Văn hóa Nghệ An

Làm thế nào quản lý tiền công đức tại các di tích?

Thời gần đây, do những thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội, nguồn công đức, xã hội hóa tại các di tích ngày càng tăng, góp phần ngày càng lớn trong việc bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị các di sản văn hóa của tỉnh. Tuy nhiên, công tác quản lý nguồn tiền này vẫn còn không ít bất cập.

Quản lý tiền công đức còn nhiều bất cập

Từ khi Luật Di sản văn hóa ra đời (2001) đến nay, Bộ VH-TT &DL chưa có văn bản hướng dẫn về việc quản lý tiền, hiện vật công đức tại các di tích.

Nghệ An là địa phương đi tiên phong trong lĩnh vực này. Ngày 30/10/1998, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1258/1998/QĐ-UB “Về việc ban hành quy định tạm thời đặt hòm công đức, quản lý sử dụng tiền công đức ở các khu di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Nghệ An”. Sau một thời gian thực hiện, ngày 24/1/2011, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 195/QĐ.UBND.VX ban hành quy định tiếp nhận, quản lý, sử dụng nguồn công đức ở các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Nghệ An thay thế Quyết định 1258. So với Quyết định 1258, Quyết định 195 có một số thay đổi như bỏ quy định việc đặt hòm công đức phải có quyết định của UBND tỉnh; trích tỷ lệ 5% tiền công đức cho đội ngũ bảo vệ, quản lý di tích; thêm quy định trong trường hợp di tích đã được tu bổ, tôn tạo hoàn chỉnh thì nguồn công đức được sử dụng phục vụ các chính sách an sinh xã hội tại địa phương. Đây là những cơ sở pháp lý để tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với tiền công đức tại các di tích. Tuy nhiên, do không được quán triệt đầy đủ cũng như không có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ, tình hình tiếp nhận, chi tiêu nguồn công đức tại các di tích trên địa bàn tỉnh vẫn theo kiểu mỗi nơi mỗi phách và còn những biểu hiện tiêu cực.                         

Mặc dù đã có quy định cụ thể của UBND tỉnh, nhưng công tác quản lý tiền công đức vẫn còn nhiều bất cập. Kết quả khảo sát tại 10 di tích trong thời gian 3 năm từ 2007 đến 2009 của Ban Quản lý DTDT cho thấy, trong 3 năm, tổng số tiền công đức thu được tại 10 di tích là hơn 3,9 tỷ đồng, bao gồm tiền mặt và giá trị công trình quy đổi thành tiền. Giá trị công đức bằng hiện vật tại 10 di tích chiếm 46,9%. Một số di tích thu được lượng công đức lớn như đền Cờn (815 triệu đồng), đền Hồng Sơn (531 triệu), đền Cuông (786 triệu), đền Hoàng Mười (735 triệu), nhà thờ họ Hồ tại Quỳnh Đôi (306 triệu), nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách (274,8 triệu), một số di tích thu được ít tiền công đức như đền Thánh Mẫu ở Vân Diên (40,5 triệu), chùa Đức Sơn ở Vân Diên (80,9 triệu), đền Đức Hoàng ở Phúc Thành (81,2 triệu).     

Về việc sử dụng tiền công đức, qua khảo sát 10 di tích chỉ có 2 di tích (đền Cuông và đền Hồng Sơn) thực hiện đúng quy định của UBND tỉnh. Các di tích đền Cờn, đền Đức Hoàng, đền Quả Sơn, chùa Đức Sơn, đền Hoàng Mười, đền Thánh Mẫu đều không gửi tiền vào kho bạc mà do UBND xã tự quản lý, duyệt chi. Di tích nhà thờ họ Hồ và nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách do hội đồng gia tộc quản lý, chi tiêu.

Việc sử dụng tiền công đức hầu hết đều không đúng với quy định của Quyết định 1258. Các khoản chi cho bảo vệ, lễ hội đều vượt quá tỷ lệ 30%. Trong 3 năm, đền Hồng Sơn chi bảo vệ hết 48,2% (188,2 triệu), chi lễ hội hết 29,2% (113,8 triệu), tổng chi cho hai công tác này hết 77,4%; đền Cờn chi bảo vệ và lễ hội hết 48% (265 triệu); đền Quả Sơn chi 2 khoản nói trên hết 75% (78 triệu); đền Hoàng Mười chi hai khoản hết 95,2% (257 triệu); đền Đức Hoàng chi hai khoản hết 99% (55,4 triệu). Trong 10 di tích, có đến 9 di tích tỷ lệ tiền công đức dành cho việc tu bổ, tôn tạo đều thấp, không đúng quy định của tỉnh là 65%. Đền Hồng Sơn chỉ dành 12,2%, đền Cờn 6,5%, đền Cuông 9%, đền Quả Sơn 23%, đền Hoàng Mười 4,5%, đền Đức Hoàng 1%. Chỉ có nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách dành đến 92,5% (241,4 triệu) cho mục đích tu bổ, tôn tạo.

Sau khi Quyết định 195 ban hành gần 1 năm, vào cuối năm 2011 - đầu 2012, Ban Quản lý DTDT đã phối hợp với các cơ quan chức năng địa phương tiến hành kiểm tra tình hình quản lý công đức tại 7 di tích: đền Cờn, đền Hoàng Mười, đền Cuông, đền Hồng Sơn, đền Vua Mai, đền Đức Hoàng và đền Bạch Mã. Qua kiểm tra cho thấy công tác tổ chức thu, tiếp nhận nguồn công đức đã có chuyển biến, số tiền công đức thu được tăng lên nhiều. Cụ thể, đền Cờn thu được 4,39 tỷ đồng tiền mặt, giá trị công trình khoảng 320 triệu đồng; đền Hoàng Mười thu được 1,69 tỷ đồng, tiền công trình khoảng 600 triệu đồng; đền Cuông thu được 835,6 triệu tiền mặt, 25,5 triệu hiện vật; đền Hồng Sơn thu được 1,33 tỷ đồng, giá trị công trình 664 triệu đồng; di tích đền Vua Mai tiếp nhận công đức tiền mặt 303,3 triệu, giá trị công trình 138,3 triệu; đền Đức Hoàng thu được 160,7 triệu tiền mặt, 40 triệu giá trị công trình; đền Bạch Mã thu được 295,3 triệu tiền mặt, 155 triệu giá trị công trình. Tổng cộng 7 di tích trong năm 2011 thu được hơn 9 tỷ đồng tiền mặt, 1,94 tỷ tiền giá trị công trình, hiện vật. Đó là con số thể hiện trên sổ sách giấy tờ, còn trong thực tế, theo một số nguồn tin không chính thống, số lượng tiền công đức thu được lớn hơn nhiều lần.

Tuy nhiên, một số di tích thu được lượng công đức chưa nhiều, phiếu ghi công đức phần lớn do các BQL tự in, một số di tích khi tiếp nhận hiện vật không xin phép, thẩm định như đền Đức Hoàng, đền Bạch Mã, một số di tích đặt hòm công đức vượt quá số lượng quy định (3 hòm) như đền Cờn (6 hòm), đền Hoàng Mười (10 hòm), đền Cuông (9 hòm), phần lớn hòm công đức chỉ có một khóa (theo quy định 2 khóa).                                      

Mặc dù việc quản lý tiền công đức đã có sự giám sát của UBND xã và BQL di tích, việc mở khóa đều có lập biên bản, song trong việc quản lý thu chi vẫn còn nhiều tồn tại. Tiền công đức của đền Cờn được chuyển về ngân sách huyện; đền Đức Hoàng và đền Bạch Mã khi mở hòm công đức không có sự giám sát của UBND huyện; cả 7 di tích không báo cáo kết quả và biên bản mở hòm công đức với cơ quan chuyên môn cấp huyện, cấp tỉnh. Việc trích 65% số tiền công đức chi tu bổ tôn tạo và 35% cho hoạt động phục vụ tại đền còn chưa nghiêm túc, đền Bạch Mã và đền Vua Mai chi cho hoạt động phục vụ lên tới 50%. Công tác kế toán, kiểm toán nguồn công đức thiếu chặt chẽ, chủ yếu tọa chi tại UBND cấp xã và BQL di tích, các chứng từ chi còn sơ sài. Những số liệu trên đây là có chứng từ để đối chiếu, còn trên thực tế số tiền thu tại một số di tích lớn hơn con số đoàn kiểm tra nắm được rất nhiều, vẫn có những dư luận về sự thất thoát nguồn tiền công đức tại một số di tích.

Làm thế nào để quản lý tốt nguồn công đức tại các di tích?

Ông Phan Văn Hùng, Phó Trưởng Ban Quản lý DTDT tỉnh cho biết: “Công tác quản lý tiền công đức tại các di tích thời gian qua còn không ít bất cập. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tham mưu Sở VH-TT&DL tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh việc thu chi tiền công đức tại các di tích. Để làm tốt công tác này, vai trò của chính quyền và cơ quan quản lý văn hóa địa phương cũng như BQL di tích rất quan trọng. Qua đợt kiểm tra 7 di tích vừa qua, mới chỉ có 2 di tích là đền Hồng Sơn và Vua Mai có quyết định của UBND TP và UBND huyện về công tác tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn công đức. Qua kiểm tra, chúng tôi thấy mô hình quản lý nguồn công đức ở đền Hồng Sơn là tốt nhất, nên triển khai nhân rộng. Tuy nhiên, cũng cần có thời gian để công tác quản lý đi vào nề nếp”.

Tại đền Hồng Sơn, như chúng tôi đã phản ánh trong bài đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 216, BQL di tích đã thu tất cả các khoản từ công đức, dịch vụ nộp vào kho bạc và thực hiện chi theo nguyên tắc kế toán bảo đảm công khai, minh bạch. Quyết định 195 chỉ quy định quản lý tiền công đức, không đề cập khoản thu từ dịch vụ là còn sơ hở. Ông Bùi Quang Phương, Phó Phòng VHTT Tp Vinh, Trưởng BQL di tích đền Hồng Sơn cho biết: “Cần thiết lập một cơ chế liên hoàn chặt chẽ giữa TP – BQL di tích và chính quyền địa phương, các thành viên thường trực BQL phải có cái Tâm với di tích, trung thực và có tri thức về văn hóa”. Ông Phương cũng cho biết tỷ lệ 35% tiền công đức phục vụ cho công tác phục vụ tại di tích theo Quyết định 195 là bất hợp lý bởi vì một số di tích sẽ là quá lớn, còn một số di tích thì không đáng bao nhiêu. Vì vậy, theo ông Phương, không nên quy định tỷ lệ % chi cho công tác phục vụ cụ thể mà nên quy định chi tiêu hợp lý theo quy định hiện hành và theo dự toán, kế hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Theo quy định tại Quyết định 195, các di tích như chùa, nhà thờ các dòng họ vẫn còn nằm “ngoài vùng phủ sóng” của cơ quan quản lý nhà nước. Do đó, theo một số cán bộ quản lý văn hóa, cần có quy định riêng cho 2 loại hình di tích này. Đối với di tích là nhà thờ các dòng họ, nên dành quyền chủ động cho hội đồng gia tộc, chỉ cần báo cáo lên cơ quan quản lý văn hóa cấp huyện. Còn đối với các di tích là chùa thờ Phật như chùa Cần Linh, cần quy định trách nhiệm quản lý của Ban trị sự Phật giáo tỉnh.

Để hạn chế tiêu cực trong việc thu chi tiền công đức tại các di tích, bên cạnh việc tăng cường công tác kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng, cần có cơ chế tiếp nhận, xử lý thông tin từ việc giám sát của người dân, có chế tài xử lý nghiêm minh đối với những tập thể, cá nhân sai phạm. Nếu tình trạng trục lợi từ nguồn công đức còn tồn tại, thì không những thất thoát tiền bạc, mà còn gây ra hậu quả lớn hơn là làm giảm sút và đánh mất niềm tin của những nhà hảo tâm, của nhân dân.     

        

Sửa lần cuối vào Thứ năm, 21 Tháng 2 2013 14:59

Tìm kiếm


Thống kê truy cập

94214570
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần qua
Tháng này
Tháng qua
Tất cả
21201
46755
192473
13921465
299239
1424608
94214570

IP của bạn: 3.238.24.209
2022-07-07 07:12