Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop

Chính sách ruộng đất của Trung ương cục Miền Nam và MTDTGPMNVM trong kháng chiến chống Mỹ

Trong cuộc đấu tranh với đế quốc Mỹ và tay sai, để vận động nông dân miền Nam tích cực tham gia vào cuộc kháng chiến, đi đôi với việc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước và truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc, Trung ương cục miền Nam và Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam luôn chú trọng thực hiện chính sách ruộng đất nhằm vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Sau Hiệp định Giơ nevơ, Mỹ - Diệm âm mưu thôn tính miền Nam Việt Nam, tiêu diệt Đảng Cộng sản và phong trào cách mạng, chúng tập trung đánh vào địa bàn nông thôn và nông dân - chỗ dựa chủ yếu của Đảng. Nhằm thực hiện mục tiêu đó, chúng sử dụng số địa chủ miền Bắc mới di cư vào Nam cùng số địa chủ ở miền Nam.

Ngày 8-11-1955, Ngô Đình Diệm ra Dụ số 2 về "cải cách điền địa" mà nội dung chủ yếu là quy định tá điền và địa chủ phải trực tiếp ký khế ước, một bên lĩnh canh, một bên phát canh theo mẫu thống nhất của chính quyền mới, mức tô từ 15% đến 25% hoa lợi, với thời hạn khế ước là 3 năm cho khế ước loại A và 5 năm cho khế ước loại B.

Ngày 5/2/1955, Diệm lại cho ra Dụ số 7 quy định về ruộng bỏ hoang, ruộng vắng chủ, trao quyền cho Hội đồng hương chính đứng ra ký với tá điền cho mướn ruộng và thu tô theo khế ước cho loại ruộng vắng chủ. Mức tô trong khế ước được quy định miễn hẳn trong năm đầu, năm thứ hai thu một nửa, năm thứ ba thu 3/4.

Trước tình hình đó, hàng triệu nông dân miền Nam nổi dậy chống lại hai Dụ này bởi đó chỉ là văn bản pháp lý của chính quyền Ngô Đình Diệm  nhằm xóa bỏ thành tựu và quyền lợi ruộng đất mà cách mạng đã đem lại cho nông dân. Hai Dụ này chính thức cho phép địa chủ trước đây bỏ chạy ra thành hoặc làm tay sai cho Pháp chiếm đoạt mấy chục vạn ha đất, bắt hàng chục vạn gia đình nông dân lao động trở lại địa vị tá điền.

Trước sự chống đối của nông dân và bị dư luận chỉ trích, chê bai "cải cách điền địa ngược", ngày 22/11/1956, Diệm lại ra Dụ số 57. Nội dung chính của Dụ 57 quy định mỗi địa chủ chỉ được quyền lưu giữ ruộng riêng với diện tích 100ha. Nhà nước sẽ “truất hữu", tức đứng ra mua lại để rồi đem chia tức bán lại cho nông dân. Dụ 57 còn quy định ngoài 100 ha đã nêu, địa chủ còn được giữ thêm 15 ha ruộng hương hỏa. Nếu địa chủ nào tự làm không phát canh thu tô thì còn được giữ thêm 30 ha, tổng cộng là 145 ha.

Số lớn địa chủ ở miền Nam có ruộng cho phát canh thu tô dưới 100ha, nên khi Dụ 57 quy định diện tích tối đa thì đại bộ phận giai cấp địa chủ với 2/3 số ruộng đất chiếm giữ đều không thuộc diện truất hữu.

Như vậy, lực lượng địa chủ tăng thêm, cơ sở chính trị, kinh tế - xã hội của chính quyền sẽ tăng lên, chính quyền và địa chủ đều có lợi. Dụ 57 còn quy định không "truất hữu" ruộng đất của Nhà thờ đạo Thiên Chúa (262.000 ha) và ruộng đất của người Pháp (229.150 ha) cũng như tất cả đất đai trồng trà, cà phê, cao su…

Chính sách "cải cách điền địa" của Diệm thực chất chỉ nhằm tạo uy thế và vực dậy sức mạnh của giai cấp địa chủ, lực lượng mà Diệm dựa vào để đánh phá cách mạng.

Trong âm mưu của Mỹ -ngụy đối với nông thôn và nông dân miền Nam, vấn đề ruộng đất được đặt thành "quốc sách", thành một thủ đoạn có ý nghĩa chiến lược. Với các Dụ số 2, số 7 và số 57 được ban hành từ năm 1955 đến năm 1956, chính quyền Diệm đã bật đèn xanh cho giai cấp địa chủ giật lại số ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân từ sau năm 1945 và tăng tô, truy tô một cách phổ biến.

Đề cập đến vấn đề ruộng đất ở miền Nam dưới thời Ngô Đình Diệm,Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ nhận xét: "Chương trình "cải cách điền địa" của Diệm đã không phân chia lại ruộng đất cho người nghèo mà rút cục chỉ lấy lại những thứ mà Việt Minh đã chia cho họ rồi trả lại cho địa chủ. Năm 1960, 75% đất đai vẫn nằm trong tay 15% dân số".

Tạp chí "Chấn hưng kinh tế", số ra ngày 12/5/1960 cho biết: Đến tháng 4/1960, tại Nam Bộ, 87,5% ruộng đất vẫn ở trong tay địa chủ với 13,6% dân số, còn lại 12,5% ruộng đất là của phú nông và nông dân lao động.

Chính sách “Cải cách điền địa” của Diệm đã khiến cho khắp các vùng nông thôn miền Nam, từ Nam Bộ đến Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, số ruộng đất của nông dân được cách mạng cấp đã bị địa chủ và chính quyền Diệm cướp lại gần hết. Như tỉnh Mỹ Tho, trong số 46, 415ha ruộng đất nông dân được chia cấp chỉ còn giữ được 16ha, 26.000ha đã bị tăng tô: mức tô trước đất đã giảm còn 20-25 giạ nay đã tăng lên 35-60giạ/ha[1].

Trước những thủ đoạn thâm độc của chính quyền tay sai, Trung ương Cục miền Nam và Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam đã  kịp thời thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với tình hình thực tế nhằm tập hợp các tầng lớp nhân dân ở các vùng nông thôn. 

Ngày 20-12-1960, diễn ra Đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Đại hội thông qua Chương trình 10 điểm, trong đó, nội dung cơ bản là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, nhằm xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ,hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà. Trong Chương trình hành động 10 điểm Mặt trận dân tộc Giải phóng miền nam Việt Nam xác định: Thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, làm cho người cày có ruộng.

Các hội nghị của Trung ương Cục miền Nam từ năm 1961 đến năm 1967 đã ra Nghị quyết chỉ đạo cụ thể việc thực hiện chính sách ruộng đất, bao gồm các nội dung: giảm tô, thực hiện chính sách ruộng đất đối với:  ruộng đất địa chủ các loại, ruộng đất của nông dân lao động; ruộng đất công, đồn điền trồng cây công nghiệp, ruộng đất các tôn giáo…

Để thực hiện tốt chính sách ruộng đất, Trung ương Cục chỉ rõ: “…trong vấn đề  ruộng đất hiện nay ta ra sức giành lại quyền lợi về ruộng đất mà nông dân đã giành được trong kháng chiến, hạn chế bóc lột của địa chủ, cải thiện đời sống nông dân, tăng cường đoàn kết trong hàng ngũ nông dân lao động, mặt khác vẫn còn thừa nhận quyền sở hữu về ruộng đất của địa chủ ( trừ bọn gian ác tay sai của Mỹ- Diệm ), còn thừa nhận địa chủ thu tô trong một mức độ nhất định”[2].

Tiếp đó, ngày 28/7/1961, Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị: Các cấp cần nắm vững sách lược nông thôn của Đảng trong khi chấp hành chính sách ruộng đất hiện nay. Chỉ thị chỉ ra những khuyết điểm của các cấp bộ Đảng ở miền Nam trong việc thực hiện chính sách ruộng đất những năm 1954-1960 như: Không nắm vững mục đích, yêu cầu của cuộc phát động nông dân nên đã chạy theo đuôi quần chúng giải quyết những yêu cầu quá cao trước tình hình hiện tại; chấp hành một cách máy móc về giữ sở hữu và nguyên canh nên đã làm tổn thương, sứt mẻ khối đại đoàn kết trung, bần cố nông; trong giải quyết nặng mệnh lệnh, hăm dọa hơn giáo dục, thương lượng; không nắm vững sách lược phân hóa giai cấp địa chủ nên khi tiến hành giải quyết ruộng đất thiếu phân biệt, đối xử, gây không khí hoang mang, làm cho địa chủ hoảng sợ chạy ra vùng địch.

Để khắc phục những hạn chế đó, Trung ương Cục chỉ rõ:

-"…Yêu cầu giữ sở hữu đất cấp đặt ra là nhằm đấu tranh với địa chủ giựt đất…

- Để giải quyết những ruộng đất bị địa chủ giựt lại bán hoặc cho mướn được ổn thỏa và hợp lý thì khi giải quyết phải căn cứ nhiều mặt và tùy từng trường hợp…

- Giải thích cho trung bần nông nhận rõ muốn bảo đảm quyền lợi ruộng đất trước mắt và sau này thì trước tiên phải thắt chặt sự đoàn kết giữa bần cố nông…

- Đảm bảo nguyên canh là nhằm đấu tranh chống những thủ đoạn xáo canh tăng tô của địa chủ…

- Đối với phú nông, về mặt chính trị thì liên hiệp với phú nông, nhưng về mặt kinh tế thì đấu tranh với những phú nông dùng quyền thế cướp đoạt ruộng đất, chèn ép lấn lướt bần cố nông…

- Phải nắm vững sách lược phân hóa giai cấp địa chủ"[3].

Đốii với những vùng nhân dân làm chủ, chính quyền cách mạng tiếp tục thực hiện chính sách ruộng đất trong những điều kiện mới. Ngay sau ngày đồng khởi, Trung ương Cục và Mặt trận đã sơ bộ đưa ra nhiều chủ trương về ruộng đất.

Đối với ruộng đất địa chủ:

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ nhất năm 1961 chỉ rõ:

"Đảm bảo quyền nguyên canh của nông dân trên số ruộng lãnh canh của địa chủ hiện nay là ruộng vắng chủ đã tạm giao cho nông dân hồi kháng chiến… Tịch thu ruộng đất của bọn gian ác hiện hành đã bị nhân dân lên án để chia cho nông dân( có để lại một phần cho vợ, con chúng"[4].

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ hai, năm 1962 xác định:

"Đối với địa chủ không phải tay sai gian ác của địch thì thừa nhận quyền thu tô, nhưng phải giảm tô. Nếu lúc phát động quần chúng, phá thế kìm kẹp, họ chạy đi, nay chạy về thì ta trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho họ".

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ ba, năm 1964 bổ sung:

"Đối với địa chủ, thừa nhận quyền sở hữu của họ, nhưng phải giảm tô và phải đóng góp cho cách mạng. Đối với ruộng đất vắng chủ thì tạm giao cho nông dân quản lý, hưởng hoa lợi, nếu địa chủ trở về xin quyền thu tô thì họ phải chịu những điều kiện giảm tô, giữ nguyên canh, đóng góp cho cách mạng".

Đến năm 1965, Hội nghị Thường vụ Trung ương Cục đưa ra chủ trương phân biệt đối xử, nhằm phân hóa đối phương: "Địa chủ nào không làm việt gian thì cách mạng có sự bù đắp thích đáng và chiếu cố, giúp đỡ gia đình làm ăn theo con đường tiến bộ. Với nông dân canh tác trên số ruộng đất mà địa chủ vắng mặt, nói rõ là họ được tự do sản xuất nhưng chỉ hưởng thụ hoa lợi và phải đóng góp cho cách mạng".

Ngày 13-9-1965, Trung ương Cục miền Nam ra chỉ thị Về ruộng đất và hướng phát triển ở nông thôn. Nghị quyết nhấn mạnh, muốn giành được thắng lợi quyết định trên chiến trường thì "vấn đề ruộng đất tô tức và vấn đề nông dân là vấn đề mấu chốt vì nông dân là chủ lực quan trọng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Nếu không phát động được nông dân, không bồi dưỡng nông dân, không giải quyết vấn đề ruộng đất lên một bước mới thì không thể xây dựng được thực lực cách mạng đủ mạnh để đánh địch, không thể có đủ sức người sức của tung ra tiền tuyến để thực hiện các mục tiêu của nhiệm vụ năm 1965. Tình hình chiến tranh ngày càng thắng lợi nhưng rất ác liệt, yêu cầu cách mạng động viên sức người, sức của ở vùng giải phóng ngày càng cao thì phải thực hiện bồi dưỡng sức dân ngày càng cao. Cho nên xóa bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất ở các vùng giải phóng là yêu cầu thiết thực bồi dưỡng và động viên sức người sức của để đẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước tạo bước ngoặt về so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch"[5].

Trung ương đề ra một số biện pháp để thực hiện tốt vấn đề ruộng đất:

 Một là, vấn đề xóa bỏ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ là một công tác quan trọng để đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược và đánh đổ chính quyền tay sai.

 Hai là, phát động đấu tranh giành ruộng đất trên cơ sở kết hợp chặt chẽ hai nội dung "giành chính quyền, giành ruộng đất".

 Ba là, giải quyết xóa bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất, tập trung vào việc chuyển toàn bộ ruộng đất của giai cấp địa chủ ở vùng giải phóng về tay nông dân không có đất và thiếu đất, giải phóng đến đâu đấu tranh tiến hành giải quyết ruộng đất đến đó.

 Bốn là, áp dụng ba biện pháp tịch thu, trưng thu và trưng mua về ruộng đất.

Đối với ruộng đất của nông dân lao động

Hội nghị Trung ương Cục lần thứ nhất, năm 1961 nhấn mạnh: "Giải quyết các vấn đề ruộng đất phải luôn luôn tăng cường mối đoàn kết cố - bần - trung nông, phát huy hơn nữa khả năng đấu tranh của nông dân, chiếu cố thích đáng các gia đình cách mạng, gia đình giải phóng quân".

Hội nghị Thường vụ Trung ương Cục, ngày 5-8-1965 bổ sung một số điểm cụ thể: "Tất cả số ruộng đất của ngụy quân và ngụy quyền, ta giải phóng đến đâu thì tịch thu đem chia cho nông dân không ruộng và thiếu ruộng đến đó"[6].Trung ương Cục nhấn mạnh: “ Trên cơ sở phát động ý thức giai cấp của nông dân, giải quyết tốt vấn đề tô tức ruộng đất, kiện toàn các tổ chức quần chúng và tăng cường vai trò lãnh đạo của chi bộ mà giải quyết đời sống của quần chúng, động viên nhân tài vật lực cung cấp cho yêu cầu của cuộc kháng chiến”[7].

Đến năm 1967, vấn đề ruộng đất đã được đưa vào Cương lĩnh Chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Ngày 20-8-1967, Đại hội bất thường của Mặt trận đã thông qua bản Cương lĩnh đó. Trong Cương lĩnh, có 3 mục, phần II, dành cho vấn đề ruộng đất, nội dung như sau:

- "Tịch thu ruộng đất của đế quốc Mỹ và của bọn địa chủ ác ôn ngoan cố tay sai của Mỹ, đem chia cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất.

- Xác nhận và bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân.

- Nhà nước sẽ thương lượng mua lại ruộng đất của địa chủ có từ mức nào đó trở lên,tùy tình hình ruộng đất của mỗi địa phương, đem chia cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất. Nông dân được chia ruộng đất không phải trả tiền và không bị ràng buộc bởi bất cứ một điều kiện nào. Những nơi chưa đủ điều kiện cải cách ruộng đất thì thực hiện giảm tô.

- Giao ruộng đất của địa chủ vắng mặt cho nông dân sản xuất và hưởng hoa lợi. Sau này, sẽ căn cứ vào thái độ chính trị của từng địa chủ mà giải quyết một cách thích đáng.

- Thừa nhận địa chủ hiến ruộng đất cho Hội nông dân giải phóng hoặc cho Nhà nước. Hội nông dân giải phóng và Nhà nước sẽ chia ruộng đất ấy cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất.

- Khuyến khích những người có đồn điền trồng cây công nghiệp và cây ăn trái tiếp tục kinh doanh.

- Tôn trọng quyền sở hữu chính đáng về ruộng đất của nhà chung, nhà chùa và thánh thất.

- Chia lại công điền một cách công bằng, hợp lý.

- Bảo đảm quyền sở hữu chính đáng về ruộng đất khai hoang cho những người đã có công khai phá.

- Đồng bào bị cưỡng ép vào các "ấp chiến lược" và các hình thức trại tập trung khác đều được tự do trở về quê cũ làm ăn.

- Đồng bào bị địch cưỡng ép "di cư" và "di dân" muốn ở lại thì được thừa nhận quyền sở hữu về ruộng đất và các tài sản khác do sức lao động của mình làm ra, được giúp đỡ để tiếp tục làm ăn tại chỗ; ai muốn về quê cũ cũng được giúp đỡ"[8].

Một trong những tư tưởng sáng suốt của Cương lĩnh là không chủ trương tịch thu hoặc mua lại những cơ sở trồng cây công nghiệp lâu năm, thậm chí còn khuyến khích họ tiếp tục sản xuất, chỉ cần đóng góp đảm phụ cho kháng chiến.

 Nhờ thực hiện tốt các chủ trương trên nên từ năm 1965 đến 1973 "chính quyền cách mạng các địa phương tiếp tục chia cấp thêm hơn 15.000 ruộng đất cho nông dân[9].

Tính chung cả miền Tây Nam Bộ, đến cuối năm 1965, đã có 689.690ha, tức 53.7% trong số 1.304.700ha ruộng đất trong khu đã về tay nhân dân lao động[10]. Tuy nhiên, tình hình của các tỉnh có khác nhau.

Tên tỉnh

Diện tích nông dân đã làm chủ (ha)

Tỷ lệ % so với diện tích canh tác trong tỉnh (%)

Cà Mau

131.762

82

Vĩnh Long

126.813

75

Sóc Trăng

106.748

70

Trà Vinh

136.626

65

Cần Thơ

109.662

64

Rạch Giá

87.079

26

Ở miền Tây Nam Bộ, đến cuối năm 1965, nông dân đã làm chủ được 563.485ha, tức 56% diện tích canh tác trong khu[11]. Ở vùng Đồng Tháp Mười (đất rộng người thưa), bình quân mỗi hộ nông dân lao động có từ 4, 18 đến 6,85ha; vùng đất hẹp dân đông như Bến Tre, Mỹ Tho mỗi hộ có từ 0,25 -1,77ha.

Ở Miền Đông Nam Bộ, cá biệt ở hai huyện Bến Cát và Châu Thành (tỉnh Thủ Dầu Một cũ, nay là tỉnh Bình Dương), nông dân làm chủ tới 90% diện tích ruộng đất ở địa phương với 3.218,8ha[12].

Quyền làm chủ ruộng đất của nông dân các tỉnh miền Nam từ sau Đồng Khởi năm 1960 đã củng cố thêm một bước vai trò của nông dân lao động và khối liên minh công - nông trong cách mạng dân tộc dân chủ dân nhân ở miền Nam, Việt Nam. Việc giành lại quyền làm chủ ruộng cho nông dân đã góp phần củng cố niềm tin của nông dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trong vòng 15 năm, kể từ cuộc Đồng khởi 1960 cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30- 4-1975), nông dân miền Nam đã được chính quyền cách mạng giải quyết ruộng đất như sau: Năm 1954 khoảng 1,5 triệu ha trong tổng số 3 triệu ha ; những năm 1959-1960, giảm xuống còn 750.000 ha; đến năm 1965 tăng lên 2,1 triệu ha, chiếm 70% tổng số ruộng đất ở miền Nam. Tỷ  lệ này được giữ ổn định cho tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam[13].

Đối với khu vực lĩnh canh, chính quyền cách mạng đã có một chính sách vừa bảo vệ quyền lợi của nông dân, vừa dung hòa lợi ích giai cấp ở nông thôn. Quy định của chính quyền cách mạng là những người phát canh không được thu địa tô quá 15% tổng số hoa lợi. Nhìn chung, trong toàn vùng giải phóng quy định đó được thực hiện tương đối tốt.

Cách giải quyết vấn đề ruộng đất của miền Trung ương Cục miền Nam và Chính phủ cách mạng là điều hòa lợi ích giai cấp, vừa bảo vệ lợi ích của nông dân, vừa thừa nhận quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ, thậm chí quyền phát canh thu tô, chiếu cố những chủ ruộng đất có cảm tình với cách mạng, tôn trọng những điền sản như đất vườn, đất trồng cây công nghiệp. Đó là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế lúc đó và đã đem lại kết quả rõ rệt về kinh tế, chính trị, từ đó ảnh hưởng đến cục diện chiến tranh.

Trong tháng 1 năm 1975, cùng với những thắng lợi to lớn, dồn dập của quân và dân ta trên khắp các chiến trường, để bồi dưỡng sức dân và phát huy sức mạnh to lớn của nông dân vào giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến, Trung ương Cục miền Nam ban hành Nghị định về chính sách ruộng đất ở miền Nam. Nghị định nêu rõ: "Tiếp tục thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng", động viên nỗ lực của giai cấp nông dân, giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động khác, đánh bại chính sách "bình định" của địch ở nông thôn và đô thị, tiến lên hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam"[14].

Về phương hướng chia ruộng đất, bồi dưỡng sức dân, Nghị định nhấn mạnh: "Phải xóa bỏ triệt để và toàn bộ quyền chiếm hữu ruộng đất của tập đoàn tư sản mại bản quan liêu, của bọn địa chủ phong kiến, thừa nhận và ổn định quyền sở hữu về ruộng đất của nông dân, hướng dẫn nông dân đi vào cải tạo quan hệ sản xuất, phát triển đời sống mọi mặt…"[15].

 

                                         *               *

                                                  *

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chính sách ruộng đất của Trung ương Cục miền Nam và Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã khẳng định sự ưu việt và sự chính nghĩa của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Thông qua việc thực hiện chính sách ruộng đất, các cấp ủy Đảng  và chính quyền cách mạng đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân. Qua đó, tập hợp, tổ chức và phát động nhân dân đứng lên đấu tranh làm phá sản các chiến lược quân sự của kẻ thù, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Bình luận về vấn đề ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, báo chí nước ngoài đã đưa ra những nhận xét rất đáng chú ý:

Báo Diễn đàn (Anh) số ra ngày 6/3/1964 viết: "Việt Cộng đã thắng lợi vì họ mang lại cho nông dân những cái mà nông dân mong muốn, nhất là ruộng đất. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã có chương trình rõ ràng để giải quyết vấn đề ruộng đất, đã và đang thực hiện chương trình đó bằng cách đem lại hàng triệu ha ruộng đất chia cho nông dân ở các vùng giải phóng".

Trong cuốn Cải cách ruộng đất ở Việt Nam của Viện Nghiên cứu Stanford (Menlo Park, Califonia, SRI, 1968) viết: "Cả Mặt trận Giải phóng và chính quyền Sài Gòn đều đã có chủ trương chính sách đáp ứng yêu cầu về ruộng đất của nông dân. Trong lúc Mặt trận đã thi hành những chính sách linh động kết hợp với những biện pháp hữu hiện đã gây được những biến đổi sâu sắc trong quan hệ giữa điền chủ và tá điền, thực tế đã đưa lại ruộng đất cho nông dân thì các chính quyền ở Sài Gòn vẫn còn rất trì trệ và kém cỏi trong vấn đề ruộng đất".



[1]Héi n«ng d©n ViÖt Nam: Tãm t¾t LÞch sö phong trµo n«ng d©n vµ Héi n«ng d©n gi¶i phãng miÒn Nam ViÖt Nam trong kh¸ng chiÕn chèng Mü (1954-1975), l­u hµnh néi bé, Hµ Néi, 2003, tr.39.

[2]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXBCTQG, HN, 2002, tập 22, tr709.

[3]Trung ­¬ng Côc miÒn Nam: C¸c cÊp cÇm quyÒn n¾m v÷ng s¸ch l­îc n«ng th«n cña §¶ng trong khi chÊp hµnh chÝnh s¸ch ruéng ®Êt hiÖn nay, l­u tr÷ ViÖn LÞch sö §¶ng, tr. 12, 13.

[4]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXBCTQG, HN, 2002,  tập 22, tr710.

[5]Trung ­¬ng Côc miÒn Nam: ChØ thÞ vÒ ruéng ®Êt vµ h­íng ph¸t triÓn ë n«ng th«n, l­u tr÷ ViÖn LÞch sö §¶ng, tr.3

[6]L©m Quang Huyªn: C¸ch m¹ng ruéng ®Êt ë miÒn Nam ViÖt Nam, Nxb Khoa häc X· héi, 1997, tr.67 - 68.

[7]ĐCS Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, HN, tập22, tr 730-731. 

[8]C­¬ng lÜnh ChÝnh trÞ cña MÆt trËn D©n téc Gi¶i phãng miÒn Nam ViÖt Nam, Nxb Sù thËt, Hµ Néi, 1967, tr.15-16.

[9]Héi N«ng d©n ViÖt Nam: Tãm t¾t lÞch sö phong trµo n«ng d©n vµ Héi N«ng d©n gi¶i phãng miÒn Nam ViÖt Nam trong kh¸ng chiÕn chèng Mü (1954-1975), l­u hµnh néi bé, tr.41.

[10]Héi N«ng d©n ViÖt Nam: Tãm t¾t lÞch sö phong trµo n«ng d©n vµ Héi N«ng d©n gi¶i phãng miÒn Nam ViÖt Nam trong kh¸ng chiÕn chèng Mü (1954-1975), l­u hµnh néi bé, Hµ Néi, 2003, tr.59-60.

[11]Héi N«ng d©n ViÖt Nam: Tãm t¾t lÞch sö phong trµo n«ng d©n vµ Héi N«ng d©n gi¶i phãng miÒn Nam ViÖt Nam trong kh¸ng chiÕn chèng Mü (1954-1975), l­u hµnh néi bé, Hµ Néi, 2003, tr.59-60.

[12]Héi N«ng d©n ViÖt Nam: Tãm t¾t lÞch sö phong trµo n«ng d©n vµ Héi N«ng d©n gi¶i phãng miÒn Nam ViÖt Nam trong kh¸ng chiÕn chèng Mü (1954-1975), l­u hµnh néi bé, Hµ Néi, 2003, tr.59-60.

[13]L©m Quang Huyªn, S®d, tr.102.

[14]NghÞ ®Þnh vÒ chÝnh s¸ch ruéng ®Êt cña Trung ­¬ng Côc miÒn Nam, th¸ng 1-1975. Tµi liÖu l­u t¹i ViÖn LÞch sö §¶ng.

[15]NghÞ ®Þnh vÒ chÝnh s¸ch ruéng ®Êt cña Trung ­¬ng Côc miÒn Nam, th¸ng 1-1975. Tµi liÖu l­u t¹i ViÖn LÞch sö §¶ng.