Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop

Nên chọn tác phẩm nào là sớm nhất của văn học trung đại Việt Nam

VHNA: Nhà giáo Nhân dân, PGS. Bùi Duy Tân sinh ngày 20/ 10/ 1932 tại thôn Trung Hòa, xã Thụy Lôi, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau một thời gian được gia đình và các bác sĩ bệnh viện Hữu Nghị tận tình cứu chữa nhưng vì bệnh nặng, ông đã qua đời ngày 31/ 10/ 2009.

Nhà giáo Bùi Duy Tân sinh ra trong một gia đình nông dân bậc trung, có truyền thống hiếu học. Sau Cách mạng tháng Tám, trong những năm 1947 đến 1950, ông tích cực tham gia phong trào bình dân học vụ và thông tin tuyên truyền tại địa phương. Từ năm 1950, ông tham gia quân đội và hoạt động ở vùng địch hậu, công tác tại Ban quân số Tư lệnh Liên khu III. Giữa năm 1952, bị bệnh giải ngũ về làm cán bộ thuế của xã, sau đó làm cán sự địch vận và hoạt động thanh niên ở các tỉnh Ninh Bình, Nam Định. Năm 1956 - 1959, ông là sinh viên khóa I Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và được giữ lại làm cán bộ giảng dạy môn Văn học cổ Việt Nam. Năm 1968, tốt nghiệp bằng đại học thứ hai chuyên ngành Hán - Nôm.
Sự nghiệp suốt đời của nhà giáo Bùi Duy Tân là nghiên cứu văn học và giảng dạy từ bình dân học vụ, phổ thông cho đến đại học và trên đại học. Qua nửa thế kỷ, ông đã góp phần đào tạo hàng ngàn sinh viên, hàng trăm thạc sĩ và tiến sĩ cho đất nước. Trong sự nghiệp nghiên cứu, ông có được thành quả rất sớm: Từ bộ giáo trình Văn học cổ Việt Nam hoàn thành năm 1964 (cùng các GS. Đinh Gia Khánh và Mai Cao Chương) cho đến những khảo luận, chuyên đề về các tác gia văn học trung đại như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bảo, Thái Thuận, Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ, Nguyễn Tông Quai…; tham gia biên soạn các loại từ điển văn học, xây dựng bộ Tổng tập văn học Việt Nam, các giáo trình, hợp tuyển, sách tham khảo và hàng trăm bài khảo cứu về các vấn đề lịch sử văn học dân tộc…
Các giáo trình, chuyên khảo, sách tham khảo cơ bản của Bùi Duy Tân:
1. Văn học cổ Việt Nam (viết chung). NXB Giáo dục, 1964.
2. Sái Thuận - Nhà thơ lớn đất cổ Kinh Bắc (Chủ biên). Ty Văn hóa Hà Bắc xuất bản, 1978.
3. Văn học Việt Nam (Thế kỉ X - nửa đầu thế kỉ XVIII) (viết chung). NXB Giáo dục, 1979. Tái bản lần 7, năm 2001.
4. Nguyễn Bảo: Nhà thơ – danh nhân văn hóa. NXB Văn hoá và Sở Văn hóa – Thông tin Thái Bình, 1991.
5. Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 6 (Chủ biên). NXB KHXH, 1997.
6. Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 7 (Chủ biên). NXB KHXH, 1997.
7. Tinh tuyển thơ văn Hán Nôm, Tập A - Thế kỉ X - XV (Chủ biên). Huế xuất bản, 1999.
8. Tinh tuyển thơ văn Hán Nôm, Tập B - Thế kỉ XVI - nửa đầu XVIII (Chủ biên). Huế xuất bản, 1999.
9. Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Tập I. NXB Giáo dục, 1999.
10. Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan: Tác gia - tác phẩm (Chủ biên). Sở Văn hoá - Thông tin Hà Tây xuất bản, 2000.
11. Khảo và luận một số gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Tập II. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
12. Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, Tập I (Chủ biên). NXB Giáo dục, 2004.
13. Theo dòng khảo luận. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
14. Bùi Duy Tân – Tuyển tập. NXB Giáo dục, 2007.
15. Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, Tập II (Chủ biên). NXB Giáo dục, 2007.
16. Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, Tập III (Chủ biên). NXB Giáo dục, 2009…
Những công lao và đóng góp của nhà giáo Bùi Duy Tân đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng những giải thưởng và danh hiệu cao quý:
          -    Phong hàm Phó giáo sư năm 1984
-    Tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2005
-    Phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 2008
-    Huân chương Kháng chiến chống Mĩ cứu nước hạng Nhì
-    Huân chương Lao động hạng Ba…
Cả cuộc đời của Nhà giáo Nhân dân Bùi Duy Tân là tấm gương về lao động trí óc, lao động cần cù, lao động cật lực trong mọi hoàn cảnh, biết đặt lợi ích của sự nghiệp chung, của sự phát triển vượt lên trên những băn khoăn trắc trở của đời tư để vươn lên thành một trí thức uyên bác. Ông là tấm gương người Thầy mẫu mực, nghiêm nghị và giàu đức độ. Suốt cuộc đời ông kiên định với lối sống bình dị, tôn trọng học thuật, thủy chung như nhất với thế hệ đi trước, tôn trọng đồng nghiệp và đặc biệt quý trọng học trò, luôn luôn khuyến khích, kì vọng vào sự vươn lên, vượt hơn của học trò…
Nhân ngày Quốc tế Nhà giáo 20/11 và tưởng niệm hai năm Nhà giáo Nhân dân, PGS. Bùi Duy Tân đi xa, chúng tôi trân trọng giới thiệu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của ông.
NHS
 
Nên chọn tác phẩm nào là sớm nhất của văn học trung đại Việt Nam
 
Văn nghệ, số 6 (ra ngày 6 - 2 – 1993) đăng toàn văn, bản phiên âm, dịch nghĩa bài phú Bạch vân chiếu xuân hải (Mây trắng rọi biển xuân) với nhan đề : Tác phẩm văn học Việt Nam sớm nhất đến nay còn truyền lại, Phan Văn Các vừa giới thiệu tác gia, tác phẩm vừa phiên âm, phiên dịch khá công phu. Bài viết bày muons giải ảo nhan đề trên đây, và nhân thể xin bàn thêm, nên coi tác phẩm nào, xứng đáng là sáng tác sớm nhất của văn học cổ dân tộc.
– Có thể coi Bạch vân chiếu xuân hải là tác phẩm văn học sớm nhất ?
Từ khá lâu, cuộc đời và sự nghiệp của Khương Công Phụ và bài Bạch vân chiếu xuân hải, đã được một số tập sách cổ sử, cổ văn đề cập tới. Các bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục viết về Khương Công Phụ khá kỹ. Loại sách ký, lục, tuỳ bút,… cũng có chỗ ghi chép, chẳng hạn Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn viết về nhân vật này đến vài chỗ, lệ như : "Khương Công Phụ làm quan nhà Đường, thi đỗ chế khoa, thơ văn không thấy truyền lại, chỉ có bài phú Bạch vân chiếu xuân hải, thấy chép trong Uyên giám thì lời văn cũng đẹp đẽ". Thời Pháp thuộc, một vài tập văn học sử cũng có đề cập tời Khương Công Phụ và bài phú, Nguyễn Đổng Chi trong mục : Việc du học ngoại quốc, sách Việt Nam cổ văn học sử (Hàn Thuyên xuất bản năm 1942) dịch toàn văn bài phú. Đến thời nay, đáng ghi nhận là bài : Một số tác phẩm mới phát hiện và có liên quan đến dòng văn học viết bằng chữ Hán của người Việt thời Bắc thuộc của Trần Nghĩa([1]), đã giới thiệu nhiều tác phẩm : thơ, phú, thư, luận, chế sách,… trong đó có tác phẩm xuất hiện trước Bạch vân chiếu xuân hải. Chẳng hạn chùm thơ trao đổi giữa hai cao tăng Thích Đạo Cao, Thích Pháp Minh ở Giao Châu và sứ quân Lý Diệu của Bắc triều, giữa thế kỷ thứ V. Bạch vân chiếu xuân hải không là sớm nhất, mà cũng khó có thể xem là tác phẩm đích thực của người Việt, viết về đất nước Việt. Bấy giờ Khương Công Phụ là người Giao Châu, thi đỗ rồi làm quan ở triều Đường và sinh sống trên đất Bắc. Bài phú không có một chi tiết cụ thể nào về trời biển Giao Châu.
Cũng không thể coi nó như loại tác phẩm ở hải ngoại của người Việt thời cận hiện đại, viết về cuộc sống, con người, đất nước Việt, một quốc gia và một nền văn hoá đích thực.
Người xưa biết bài phú này, nhưng nó chưa hề có chỗ đứng trong một tuyển tập nào về thơ, phú. Nó cũng chưa được, dẫu chỉ một lần, và chỉ một phần hiện diện trên các thể loại thư tịch cổ của ta. Có lẽ người xua và người nay đều có cái nhìn như của cố Giáo sư Đặng Thai Mai, rằng ở thời Bắc thuộc "số người giỏi văn chương chữ Hán cũng có thể đếm trên năm đầu ngón tay… văn chương chữ nghĩa của họ cũng không có gì đặc sắc, cho nên đã chết theo họ từ lâu"([2]). Văn học viết thời trung đại của nước Việt chỉ thực sự hình thành từ thế kỷ thứ X, khi những điều kiện cần thiết cho sự ra đời của dòng văn học này : trí thức, chữ viết, thể loại, nhu cầu xã hội,… đã chín muồi. Bạch vân chiếu xuân hải không phải là tác phẩm văn học Việt Nam sớm nhất, vì nhiều lẽ như đã nói trên. Vởy thì, nên lấy tác phẩm nào ? Tốt hơn hết là ta tìm đến tác phẩm xuất hiện đầu tiên, khi đã có dòng văn học viết trong bối cảnh của một đất nước tự chủ, độc lập.
– Hay lấy Tuyên bố của Ngô Quyền ?
Thơ văn Lý – Trần, tập 1 của Viện Văn học([3]) lấy lời bàn của Ngô Quyền về mưu kế đánh giặc, được sử gia ghi lại, làm tác phẩm sớm nhất với tên đặt : Dự phá Hoằng Thao chi kế (Bày kế hoạch đánh tan quân Hoằng Thao). Trong Tác phẩm văn học 10, tập một([4]), bản dùng ở miền Nam, cũng tuyển đoạn ngữ lục này, đặt ở trang đầu mục Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỷ XIX, với đầu đề : Tuyên bố của Ngô Quyền, mặc nhiên coi đây là tác phẩm sớm nhất. Những người tuyển chọn dưa ra hai lý do : một là nó cho ta hiểu thêm tư tưởng, tình cảm, trí tuyệ của nhân dân ta, dân tộc ta ; hia là nó là câu nói nổi tiếng, thể hiển thái độ bình tĩnh, đầy tự tin của vị tướng lĩnh, xứng đáng là bài văn mở đầu… Thực ra, đoạn ngữ lục trên chưa có được tiêu chí tối thiểu của một tác phẩm văn học viết. Nó chỉ là lời nói được người làm sử thời sau ghi chép, không phai thành văn do thủ bút của tác giả, không có tính chất văn ban viết. Tóm lại, : Khong nên coi Tuyên bố của Ngô Quyền là tác phẩm văn học đầu tiên, vì nó không phải là tác phẩm văn học theo cái nghĩa cần có của từ này, dầu theo quan niệm về phạm vi văn học xưa. Và điều đó không hề ảnh hưởng tý nào đến thái độ trân trọng của chúng ta đối với người anh hùng khai quốc Ngô Quyền qua dự kế phá giặc.
– Hặc Nam quốc sơn hà, nhưng tác giả là ai ?
Theo điều tra văn bản công phu của Trần Nghĩa([5]) hiện có khoảng 24 đến 26 văn bản bài thơ mà thời chúng ta đặt cho nó cái tên Nam quốc sơn hà. Trong đó không có văn bản nào viết : Lý Thường Kiệt là tác giả đích thực của bài thơ. Bài thơ là của thần, thần sông Như Nguyệt, Trương Hống và em là Trương Hát. Coi Lý Thường Kiệt là tác giả chỉ là dự đoán theo tương truyền. Trên lĩnh vực sử học, Giáo sư Hà Văn Tấn từng khẳng định : "Không một nhà sử học nào có thể minh chứng được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt"([6]). Về xuất sứ, Trương tôn thần sự tích nói thần đọc thơ hai lần, lần một giúp Lê Hoàn, lần hai giúp Lý Thường Kiệt. Nhiều văn bản khác thì ghi thần đọc hai lần khác nhau. Lần một : thần đọc âm phù Lê Hoàn đánh Tống năm 981. Truyện hai vị thần Long Nhãn – Như Nguyệt trong sách Lĩnh Nam chích quái : "Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
(Núi sông nước nam vua Nam ngự trị,
Điều ấy được Trời định rõ ở sách trời.
Tại sao giặc Bắc còn sang xâm lược,
Sẽ bị lưỡi gươm sắc chém tan như chẻ tre)
Quân Tống nghe thấy, xéo đạp vào nhau mà chạy tan, lầm giết lẫn nhau, ai lo chạy thoát thân người ấy, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Quân Tống đại bại mà về. Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truy phong cho hai vị thần nhân, phụng thờ, hưởng huyết thực đời đời"([7]).
Lần hai : bài thơ cũng do Trương Hống, Trương hát đọc, nhưng lại âm phù cho Lý Thường Kiệt đánh Tống năm 1076. Xin trích một đoạn trong Đại Việt sử ký toàn thư : "Bính Thìn (1076), nhà Tống đem quân sang xâm lấn nước ta, vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đó đánh. Đến sông như Nguyệt đánh tan địch… Người đời truyền rằng Thường Kiệt làm hàng rào theo dọc sông để cố thủ. Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng ngâm to rằng :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Sông núi nước Nam hoàng đế nước Nam ở,
Ranh giới đã phân định rạch ròi ở sách trời.
Sao quân giặc kia dám đến xâm phạm,
Bọn bay cứ thử xem, sẽ chuốc lấy bại vong)
Sau đó quả nhiên như thế"([8]).
Từ lâu, nhiều học giả, với những lý lẽ khác nhau, vẫn coi Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Bây giờ nên để khuyết danh. Hơn nữa, bài thơ này nằm trong một huyền thoại. Nó do trí thức viết ra, lưu truyền, được sửa chữa, hoàn thiện, hiện vẫn còn hàng chục dị bản. Thời này cũng còn một số tác phẩm có tính chất như thế. Bài thơ của Lý Phục Man (Việt điện u linh), bài thơ trong Ngọc phả đề Đào Xá([9]) hoặc rất nhiều thơ sấm truyền khẩu, v.v. Những tác phẩm này thường có tính chất huyền thoại và tính dân gian (folklorique). Chúng chưa hẳn là tác phẩm văn học viết theo nghĩa hoàn chỉnh của nó. Cho nên tốt nhất là nên lấy "Quốc tộ" của Đỗ Pháp Thuận làm tác phẩm sớm nhất. Quốc tộ (Vận nước) viết khoảng năm 981 – 982. Đây là sáng tác đích thực của Đỗ Pháp Thuận (915 - 990), nhằm trả lời Lê Hoàn hỏi về vận nước :
Quốc tộ như đằng lạc,
Nam thiên lý thái bình.
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao binh.
Dịch thơ :
Vận nước như mây quấn,
Trời nam liệu thái bình.
Đức độ trên điện các,
Khắp chốn hết đao binh.
Đi tìm tác phẩm ban đầu, mà phải dài dòng như thế đấy ! Âu cũng là hy vọng tránh được chủ quan, khiên cưỡng.
(Tạp chí Hán Nôm, số 2 – 1993;
In lại trong Bựi Duy Tõn tuyển tập.
NXB Giỏo dục, H., 2007)


 


([1]) Tạp chí Văn học, số 4 - 1975.
([2]) Nghiên cứu văn học, số 7 - 1961, Mối quan hệ lâu đời và mật thiết giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc .
([3]) NXB Khoa học xã hội, H., 1977.
([4]) NXB Giáo dục, 1990.
([5]) Tạp chí Hán Nôm, số 1 - 1986, Thử xác lập văn bản thơ "Nam quốc sơn hà".
([6]) Lịch sử, sự thật và sử học, bào Tổ quốc, số 401, 1988.
([7]) Lĩnh Nam chích quái, NXB Văn học, H., 1960 (bản dịch).
([8]) Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, NXB Khoa học xã hội, H., 1983 (bản dịch).
([9]) Truyền thuyết anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự, NXB Khoa học xã hội, H., 1971.