Văn hóa Nghệ An

Khối Đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam luôn được củng cố và tăng cường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đồng chí Hoàng Nghĩa Hiếu - Phó Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An tặng quà cho người dân xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương, Nghệ An. Ảnh: Hải Tiến

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc (ĐĐKTDT) giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Trải qua các thời kỳ cách mạng, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng khối ĐĐKTDT ngày càng được hoàn thiện, phát triển. Đảng luôn xác định “đại đoàn kết toàn dân tộc” là giá trị cốt lõi, bền vững, là đường lối chiến lược xuyên suốt, là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đại đoàn kết dân tộc - cội nguồn sức mạnh tổng hợp quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ĐĐKTDT đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam. Tinh thần cố kết cộng đồng, đùm bọc yêu thương nhau đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi người dân, trở thành lẽ sống, chất kết dính gắn bó các thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam cả ở trong nước và kiều bào ở nước ngoài. Bất luận trong hoàn cảnh nào, ĐĐKTDT đã kết thành sức mạnh vô địch, đưa dân tộc ta vượt lên mọi khó khăn, thử thách, lập nên những kỳ tích vẻ vang trong đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định ĐĐKTDT là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh của mọi thành công, chiến thắng. Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng khối ĐĐKTDT đã đem lại những thành tựu to lớn.

ĐĐKTDT không chỉ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, tạo ra sức mạnh tổng hợp làm nên chiến thắng vĩ đại trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà còn có vai trò to lớn trong quá trình cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhờ có sức mạnh ĐĐKTDT mà đất nước vượt qua được những khó khăn, thách thức những năm sau khi thống nhất bởi hậu quả tàn phá nặng nề của chiến tranh kéo dài chưa kịp được khắc phục lại bị bao vây, cấm vận; mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu bộc lộ nhiều khiếm khuyết… Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng mặt trận dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc và phát huy mạnh mẽ vai trò của khối ĐĐKTDT để đưa đất nước tiến lên.

Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1986 đến nay, Đảng đã có nhiều chủ trương, quyết sách và biện pháp quan trọng để tiếp tục củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT, tăng cường đồng thuận xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân; động viên Nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền các cấp, mở rộng quan hệ hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với Nhân dân các nước trên thế giới.

Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Đảng và cả hệ thống chính trị cùng toàn thể đồng bào ở trong nước và ngoài nước đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, quyết tâm “chống dịch như chống giặc” để từng bước đẩy lùi và vượt qua đại dịch Covid-19. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, phát huy vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT, Đảng đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo; vận động các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo phát huy quyền làm chủ của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân; vận động Nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và các chương trình an sinh xã hội...

Những kết quả đạt được trong việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng tầm cao uy tín, vị thể của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những bài học kinh nghiệm quý báu

Đại đoàn kết toàn dân tộc là một chiến lược xuyên suốt có vai trò quyết định thành công của cách mạng

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện ĐĐKTDT vì lợi ích của Nhân dân, lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ Nhân dân thì ta đoàn kết với họ”[1].

Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định đoàn kết là giá trị cốt lõi trong kho tàng truyền thống quý báu của dân tộc và ĐĐKTDT là đường lối chiến lược, là cội nguộn sức mạnh, là động lực chủ yếu mang đến thành công cho cách mạng Việt Nam. Đây cũng là giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đi tới thắng lợi.

Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định ĐĐKTDT “là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh ĐĐKTDT và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”[2].

Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông - trí do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Khối ĐĐKTDT muốn mở rộng và phát triển thì cần phải có một hình thức tổ chức, đó chính là mặt trận dân tộc thống nhất. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đoàn kết mọi người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, nam nữ, lứa tuổi… nhưng không phải là một tập hợp lỏng lẻo, ngẫu nhiên, tự phát mà là một khối đoàn kết chặt chẽ, có tổ chức trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chiến lược xây dựng khối ĐĐKTDT là lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và coi đó là một nguyên tắc có ý nghĩa như là một quy luật để xây dựng khối ĐĐKTDT vững mạnh. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu vì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam được vũ trang bởi chủ nghĩa Mác-Lênin mới đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của Nhân dân Việt Nam trong lịch sử.

Xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc

Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc - thực hiện đại đoàn kết trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc và quyền lợi cơ bản của Nhân dân lao động. Trước đây, trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc thì lợi ích tối thượng chung là giải phóng dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Nếu không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được. Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa củng cố miền Bắc và giải phóng miền Nam; giữa cải thiện đời sống của Nhân dân lao động với việc xóa bỏ giai cấp địa chủ và cải tạo đối với giai cấp tư sản dân tộc. Trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp lúc đó, để khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, mặt trận dân tộc thống nhất phải được mở rộng, Đảng đã nêu nguyên tắc tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ, giàu mạnh, coi đó là mẫu số chung để thực hiện đoàn kết dân tộc.

Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: “phát huy ý chí và sức mạnh ĐĐKTDT kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[3]. Mục tiêu đó cũng chính là đích đến quy tụ sức mạnh của khối ĐĐKTDT. Sự đồng nhất giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với mục tiêu của khối ĐĐKTDT cho thấy sự hòa quyện giữa Ý Đảng - Lòng Dân; giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với nguyện vọng của toàn thể Nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược tạo ra sức mạnh để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đảng luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện dân chủ trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp các ngành. Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của Nhân dân. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối ĐĐKTDT; tập hợp, vận động Nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đối ngoại nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc: lấy dân làm gốc, phát huy quyền làm chủ của dân, nguồn lực nhân dân, thực hiện đoàn kết toàn dân; lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo; bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của Nhân dân lao động; tổ chức đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất; lấy tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục làm phương thức hoạt động chủ yếu.

Giải pháp chủ yếu nhằm củng cố, tăng cường sức mạnh của khối ĐĐKTDT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Một là, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, khẩn trương tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) về phát huy sức mạnh ĐĐKTDTvì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đánh giá đúng đắn tình hình khối ĐĐKTDThiện nay (nhận diện rõ những vấn đề bức thiết nổi lên của các giai cấp, thành phần xã hội, các tầng lớp nhân dân). Trên cơ sở đó nghiên cứu ban hành nghị quyết mới, xác định mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp chủ yếu tiếp tục củng cố, tăng cường, phát huy sức mạnh của khối ĐĐKTDT, xây dựng đất nước ta phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

Hai là, tiếp tục quán triệt sâu sắc Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tập trung thể chế hóa thành cơ chế, chính sách, pháp luật để thực hiện cho được những chủ trương mới: (1) Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để Nhân dân làm chủ; (2) Phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện thực chất phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng; (3) Vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để luận giải, làm sâu sắc thêm một số nội dung như: Đoàn kết các giai cấp, tầng lớp xã hội dựa trên cơ sở nào, nội hàm của đoàn kết là gì, chỉ rõ những nhân tố bên trong, bên ngoài tác động trực tiếp đến thành tựu củng cố, tăng cường, phát huy khối ĐĐKTDT để chủ động đấu tranh, không để bị động, bất ngờ.

Bốn là, tập trung thực hiện hiệu quả 5 chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: 1) Tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân; củng cố, tăng cường, phát huy sức mạnh ĐĐKTDT, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; 2) Vận động Nhân dân thi đua học tập, lao động sáng tạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh của đất nước; 3) Thực hiện dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tăng cường giám sát và phản biện xã hội; tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; 4) Tăng cường đoàn kết quốc tế, mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân; 5) Tăng cường củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tóm lại, đoàn kết là sức mạnh nội sinh, là động lực to lớn của một quốc gia dân tộc, là vốn quý, là tiềm lực quốc phòng, có tính chiến lược trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tập trung xây dựng, củng cố, tăng cường khối ĐĐKTDT, chắc chắn chúng ta sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhất định sẽ hiện thực hóa được khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam phát triển hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc.

 


[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 9, tr. 244.

[2]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập I, tr.34.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập I, tr.35-36.

Sửa lần cuối vào Thứ sáu, 18 Tháng 11 2022 15:22

Tìm kiếm


Thống kê truy cập

113644670
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần qua
Tháng này
Tháng qua
Tất cả
16532
30750
292895
33410143
448808
2267728
113644670

IP của bạn: 3.222.251.91
2023-02-09 11:37