội dân chủ), không phải là “phủ định nhiều, khẳng định ít”, mà là phủ định toàn bộ. Trước hết, tôi muốn nói một điều: thật ra phong trào xã hội dân chủ Tây Âu đã phức tạp lại đa dạng, tình hình các nước không hoàn toàn giống nhau. Thụy Điển không ở vào vùng đất “trái tim” của thế giới tư bản, mà chỉ là “tứ chi” thôi (“trái tim” và “tứ chi” là cách nói của Mác), cách khá xa vùng trung tâm giành giật của các thế lực tư bản cường quyền, do đó cuộc cải cách xã hội của Thụy Điển có thể tiến hành tương đối tự chủ mà không, hoặc ít chịu sự can thiệp và ảnh hưởng của các thế lực ngoại quốc.

Chuyên mục: Nhìn ra thế giới

Tưởng Giới Thạch[1] , còn gọi Tưởng Trung Chính, là người đứng đầuChính phủ Quốc dân Trung Quốcthời kỳ 1928-1949, từng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nhật trong 8 năm 1937-1945, khi ra Đài Loan lại làm Tổng thống chính quyềnđảo này cho tới ngày qua đời ở Đài Bắc (5/4/1975).

Chuyên mục: Nhìn ra thế giới

Đã nhiều năm nay thuyết “chữ Hán ưu việt” rất thịnh hành ở Trung Quốc (TQ). Thuyết này trái ngược nghiêm trọng với các nguyên lý khoa học kỹ thuật, gây ra sự ngộ nhận cực lớn trong xã hội, cũng gây ra trở ngại cực lớn cho sự phát triển khoa học công nghệ (KHCN) thông tin Trung văn. Muốn tự chủ phát triển sáng tạo các công nghệ cốt lõi và giành lấy quyền chủ động chiến lược phát triển KHCN thông tin Trung văn, TQ cần phải tiến hành dọn sạch các sai lầm của thuyết “chữ Hán ưu việt”.

[Kỷ niệm 100 năm ngày tạp chí Nam Phong đăng bài “Văn Quốc ngữ”]

Năm 1917, tạp chí Nam Phong đăng bài Văn Quốc ngữ và một số bài liên quan của nhà báo Phạm Quỳnh hai mươi nhăm tuổi. Một trăm năm sau, khi đọc lại mấy bài ấy người ta lại một lần nữa thấy tác giả thực là yêu nước và uyên bác.

Trang web Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) ngày 2/6/2017 đăng bản tin như sau:

Ngày 31/5 Tổng thống Trump tiếp đón vị lãnh đạo quốc gia Đông Nam Á đầu tiên đến thăm Nhà Trắng kể từ ngày ông nhậm chức – Thủ tướng Việt NamNguyễn Xuân Phúc. Trước đó Trump từng xác định tính chất Việt Namlà « một trong những nước đánh cắp việc làm của nước Mỹ », giờ đây ông vui mừng tuyên bố đã ký với Việt Nam« một đơn hàng rất lớn ». 

Chuyên mục: Nhìn ra thế giới

Trên báo đài và các mạng xã hội đang rộ lên cuộc tranh luận về kiến nghị dạy chữ Hán trong trường phổ thông nhằmgiữ gìn tiếng Việt và văn hóa Việt Nam”. Dư luận chia làm bên ủng hộ và bên phản đối (sau đây gọi là bên A và bên B). Bên A gồm một số học giả Hán-Nôm. Bên B gồm nhiều tầng lớp, học giả, cán bộ, dân mạng… đều có. Trên mạng xã hội, một số người tỏ ý nghi ngờ động cơ chính trị của bên A. Sau đó nhân vật chính bên A vội vã viết Lời tạm kết cho cuộc tranh luận mới chỉ diễn ra có mấy ngày (27/8-2/9), nhận xét các ý kiến phản đối chủ yếu xuất phát từ tâm lý thực dụng, tâm lý đám đông và chống Trung Quốc, một số người “cứ hè nhau mà chửi… chửi hết những người có bằng cấp, giáo sư…, hệt như những người chưa hề đến trường (tức vô học)”.

Chuyên mục: Diễn đàn
Page 1 of 2