Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop

Thi pháp Ngôn ngữ Tận biên: Trường hợp Deleuze (kỳ cuối)


Giọng điệu, Tiếng ồn, và Cân bằng Tận biên

Deleuze đã chính thức bác bỏ “ẩn dụ” nhưng việc động bút của ông lại theo nhiều cách, giống như kiểu một thi bút hoặc văn bút sáng tạo, kiểu Nietzsche, vẫn được lèo lái bởi chính phép ẩn dụ; tuy nhiên như đã khới lên ở trên, có thể nói rằng ông đã sử dụng các “hình thái” – một thuật ngữ mà Lyotard đã cấp cho một nghĩa xuyên-ký hiệu hoặc rõ ràng là phi ký hiệu học trong Discours, Figure và một hình thái dễ dàng tương liên với “các cấu hình nghĩa” mù mờ, không cụ thể mà Deleuze và Guattari coi như là ngôn ngữ cơ sở, chí ít là từ thời Mille Plateaux,1980.

“Hình thái” cũng có lợi thế, so với ẩn dụ, về việc gợi ý trực tiếp lĩnh vực thị giác, cụ thể hơn là một biểu đồ, một cái gì đó về cơ bản mang tính hình ảnh thị giác hơn là tiếng nói. Deleuze và Guattari trong Mille Plateaux,1980 đã “Giới thiệu: Thân rễ”, bắt đầu không phải bằng lời nói mà có lẽ bằng âm nhạc với một biểu đồ hoặc hình vẽ minh họa [Hình 1]. Dễ thấy trên đỉnh trang bức ảnh của nghệ bút Italia Sylvano Bussoti có ghi đầu đề: “Năm bản nhạc soạn cho đàn Piano tặng David Tudor” (1970). Dường như nó tạo ra một bức tranh các khuông nhạc mà trên đó lẽ ra phải xuất hiện các “nốt” nhạc thì nó lại giống như các điểm nguyên tử được kết nối với nhau bằng các nét biểu đồ rung động cuồng phóng, các nét vẽ thể hiện bằng phong cách hỗn độn hoặc kiểu bộ rễ phồn sinh theo chiều ngang, và cả chiều ngang lẫn chiều dọc “tuôn tháo các thang âm vảy bắc trên thân thực vật”. Đây rõ ràng là một dạng biến tấu âm nhạc liên tục, hoặc là tiền thân của chiếc máy langue ngôn ngữ chuyển động xa hẳn khỏi điểm cân bằng trong Hắn Cà lăm. Nó nhắc nhớ nhiều kẻ rằng các nốt nhạc có thể được “viết”, được chơi, hoặc được hát, nhưng không được “nói lên”, và chính “âm nhạc” đã khới lên rằng một biểu đồ như vậy, là hiện thân của không gian ở giữa các âm thanh-tiếng ồn, tiếng ồn của giọng nói, chính là “tiền-khẩu ngữ”: ngay cả khi nó không đi kèm với các đoạn thuyết minh hoặc các từ thì bằng một cách nào đó nó vẫn còn ở trên chính điểm tận biên hoặc ở điểm cận biên của ngôn ngữ nói.

Trong Logique du Sens (1969), Deleuze đã đem đến cho bọn quan ưu một mô hình về sự “phát sinh ngôn ngữ” thông qua một loạt các giai đoạn tiến hóa sinh học: từ “tiếng ồn nội thể”, do Deleuze gắn kết với quá khứ tổ tiên-man rợ của toàn chúng và với chứng tâm thần phân liệt, nổi lên giọng điệu, từ giọng điệu nổi lên tiếng nói, và sau đó từ tiếng nói xuất hiện “động từ nguyên thể”, cư ngụ trên “bề mặt siêu hình” của cơ thể, trong đó nó tương liên với miệng khi nói và vì vậy mà cùng tương liên với miệng cả khi nghĩ nữa; loại động từ này là “sự kiện ngôn ngữ” đích thực. Nhưng đúng ra thì khởi đầu từ những tiếng ồn nội thể vượt-tầm-kiểm-soát, những hiện hữu của chiếc máy langue ngôn ngữ rung động của Deleuze từ tính duy lý của các trục ký hiệu học cổ điển và chỉ có chính ở “tận biên” hoặc “cận biên” thì nó mới bắt đầu chuyển động xa hẳn điểm cân bằng. Mặt khác, tại cực điểm này, nơi có thể bắt đầu đổ vỡ hoặc bùng nổ, nó phải đối mặt với nín thinh vượt ngoài bản thân. Trong mô hình Logique du Sens (1969) của Deleuze, dường như hoàn toàn khác, động từ nguyên thể trên bề mặt siêu hình tương liên với khoảng nín thinh của cái θάνατοςđộng lực chết của Freud, nhưng vấn đề vẫn không rõ ràng ở chỗ những tiếng ồn nội thể nổi lên từ khoảng nín thinh trước đó. Ở đoạn khởi đầu, có lẽ chỉ có tiếng ồn; vì vậy trong Logique du Sens (1969), Deleuze đã liên đối cái θάνατοςđộng lực chết của Freud với Αιων, quãng đời,bề mặt phẳng của thời gian, và ερως xúc cảm của ông với Χρόνος kẻ huyên náo, tuyến tính, các chiều sâu của tổ tiên-man rợ, người cha thời gian. Liệu các cực đỉnh của những đường răng cưa, vượt khỏi sự kiểm soát, thì các đường cao hơn của biểu đồ âm nhạc-thể rễ gợi ý về chiếc máy rung động xa hẳn điểm cân bằng và/hoặc, đi theo con đường khác?, là tiếng ồn nội-thể? Liệu có thể chiếc máy langue ngôn ngữ cà lăm cũng “vận hành theo hướng ngược lại”?. Âm nhạc, đương nhiên, ở một mức độ nhất định, là sự “hài hòa” của các âm thanh hoặc tiếng động khả thính, giới hạn trong một loạt hài hòa hạn chế hơn. 29
 
Trong lý thuyết thông tin, âm thanh, và ở mức độ xa hơn, âm nhạc, đơn giản là sự tinh lọc, chỉnh âm, hoặc tự sắp xếp trật tự của tạp âm. Và về bẩm tính thì cả tiếng ồn cũng bao quanh và gồm thâu lĩnh vực tận biên âm thanh/âm nhạc, là cái mà chúng vẫn dùng để điều chỉnh âm thanh “tĩnh” trên radio, vì vậy có thể ngóng vọng rằng trong mô hình phát-sinh-langue-ngôn-ngữ Logique du Sens (1969) của Deleuze thì giai đoạn sớm nhất của “tiếng ồn nội-thể” bao gồm cả giọng điệu, và giọng điệu lại bao gồm, khớp nối cả cách nói, còn cách nói thì lại bao gồm, với tư cách là nguyên mẫu và nguyên bản, cả động từ nguyên thể “tư duy” trên bề mặt siêu hình. Nhưng vậy thì giai đoạn nào trong ba giai đoạn của Deleuze, ba ngôn ngữ của ông hay “siêu ngôn ngữ” trong sự vận động theo tiến độ của Beckett hướng đến sự vét kiệt ngôn ngữ và/hoặc nghĩa? Ở đây chúng có một [siêu]-ngôn ngữ vẫn còn phảng phất truyền thống, tức là một ngôn ngữ duy lý hơn, có lẽ gần gũi hơn với động từ nguyên thể trên bề mặt siêu hình của cơ thể? – bằng cách đem lại phương thức cho các cấu hình vẫn còn ít được xác định một cách duy lý, vẫn còn chưa cụ thể của các “hình tượng”. Sau đó Beckett dường như vận động, theo cách đọc của Deleuze, trong tiến độ công trình sáng tạo của ông, theo hướng đối diện, lại một lần nữa, từ đó trong Logique du Sens (1969) mô hình phát-sinh-ngôn-ngữ: từ tính cụ thể lớn hơn hướng đến tính bất định lớn hơn, không phải tiến hóa, mà là thoái hóa như trong chính mô hình langue ngôn ngữ rung động. Điều đó dường như là tự nhiên đối với kẻ nghệ sĩ sáng tạo: duy trì việc khai thác ngày càng rộng hơn và sâu hơn, giữ cho rung động rời xa hơn khỏi điểm “cân bằng”, tiến gần hơn đến tạp âm bao quanh một phạm vi rộng nhất, hoặc có lẽ đến với náo loạn, hỗn độn Dionysien.    
 
Một lý thuyết hoặc mô hình chủ chốt trong lý thuyết thông tin dựa trên khoa học tự nhiên là ở mối tương tác liên tục giữa tiếng ồn và nghĩa. Ứ mứa tạp âm tất nhiên sẽ làm méo mó hoặc cắt đứt tín hiệu, nhưng lại nghịch lý ở chỗ quá ít tiếng ồn sẽ có khuynh hướng làm cho tín hiệu trở nên “quá rõ”, “quá hiệu quả”, dẫn đến một tình trạng ứ mứa trật tự, hoặc ứ mứa tín hiệu, ứ mứa nghĩa, để rồi cuối cùng dẫn đến tình trạng đông cứng của “điểm cân bằng tận biên”. Một tiền đề cơ bản của lý thuyết hỗn độn là tình trạng hỗn loạn, hỗn độn đó tự trật tự một cách tự nhiên, và trật tự, một khi đạt đến trạng thái ứ mứa trật tự, thông qua tình trạng bội lặp, thì nó lại tự nhiên suy đốn thành hỗn loạn. Michel Serres liên đối tình trạng bội lặp hoặc tự trật tự hóa ấy của các “hình thức” trong thế giới vật chất ứ mứa tình trạng lặp thừa logic như “A=A”, hoặc A=A=A=A=…., cuối cùng tất cả đều trở nên vô nghĩa vì nó nói với toàn chúng rằng “không có gì bọn này không biết”, như vậy “nghĩa là không có gì”, “là sự truyền đạt cái vô nghĩa cho toàn chúng”. Điều đó có thể có đôi chút giống với cái “Hữu thể” của Hegel trong đoạn mở đầu của Khoa học Logic, nó “có nghĩa là mọi thứ”, vì vậy “có nghĩa là Không có gì”. Đó chính là điều xảy ra với các thông điệp, kiểu như “màythếnàomàythếnàomàythếnào…”, những thông điệp chí ít không tối thiểu “tách rời nhau” bằng tạp âm: thông điệp trở nên quá rõ, quá logic, một ứ mứa vô nghĩa, một khối ù đặc hoặc một bề mặt mở rộng không cùng, là điều mà Serres trong Sáng thế đã gọi là hỗn độn trống rỗng khi đối lập với hỗn độn ù đặc của tình trạng hỗn loạn nguyên khởi. Vì vậy vấn đề cốt tử của hỗn độn và lý thuyết thông tin, hoặc truyền thông là một mức độ tối thiểu nào đó của tạp âm cần phải có để tái trật tự hoặc tái tạo sinh các tín hiệu, các nghĩa được truyền phát, để làm mới hoặc tái tạo sinh nghĩa bằng cách len-vào-giữa, tạo ra các không gian ở giữa
 
Giờ đây câu hỏi được đặt ra là: Làm thế nào mà điều này lại có thể là cách nhìn khác vào cái mà Deleuze dường như phải giải quyết bằng mô hình “cà lăm ngôn ngữ” của ông, chiếc máy langue ngôn ngữ rung động? Vấn đề lại là, bằng sự diễn giải kỹ thuật tự sự của Beckett, Deleuze, kẻ cũng đang “diễn giải văn chương” lại bắt đầu từ bên trong một loại mô hình hoặc biểu đồ ngôn ngữ-hoặc tựa lưng vào cơ-sở-ngôn-ngữ-học. Nhưng còn các phân-tử-từ hoặc các nguyên-tử-từ được tạo sinh, hoặc đang tạo sinh, bằng thơ Luca – “pas-rats, passions-rations, pas-passe-passion” – giờ đây là những tiếng ồn, xa hẳn điểm cân bằng, chứ không phải là các từ chuyển tải “nghĩa”. Điểm cực rung của chiếc máy làm giảm thiểu toàn bộ các từ có nghĩa thành các bộ phận từ vô nghĩa, các phân đoạn ngôn ngữ học, và đặc biệt là trong âm học: chiếc máy rung lắc các âm thanh một cách hiệu quả cho đến khi chúng bắt đầu quy giản thành những tiếng ồn hoặc làm méo mó âm thanh, âm nhạc chuẩn trên các kênh radio, chắc là giống hệt như cách quay đĩa số, thành trạng thái tĩnh, tiếng ồn. Nhưng đây là tạp âm: dựa vào cách đọc lý thuyết-thông tin/hỗn độn của Hắn Cà lăm, chiếc máy làm rung động các từ thành các phân tử vô nghĩa, các nguyên tử-từ, mà ở khởi điểm, trước khi chúng đã từng tự trật tự thành các từ có nghĩa, các từ tạo thành, hoặc xếp trật tự thành các câu duy lý của các mô hình ký hiệu học cổ điển. Chiếc máy rung lắc các câu/từ được xếp trật tự này, các âm thanh có nghĩa này thành tiếng ồn. Chính cách sử dụng hình thái, hoặc phép ẩn dụ, hoặc các “nguyên tử” và “sự rã hủy nguyên tử” sau rốt đã khới lên rằng có thể dễ dàng bắt đầu với một mô hình dựa trên các khoa học tự nhiên. Tất nhiên Luca là một thi bút nhân văn, Backett là một văn bút và kịch gia nhân văn, vì vậy mà bọn ấy không phải là những chiếc máy. Nhưng nếu kẻ nào muốn sử dụng một cách tiếp cận cực khách quan và có lẽ thậm chí còn ‘máy móc” nữa để soi sáng các phi phong cách kinh nghiệm luận cao, hiện đại luận cao hoặc vãn hiện đại luận, phi cú pháp và bất định, với tư cách nghĩa, của các văn bút này thì tại sao lại không thực sự bắt đầu với một mô hình được nhìn nhận một cách chính thường là cơ giới, phi nhân, và thực sự tự thân là một chiếc “máy”, “hệ thống” thi pháp tự thân?. 
 
Còn có một cách khác, cụ thể hơn, trong đó mô hình lý thuyết-thông tin tương hợp với phân tích của Deleuze trong Hắn Cà lămKẻ Kiệt lả. Ở một vài vấn đề, Deleuze lặp lại trong cả hai tiểu luận về ý tưởng cho rằng “cà lăm sáng tạo” cũng có nghĩa là “trưởng thành từ giữa”. Đây là hình thái của “dáng cung quăng”, vận cách kỳ cục của Watt, kẻ tiến về phía trước bằng cách lạ, giao động kiểu con lắc, giữa các hướng, quay trái, quay phải, hình thái của chiếc máy langue ngôn ngữ, với tư cách là, và cũng là một cơ-thể-không-bộ-phận. Vì vậy trong loại thi phú “phi cú pháp” cao, “quy trình của Beckett… như sau: ông tự đặt mình ở giữa câu và làm cho câu đó mọc vượt khỏi đoạn giữa, bằng cách thêm phân từ vào phân từ…đến mức dẫn dắt khối hơi thở hắt ra duy nhất… Cà lăm sáng tạo là cái làm cho ngôn ngữ mọc vượt từ điểm giữa, giống như cỏ vậy; nó là cái làm cho ngôn ngữ trở thành một thể rễ thay vì một cái cây, là cái đặt ngôn ngữ vào điểm bất cân bằng vĩnh viễn …” (Deleuze, Gilles 1997, 111). Nhưng ở trên đã lưu ý rằng trong mô hình, hoặc hình thái lý thuyết thông tin, tạp âm xuất hiện ở giữa hai tín hiệu có nghĩa tiềm tàng rõ ràng, cùng vận hành, hoặc “tự-phân chia”, “tự-lặp lại”, tự chia tách sao cho các nghĩa đơn của chúng trở nên rõ ràng; mặt khác, tín hiệu ứ mứa trật tự, ứ mứa hiệu quả đã kết nối mọi thứ lại với nhau thành một bloc khối vô nghĩa vì chẳng kẻ nào biết nó bắt đầu hoặc kết thúc ở đâu: “màythếnàomàythếnàomàythếnào…”, nếu nơi ấy nghệ thuật chấm câu xuất hiện, câu hỏi xuất hiện, thì có thể rất hữu ích. Điều đặc biệt đập mạnh vào tâm trí kẻ thủ bút tiểu luận này đó là sự tương hợp giữa cái phi phong cách thi ca của Luca hoặc Beckett và lý thuyết tái tạo sinh nghĩa bằng tiếng ồn “đứt đoạn ở giữa” là đây: trong cả hai trường hợp tiếng ồn rõ ràng hoặc vô nghĩa được kết hợp với yêu cầu nghĩa rõ ràng hơn, một nghĩa cuối cùng không trở nên vô nghĩa thông qua việc trở thành ứ mứa duy lý, ứ mứa logic. Vì những lặp lại của Luca như trong trường hợp “pas-rats” không phải là những lặp lại tuyệt đối, nên chúng là bộ phận của cái quá trình mà thông qua đó những gì hỗn độn tối tăm hoặc vừa mới phôi thai đã tạo thành trật tự đầu tiên. Trong mô hình của Deleuze cũng như trong lý thuyết thông tin-hỗn độn thì nghĩa được tạo ra bên ngoài tiếng ồn: với thơ của Beckett được tạo bởi việc “dẫn dắt khối hơi thở hắt ra duy nhất” theo các hướng thay thế hoặc đối lập” (Deleuze, Gilles 1997, 111) thì có thể giả định, như với nghệ thuật nói chung rằng một nghĩa, trật tự, mới được tạo ra bởi việc pha chế vừa đủ tiếng ồn để phá vỡ sự áp chế của “tình trạng ứ mứa nghĩa” duy lý và logic.
 
Điều đó cuối cùng đưa cả bọn đến điểm cân bằng tận biên, trạng thái kết cục khả thể, một trường hợp đặc biệt, của các hệ thống ứ mứa trật tự tiếp tục đánh mất hơi nóng, theo lý thuyết nhiệt động học, cho đến khi, vì một số kẻ nghĩ là sẽ chắc chắn xảy ra đối với vũ trụ đang mở rộng về phương diện entropy của toàn chúng, chúng bắt đầu “đông cứng.” Với các tín hiệu truyền thông, các thông điệp, thì điều đó có nghĩa là thông điệp nghĩa, hoặc thông điệp hệ thống nghĩa, có lẽ thuộc công nghệ điện toán, cuối cùng không bao giờ tái tạo sinh hoặc “tái khởi động”, mà đúng ra là nó bắt đầu “đông cứng” vì không đủ “tiếng ồn” để làm cho nó tan chảy, tái tạo nó bằng cách len-vào-giữa, tách nó thành các bộ phận. Quan điểm Deleuzien muộn rõ ràng cho việc so sánh ở đây là chiếc máy langue-ngôn ngữ rung động trong trạng thái cực điểm của nó, trong đó nó gần như vỡ tung hoặc ngừng rung và “đối đầu với khoảng nín thinh”. Nhưng điều đó rõ ràng đã được Deleuze gắn liền với phép thực hành “vét kiệt” của Beckett: phương thức của ông về việc vét kiệt ngôn ngữ và/hoặc nghĩa và/hoặc khả tính của chúng thông qua ba giai đoạn trong công trình sáng tạo của Deleuze. Tất nhiên vẫn có chút không rõ ràng là Beckett, trong thảo luận của Deleuze, đã thực hiện điều này bằng cách phá vỡ theo tiến độ, về phương diện entropy, như kẻ này đang khới lên, tối thiểu theo nghĩa biểu trưng, toàn bộ những khác biệt, nhưng bằng siêu ngôn ngữ I mà chúng phải có một “ngôn ngữ nguyên tử, tách rời, bị cắt nhỏ, bị chẻ vụn” và với ngôn ngữ II, chúng phải có một “ngôn ngữ …của các giọng điệu…không còn vận hành bằng các nguyên tử kết hợp, mà bằng các dòng lưu ngôn có thể pha trộn… Khi một kẻ vét kiệt bản thân các từ thì kẻ đó cũng làm khô cạn các dòng lưu ngôn” (Deleuze, Gilles 1997, 156). Còn đối với ngôn ngữ III, chúng gặp phải các “bế tắc”, các “khoảng trống”, và các “lỗ hổng” cũng như các “hình tượng”, nhưng bỗng xuất hiện ý tưởng lại bắt-đầu-len-vào-giữa: “Các bế tắc phải được giải quyết khi kẻ nào đó xét thấy rằng tận biên của hàng loạt vấn đề không nằm ở tính vô tận của các giới hạn, mà có thể ở bất kỳ nơi nào trong dòng lưu ngôn: giữa hai giới hạn, giữa hai giọng điệu hoặc những biến đổi của một giọng duy nhất” (Deleuze, Gilles 1997, 157). Và Deleuze bình luận liên quan đến loại thơ “khối hơi thở hắt ra duy nhất” của Beckett, mà “Chứng cà lăm sáng tạo là…cái đặt ngôn ngữ vào điểm bất cân bằng vĩnh viễn” (Deleuze, Gilles 1997, 111).
 
Cuối cùng nếu có một tình trạng mơ hồ, một tình trạng lưỡng nghĩa, một nghịch lý quyết định trong quan điểm của Deleuze về nghĩa/vô nghĩa trong mối quan hệ với vai trò hoặc ý nghĩa của nghệ thuật, thi ca, thì thực sự là loại thi pháp avant-garde, tiền phong, một loại thi pháp “vô nghĩa” và vì vậy mà là loại hình “cao nhất” hoặc “chân thực nhất” của thi ca hoặc poiesis thi pháp – để rồi cuối cùng chúng gặp phải chính tính mơ hồ như vậy trong lý thuyết thông tin. Vấn đề chủ chốt là ở chỗ ý nghĩa tạo ra ở giữa các dòng lưu ngôn, là sự vận động từ hỗn loạn đến trật tự, nhưng một khi trật tự đã được tạo hình thì nó lại bắt đầu trở nên hỗn loạn. Ý nghĩa này, hoặc nghĩa này luôn luôn nằm ở tận biên vô nghĩa, một nghĩa đang thành, hoặc một vô nghĩa đang thành, cho dù chúng đang nhìn về phía trước, đến hỗn loạn tiếng ồn, hoặc quay lại phía sau, đến chính loại hỗn loạn đó. Nhưng trong lý thuyết thông tin hỗn độn, chỉ có tiếng ồn, mà không có nín thinh – có lẽ ngoại trừ trường hợp đặc biệt, trong đó tình trạng ứ mứa trật tự gia nhập vào trạng thái đông cứng của điểm cân bằng tận biên, còn gọi là “điểm chết thông tin”, liệu có làm cho hệ thống thực sự chằm chằm, hệt như chiếc máy của Deleuze trong trạng thái bất cân bằng tối đa, nhìn vào khoảng nín thinh “vượt khỏi” bản thân nó?. Dường như không phải đến mức nó đã là khoảng nín thinh này; nhưng sau đó chúng có thể phải tự hỏi về trạng thái ứ mứa hỗn loạn giống hệt như trước. 
 
 Kết luận: Đặt vấn đề và Đặt thành vấn đề

Deleuze thường vòng trở lại với các tư tưởng hoặc các đề tài sớm hơn rồi mở rộng theo những hướng nhất định. Vì vậy ông đã thảo luận dưới dạng phôi thai hơn, cái khái niệm sau này của ông về “phi phong cách” trong các cuộc chuyện trò với Claire Parnet trong Đối khẩu II, Paris 1977: Những cái đang thành – chúng là sự vật khó thấy nhất, chúng là những hành vi chỉ có thể bao gồm trong một cuộc đời và được thể hiện bằng một phong cách. Các phong cách không phải là những cấu trúc, không là cái gì khác ngoài các lối sống. Trong phong cách không phải các từ là đáng quan tâm, cũng không phải là các câu, không phải các nhịp điệu và các hình thái. Trong cuộc đời, đó không phải là các tích truyện, không phải là các nguyên tắc, và cũng không phải là các hệ quả. Kẻ nào cũng có thể thay một từ bằng một từ khác. 30… Không có gì để hiểu, không có gì để diễn giải. Phong cách thuộc về mọi kẻ vẫn thường được nói đến “Chúng đâu có phong cách”. Đó không phải là một cấu trúc biểu nghĩa…Đó là một agencement sự sắp đặt việc phát ra âm thanh, sắp đặt énoncé nói ra. Mỗi phong cách luôn cố lắp bắp bằng một ngôn ngữ riêng. Nhưng phải có nhu cầu về chuỗi lắp bắt đó. Không phải là kẻ cà lăm trong khi nói, nhưng lại là kẻ cà lăm trong bản thân ngôn ngữ. (Deleuze, Gilles and Claire Parnet 2002, 3-4).

Ở đây thể hiện sự vận động tách khỏi nghĩa hoặc ý nghĩa , diễn giải, các “văn bản” như vẫn hiểu bằng ký hiệu học, [hậu] cấu trúc luận và phép tường giải, cũng như việc vận động hướng về phía năng lượng-sống thuần túy, hoặc sức-sống với tư cách là một thường nhật tính thông lệ, haecceity, như tính, tính này tầm thường của kẻ hiển nhiên “không phong cách”. 31 Đời sống thực, hành động, cơ thể “rộng lớn” hơn nhiều so với phong cách theo nghĩa truyền thống, không bị nó giới hạn. Và ngay trước đoạn trên trong “Một Câu chuyện: Đó là gì? Để làm gì?” toàn chúng được nhủ một cách đầy kịch tính rằng kẻ suy tư-bút giả sáng tạo, kiểu Deleuzien, sẽ không bị bất cứ khuôn thức nào hạn chế - kể cả các cuộc đối khẩu – mà sẽ hằng xuyên phá vỡ hoặc vượt bỏ, mở rộng mọi khuôn thức. Ngay ở đoạn đầu các đối khẩu của ông với Parnet, trước khi ả mở rộng khẩu đề, Deleuze đã gián tiếp biểu lộ nỗi quan ưu của mình đối với các “vấn đề” hơn là đối với các “câu hỏi”, trong đó các câu hỏi được nhìn nhận theo nghĩa các câu hỏi đối khẩu, hoặc chính xác hơn là các câu vấn khẩu, mà kẻ hỏi chỉ muốn kẻ đối khẩu để lộ thông tin: “Nếu kẻ đối khẩu không cho phép can thiệp vào câu hỏi của ả…nếu bọn đối khẩu “dựng” chúng lên trước mặt mình, mình không còn đường đối khẩu. Nghệ thuật tạo dựng một vấn đề là rất quan trọng: ả đưa ra một vấn đề, một vấn đề-lập trường, trước khi khới ra một giải pháp. Không hề có điều đó xảy ra trong một cuộc đối khẩu, một câu chuyện, một thảo luận…Mục đích không phải là trả lời các câu hỏi, nó phải qua đi, phải tống nó đi. Nhiều kẻ nghĩ rằng chỉ bằng cách quay trở lại với câu hỏi sao cho có thể tống nó đi được”. “Lập trường với triết học là gì? Liệu nó đã chết chưa? Mình sẽ vượt thoát nó?” Thực sự phải nỗ lực. Khối kẻ không thể ngừng quay về với câu hỏi để tống khứ nó đi. Nhưng tống khứ không bao giờ diễn ra theo cách đó. Vận động luôn luôn diễn ra sau lưng kẻ suy tư, hoặc trong chính vận động khi hắn nhắm mắt làm ngơ. Tống khứ đã xong hoặc sẽ chẳng bao giờ xong được.” (Deleuze, Gilles and Claire Parnet 2002, 1).
 
Deleuze không cho rằng có thể “tống khứ được” câu hỏi triết học, chẳng hạn, Triết học chết chưa?, hoặc cuối cùng thoát khỏi nó bằng cách trả lời nó – có lẽ vì chẳng kẻ nào có thể đưa ra được một câu trả lời cuối cùng hoặc hoàn chỉnh, những câu hỏi như vậy chắc chắn là nước đôi và kết mở. Vì vậy hắn thà vọt thoát khỏi nó ngay từ đầu, tếch lên một tuyến bay khi cơ thể vẫn đang cung quăng, rung động. Mặt khác, kẻ suy tư nặn ra các vấn đề cho chính hắn, mà không tiền giả định bất cứ câu trả lời hoặc giải pháp tối hậu nào; bản thân Deleuze dường như đã thấy nhiều vấn đề hơn là chỉ một loại tập hoặc tập hợp, một mạng thể rễ với một loạt khả năng trả lời cần được xem xét hoặc phải theo đuổi (Deleuze, Gilles1968). 32 Trong khi “câu hỏi” xuất phát từ căn nguyên “truy tìm”, “kiếm một lời đáp”, còn vấn đề là các πρόβλημα “trở ngại” mà bọn quan ưu đối mặt và phải giải quyết hoặc vượt qua. Πρόβλημα theo nghĩa đen là “ném lên phía trước”, “vật đặt ở phía trước”: bằng cách nào đó chúng phải giải quyết, chẳng hạn phá bỏ, vượt qua, hoặc vòng tránh các trở ngại luôn luôn xuất hiện trước mặt. 
 
Khi đạt đến được khái niệm “câu hỏi” hoặc “vấn đề”, mà ở đây “câu hỏi” lại có thể tốt hơn, cho dù Deleuze không thích các câu hỏi, từ một góc độ hơi khác, một góc độ không đặc trưng Deleuzien, thì có kẻ tự hỏi phải chăng có thể so sánh được lối cà lăm hoặc kiểu rung động của chiếc máy langue ngôn ngữ - một hình thái mà Deleuze sáng tạo ra về phương diện thi pháp, với tư cách là một bộ phận của lý thuyết ngôn ngữ “có vấn đề” của ông – với sự rung động hoặc thay thế nhanh giữa hỏi-và-đáp trong cách nói chính thường của bất cứ kẻ nào, và cả trong tư duy dựa trên cơ sở ngôn ngữ. Sau rốt, điều đó dường như cũng giống hệt một loại “cà lăm” và một thứ làm tầng nền cho tư duy và ngôn ngữ ở cấp độ cơ bản nhất: kẻ nào cũng bị sốc, bị bối rối hoặc lẫn lộn vì một thứ gì đó, tức là kẻ nào cũng gặp phải câu hỏi/vấn đề, vì kẻ nào cũng muốn biết, muốn có câu trả lời cho chúng. Cái mà ngôn ngữ cũng như tư duy của chúng, ở cả cấp độ hàng ngày, cụ thể nhất và “tư biện”, trừu tượng nhất, thì vẫn bằng cách nào đó đặt nền tảng trong sự rung động/thay thế cho câu hỏi-trả lời trở nên rõ ràng khi chúng thấy, có lẽ trong bất cứ khẩu ngữ nào, bất cứ câu-phán đoán nào có thể cũng được viết [lại] tối thiểu như một câu hỏi, và ngược lại.
 
Hơn nữa, sức mạnh sinh học của giọng nói quay trở lại với cuộc chơi ở đây bằng một cách thức quan trọng. Trong mọi langue ngôn ngữ thì câu nghi vấn đều được nói bằng một ngữ điệu khác, đặc biệt là ở cuối câu, so với câu tường thuật, có lẽ bằng cách quay trở lại với thời đại của các tổ tiên động vật và động thái không tư duy của quần lũ đó, bị sốc, bị choáng hoặc được sướng, bị hoảng loạn khi phản xạ ngay lập tức, khi hoàn toàn bị mất cân bằng, xa hẳn điểm cân bằng. Phản ứng này còn sượng, mới chỉ là tiền ngôn ngữ, hầu như không hẳn là âm thanh vô nghĩa của “Á?” hay “Ú?” hoặc cách biểu hiện khác nào đó của việc hiểu, kiểm soát hơi thở, một âm thanh nguyên tử, đơn âm tiết nào khác, hoặc tiếng ồn với ngữ điệu phát lộ “nhạc tính”.
 
Nhưng cũng có thể có một loại không gian vấn tính, một không gian ảo rộng mở vô tận mà nhiều kẻ gia nhập khi chúng tự cho phép mình bằng tư duy siêu hình sáng tạo, là cái thực sự có nghĩa bằng một loại đặt vấn đề tư biện. Chúng tạo ra các khái niệm với tư cách là một phương thức giải thích vấn đề, nhưng cũng còn với tư cách trả lời câu hỏi. Vậy thì câu hỏi sẽ trở thành: Mối quan hệ khả thể của một không gian vấn tính như vậy đối với không gian khả kiệt, và/hoặc đối với không gian của tự thân langue ngôn ngữ là gì? Liệu các không gian này có đồng dạng? Liệu cả không gian vấn tính lẫn không gian langue ngôn ngữ có khả kiệt? Không gian nào có tiềm năng mở rộng, vọt khỏi hoặc bao chứa được các không gian khác? Có nghĩa là không gian nào có thể bất khả kiệt”?
_________________________________________

Người dịch : Hà Hữu nga

ND*: Người dịch chú thích

 Tác giả: Frank Stevenson, Tiến sĩ Triết học, Giảng viên Văn học và Lý thuyết Văn học tại Khoa Anh văn, Đại học Quốc gia Đài Loan.
 
Nguồn: Stretching Language to Its Limit: Deleuze and the Problem of Poiesis.

Published in Concentric: Literary and Cultural Studies 35.1 March 2009: 77-108.

 
Chú thích:

 1 “Điều nghịch lý được lặp lại trong tiểu luận của Deleuze, Kẻ Kiệt lả. Văn bản tự nhiên liên quan đến sự vét kiệt ngôn ngữ trong các kịch truyền hình của Beckett…tức là quan điểm ngôn ngữ ngứn tới tận biên, biến mất…Nhưng trong tiểu luận này, Deleuze đã gặp phải một loại văn bản chỉ có dạng ngôn ngữ tàn dư còn lại bởi việc cấu trúc một lý thuyết ngôn ngữ của nó, có lẽ vắng mặt.

2 Deleuze chết năm 1995; bản dịch tiếng Anh năm 1993 của Editions de Minuit Essays xuất hiện năm 1997.
 
3 Ngữ đoạn ngây thơ “mô hình cà lăm” thể hiện một sự lưỡng nghĩa chủ chốt Deleuzien vì nó vừa có nghĩa một “mô hình về động thái cà lăm” vừa có nghĩa một mô hình “tự thân cà lăm”.
 
4 Olkowski ghi chú rằng mots-d’ordre có thể vừa “đem lại trật tự” lại vừa “đưa sự vật vào trật tự” (Olkowski, Dorothea 1999, 229-230).
 
5 “Hai kiểu vận hành” này có thể chính xác hơn là các vận hành ngôn ngữ học tách rời và vận hành khớp nối; xem thảo luận tiếp theo về mô hình trục đúp này. Nhưng ở đây dường như Deleuze đưa, cả về phương diện ẩn dụ lẫn hoán dụ, sự “rung động”, tự thân là một chuyển động nhanh trở đi trở về theo hai hướng đối diện, cùng với hai trục của chiếc máy langue ngôn ngữ rộng lớn này vào thế lưỡng hoặc rung động nghĩa, langue ngôn ngữ, cách nói duy thi tính, và khoảng nín thinh.
 
6 Trong “Một Tiền bối Không được Heidegger Thừa nhận: Alfred Jarry” của Deleuze thì quá khứ xa xôi của một ngôn ngữ xuất hiện trong trò chơi thông qua từ nguyên học của nó, giờ đây đang vận hành như một ngôn ngữ kẻ ngoại trong chính nó. “Dưới xung lực của sự tác động, ngôn ngữ của chúng họ đã bắt đầu xuay tít, và trong khi xuay tít, nó tạo ra một ngôn ngữ của tương lai…” (Deleuze, Gilles, 1997, 98).
 
7 Vấn đề này thể hiện rõ ràng hơn trong “mô hình thử nghiệm” sớm cho lý thuyết đó, như có thể thấy trong Chương 5 của Mille Plateaux,1980; xem thảo luận ở phần sau.
 
8 Một kẻ nghĩ về Heidegger, phụ bản cho nhận xét của Lecercle cho rằng “Cà lăm…là …một sự lưỡng nghĩa của ngôn ngữ thi ca. Vấn đề là ở chỗ đó là một câu trả lời siêu hình cho một câu hỏi siêu hình, tại sao lại có ngôn ngữ thay vì không có gì?” (Lecercle, Jean-Jacques 2002, 234). Heidegger để mở hoàn toàn trong Nhập môn Siêu hình học bằng cách nói rằng: “Câu hỏi cơ bản của siêu hình học là “Tại sao lại có các hiện hữu, mà không phải là Hư vô?”
 
9 Lecercle cũng giành toàn bộ một phần cuốn sách để chỉ ra rằng có nhiền cách thức “phi thi ca” đơn giản hơn nhiều trong việc hiểu cùng những hiệu quả “sự rung động” hoặc “làm-méo-mó-ngôn-ngữ” mà Deleuze quy vào một thi pháp phi cú pháp hoặc “ngôn ngữ thi ca”: đó là những câu “chính xác” về phương diện cú pháp, mà vì việc bất cẩn trong duy trì thời hạn ngữ nghĩa hoặc vì sự cố mà bằng nhiều cách khác nhau đã trở thành nghịch lý, hoặc vô nghĩa, điều đó khới lên rằng ở vị trí hàng đầu langue ngôn ngữ làm “chúng cà lăm”, mà không phải là chúng “làm cà lăm một thi bút” (Lecercle, Jean-Jacques 2002, 235-239).
 
10 Có lẽ ngoại trừ trường hợp đặc biệt về cân bằng tận biên, mà trạng thái entropy, đông cứng của nó có thể được xem là “nín thinh”; sau đó câu hỏi nổi lên là liệu chúng có thể so sánh điều đó với trạng thái rung tối đa của langue ngôn ngữ. Xem thảo luận ở dưới.
 
11 Xem thảo luận sau đây về một cuộc đối khẩu với Deleuze, trong Negotiations, sau khi Mille Plateaux được xuất bản năm 1982.
 
12 Deleuze giới thiệu điều này bằng hình thái tự sự học cà lăm, không có các nhân vật tiểu thuyết, nhưng lại có bản thân các tiểu thuyết gia: “Tên văn bút trở thành kẻ cà lăm về ngôn ngữ. Hắn làm cho ngôn ngữ cũng cà lăm như thường: một ngôn ngữ tăng cường và đầy tác động, mà không còn sự tác động của kẻ nói” (Lecercle, Jean-Jacques 2002, 107, 109).
 
13 Chẳng hạn: “Deleuze cũng chia sẻ một niềm tin cùng Chomsky – mặc dù với một ý nghĩa hơi khác: ông tin vào tính tập trung của cú pháp” (Lecercle, Jean-Jacques 2002, 223); “Kiểu cà lăm của Deleuze tiền giả định, để lật nhào, phương thức cấu trúc chính của ngôn ngữ hệ thống, sự đối lập giữa hệ mẫu dọc và các ngữ đoạn ngang…Deleuze quy giá trị đáng kể … vào phương thức phân tích cú pháp bị xem thường này” (Lecercle, Jean-Jacques 2002, 232).
 
14 Dường như có lẽ Deleuze đang nói về một viễn tượng rất lạ đối với langue ngôn ngữ ở đây, khi nhìn nó như một bloc khối liên tục trong đó cá nhân các từ cũng giống như các sự vật và các nguyên tử, một bloc khối có thể đập vỡ thành các bộ phận nguyên tử như là có thể làm với các đối tượng vật chất vậy. Chúng có ý định coi các sự vật có kích cỡ trung bình như những ngôi nhà, ô tô, cơ thể như là các toàn thể hoàn thiện, hơn là coi toàn bộ thế giới, hoặc thậm chí một thành phố, mà tất cả những vật trên là các bộ phận; và tất nhiên chúng không thể coi các phân tử và nguyên tử là cái mà chúng được cấu thành. Deleuze có lẽ cũng khới lên rằng chúng có ý định coi ngôn ngữ là một vật chính thường, có kích cỡ trung bình theo nghĩa này, nhưng ông lại buộc nó coi nó như một tổng thể rộng lớn, mà ở cực khác hoặc cung giao động khác, có thể đập vỡ thành các phần tử nhỏ nhất. Nhưng đó là mô hình/chiếc máy lèo lái sự “cạn kiệt của langue ngôn ngữ” trong Kẻ Kiệt lả, vì vậy cần quay trở lại với nó trong phần tới.
 
15 Hoặc Deleuze: “Mỗi trạng thái khả biến…có khuynh hướng hướng đến một tận biên là thứ không còn… mang tính ngữ pháp…: vì vậy công thức của Luca, ‘je t’aime passionnément,’…bùng nổ giống như một tiếng gào thét ở tận biên của hàng loạt tiếng cà lăm dài” (Lecercle, Jean-Jacques 2002, 112).
 
16 Có lẽ phi phong cách cũng có thể có nghĩa là phi thi tính theo nghĩa thi tính sự cố khi chứng điên loạn có thể cũng mang tính thi ca về phương diện sự cố. Lecercle trích dẫn đoạn này từ Mille Plateaux: “Đó chính là những gì mà phong cách là, hoặc đúng hơn, sự vắng mặt của phong cách – phi cú pháp, phi ngữ pháp: vận động khi ngôn ngữ không còn bị giới hạn bởi cái mà nó nói, thậm chí bởi cái đã làm cho nó trở thành một vật biểu nghĩa, chỉ là cách làm cho nó vận động, trôi chảy và bùng nổ - khát vọng. Vì văn học giống như chứng tâm thần phân liệt: một quá trình, không mục đích, một sản phẩm không thể hiện” (Lecercle, Jean-Jacques 2002, 222).
 
17 Trong các ghi chú Phần I ở cuối công trình Disjecta, một chữ được dịch từ tiếng Đức, Beckett nói: “Vì không thể thanh toán được toàn bộ ngôn ngữ ngay lập tức, nên chí ít cũng cần không để lại bất cứ cái gì chưa được làm, khiến có thể góp phần làm cho nó rơi vào tình trạng mang tiếng xấu. Để khoan một cái lỗ tiếp theo một cái lỗ khác, đến khi cái ẩn sau nó – là một cái gì đó hoặc không là gì cả - bắt đầu ngấm qua; thật không thể tưởng tượng được một mục đích cao hơn đối với một văn bút ngày nay” (Beckett, Samuel 1984, 172).
 
18 Deleuze nói trong Hắn Cà lăm: “Và hệt như loại ngôn ngữ mới không phải là kẻ ngoại đối với ngôn ngữ nguyên khởi, tận biên phi cú pháp cũng không phải là kẻ ngoại đối với ngôn ngữ với tư cách là một tổng thể: nó là cái bên ngoài ngôn ngữ, nhưng không ở bên ngoài nó” (Deleuze, Gilles 1997,112). Cho dù coi vấn đề này là cái bên ngoài hoặc bề mặt bên trong, đường biên, của ranh giới bên ngoài của ngôn ngữ, thì ngôn ngữ mới giờ đây, giống như một kẻ ngoại, đang tạo thành bên trong ngôn ngữ cũ với tư cách là những quá trình tự chuyển hóa hoặc những cuộc “thay lông” của ngôn ngữ cũ, và còn, vật tương tự?, “tận biên phi cú pháp”, giờ đây trở thành ranh giới bên ngoài này. 
 
19 Bình luận của Deleuze cho rằng Discours, Figure của Lyotard “đàn áp mối quan hệ giữa cái biểu nghĩa và cái được biểu nghĩa hướng đến cái bên ngoài và cái bên trong của diễn ngôn” bằng cách làm cho “từ trở thành một vật hữu hình” (Deleuze, Gilles 2004,114), cùng khới lên một viễn cảnh ẩn dụ, một viễn cảnh giống như việc nghe/nhìn thấy “khoảng lặng thinh” ở “phía khác”, thậm chí dường như hư ảo.
 
20 “Cách tiến đi của Watt về đúng phía đông …là quay ngực xa hết cỡ về phía bắc, và đồng thời tung chân phải xa hết cỡ về hướng nam, sau đó quay ngực xa hết cỡ về phía nam, đồng thời tung chân xa hết cỡ về hướng bắc, rồi lại như vậy…rồi lại như vậy…và rồi lại thế, cứ thế…cho đến khi hắn chạm tới điểm cuối cùng…Cặp đầu gối, vì vậy, không thể gập lại được. Chúng có thể gập lại, nhưng chúng không gập” (Beckett, Watt (London: Picador, 1988,30-31). Câu cuối cùng đưa ta đến tận biên rộng lớn nhất của toàn bộ diễn ngôn tự sự này, cái diễn ngôn của các khả tính thuần túy logic, diễn ngôn của cái có thể hoặc không thể xảy ra, hệt như mô tả cách bước đi của Watt quy giản nó vào “hình thức” logic thiết yếu nhất của nó. Dễ thấy sự kết hợp các khả tính logic-tự sự và không gian thiết yếu nhất trong mô tả nan đề của ông Hackett: “Ông Heckett không biết liệu ông nên tiếp tục đi hoặc ông nên quay trở lại. Không gian mở ở phía tay phải ông, và mở ở phía tay trái ông…Ông cũng biết ông sẽ không còn bất động …Vì vậy nan đề là tính cực kỳ đơn giản: đi tiếp hoặc quay qua, và trở lại…con đường ông đã bắt đầu” (Beckett, Watt (London: Picador, 1988, 7-8). Việc “đi tiếp” báo trước tuyến đường nổi tiếng từ tam đoạn luận vừa rồi: “Tôi không thể đi tiếp…Tôi không thể đi tiếp… Tôi không thể đi tiếp… Tôi không thể đi tiếp… Tôi không thể đi tiếp… Tôi đi tiếp…” – hình thức thuần túy nhất của nỗi tuyệt vọng siêu hình.
 
21 Chẳng hạn suy tư của Watt về “những sắp xếp giờ ăn của ông Knott”: “Mười hai khả năng xảy ra với Watt trong sự tiếp nối này: 1. Ông Knott chịu trách nhiệm về việc sắp xếp, và biết rằng ông chịu trách nhiệm về việc sắp xếp, và biết rằng sự sắp xếp như vậy là có và là nội dung. 2. Ông Knott không chịu trách nhiệm về việc sắp xếp, nhưng lại biết rõ kẻ chịu trách nhiệm về việc sắp xếp, và biết rằng sự sắp xếp như vậy là có và là nội dung…” (Beckett, Watt (London: Picador, 1988, 99). Beckett vận động xuyên qua mười hai phép hoán vị, bằng cách duy trì thuật ngữ thứ tư “và là nội dung” một cách hằng xuyên. Ở đây ta gặp một sự diễu nhại không chỉ về logic hình thức, mà, như với trường hợp nan đề Hackett, về các ẩn ý siêu hình của nó: Ông Knott, Not – Không, có thể là Chúa, kẻ là “nội dung” khi ông nhìn vào các “công trình” của mình ở điểm khởi đầu của Sáng thế, hoặc có lẽ cái “nguyên lý về lý do đầy đủ” kiểu Leibnizien; “sự sắp xếp này” có thể là cái thuộc về vũ trụ. Trong đoạn diễu nhại này, thông qua việc quy giản vào cõi trần tục ngớ ngẩn, của diễn ngôn siêu hình-logic, logic của tự thân các hoán vị vét kiệt đã trở thành “chủ đề” tự sự.  
 
22 Xem các ghi chú 17, 18, 19. Vì việc thảo luận về phi phong cách của Beckett như là một việc làm-hết hoặc “vét kiệt” các khả tính logic trong Watt, kẻ sử dụng hình tượng một “ma trận số vô tỷ”, các con số vô lý, từ tiểu thuyết ban đầu Murphy, xem Stevenson, “Sự vét kiệt Phong cách trong Tiểu thuyết sớm của Beckett”.
 
23 Thông thường những tách rời duy nhất – cần phải chọn cả A hoặc B, hoặc C, nhưng không chọn chỉ một trong số chúng, bằng cách vét kiệt toàn bộ các khả tính – trở thành bao gồm khi cách xa hẳn điểm cân bằng trong mô hình Hắn Cà lăm, mặc dù ở đó nó được giải thích là sự “tự phân chia” của các từ, hoặc có lẽ của khối-ngôn ngữ như một từ bao quát. Deleuze nói rằng “Toàn bộ cái oeuvre công trình của Beckett bị xâm chiếm bởi hàng loạt vét kiệt, có nghĩa là loạt vét kiệt – đặc biệt nhất là Watt, với hàng loạt chiếc tất chân, tất dài-tất ngắn; ủng-dày-dép lê, hoặc đồ gỗ, tủ ngăn kéo cao, bàn trang điểm, bô tiểu đêm, giá rửa mặt; trên chân của nó, trên đầu của nó, trên mặt của nó, trên lưng của nó, trên sườn của nó; giường-cửa ra vào – cửa sổ-bếp: mười lăm nghìn loại sắp xếp (154). Ghi chú của Deleuze ở đây là: “Beckett, Watt (London: Picador, 1988), trang 200-1, 204-6. François Martel đã thực hiện một nghiên cứu rất nghiêm túc về khoa học tổ hợp, về cấp số và những tách rời trong Watt: “Các trò chơi hình thức trong Watt”, Poétique 10 (1972). Xem Samuel Beckett, Malone Dies (New York: Grove, 1956) 4: “Mọi vật đều chia thành tự thân chúng”. (Note 11, Deleuze, Gilles 1997,202).
 
24 Ghi chú riêng của Deleuze: “Beckett, Ill Seen, Ill Said, in Nohow On, p. 93.” (Deleuze, Gilles 1997,203).
 
25 Lý thuyết những thế giới khả thể được phát triển từ ký hiệu học ngôn ngữ-logic của các kẻ tư duy như Meinong và Hintikka, đều cho rằng cái thực sự có thể được thể hiện bằng một ngôn ngữ, ngôn ngữ học, hoặc logic, thì thực sự có thể khả thể trong một thế giới nào đó. Tuy nhiên, giờ đây, chẳng hạn như các nhà ký hiệu học Saussure hoặc Chomsky, không coi ngôn ngữ là một “trung gian phổ quát” mà đúng ra là một “phép tính”, vì việc đập vỡ sự tách biệt logic-ngôn ngữ học. Như Thomas Martin đã chỉ ra trong Thi pháp và các Thế giới Khả thể, “bọn lý thuyết gia các thế giới khả thể xác quyết rằng thay vì một trung gian bất khả xâm phạm, thì ngôn ngữ là một phép tính có thể tái diễn giải vận hành tự nhiên như một siêu ngôn ngữ” (76); Martin cũng nhấn mạnh tầm quan trọng tiềm tàng của các lý thuyết về các thế giới khả thể đối với thi ca và các lý thuyết văn học coi phép ẩn dụ như một sức mạnh “vượt qua được”, hoặc sự “mở rộng” có thể đóng một vai trò hữu thể luận (133ff.) Những kết nối khả thể với mô hình thi pháp muộn của Deleuze có thể được tìm thấy ở đây.
 
26 Trong trường hợp này không có ghi chú trích nguồn của người biên tập.
 
27 Xem ghi chú 24.
 
28 Mặc dù có thể là một phép lặp thừa logic khi nói rằng “Việc vét kiệt toàn bộ nghĩa sẽ không có ý nghĩa” vì một khi nó bị vét kiệt thì không còn nghĩa để mà tạo ra nữa. Đây có lẽ cũng là quan điểm của Beckett và Deleuze.
 
29 Đối với Deleuze và Guattari trong Mille Plateaux thì âm nhạc là quá trình giải lãnh thổ hóa của các “thanh âm động vật” hoặc “cách nói động vật”, ngôn ngữ dụng pháp để giao tiếp của tất cả động vật bao gồm cả con người. Nhưng điều này có thể có nghĩa nhiều về giải thân thuộc hóa, như trong lý thuyết hình thức “nghệ thuật” của người Nga, hơn là “tinh lọc” hoặc “hài hòa hóa” trong một dãy hẹp hơn, hoặc “tinh lọc” với tư cách là “nghệ thuật đang thành”.
 
30 Quá nhiều đối với phong cách như mot juste từ đúng của Flaubert.
 
31 Tính này đặc biệt, duy nhất của một sự vật hoặc con người, theo nghĩa trung cổ của từ haecceity được Daniel Smith gắn chặt với “đời sống” của một người trong phần Giới thiệu các Tiểu luận muộn của Deleuze: “Những đối tượng tri giác này là cái mà Woolf gọi là “các thời khắc của thế giới”, và cái mà Deleuze gọi là haecceity tính này, tính cái gì, trong đó phương thức cá nhân hóa của một cuộc đời không khác về thực chất với phương thức của một loại “khí hậu”, một “ngọn gió”, một “đám sương mù”, hoặc “một giờ trong ngày” (xxxiv).
 
32 Một cách đọc “lý thuyết đặt vấn đề” mới phôi thai hoặc chưa được phát triển của Deleuze trong Différence et Répétition lại một lần nữa thuộc về khuôn viên của một mô hình hoặc biểu đồ có hai trục: đó là trục dọc-thời gian và trục ngang-thời gian. Mỗi câu hỏi có sự xuất hiện theo trục dọc, tiềm năng, tới tương lai có một câu trả lời thực sự, dễ thấy nhất khi nghĩ về một câu hỏi dự báo như trong các giả thuyết khoa học. Mặt khác, ở mỗi điểm theo trục dọc thời gian cần phải dừng lại để xem xét mạng khả thể tính, có lẽ là hình bộ rễ, giờ đây được thể hiện trên một bề mặt bình diện rộng. Trong Différence et Répétition một mô hình như vậy rõ ràng gắn liền với diễn giải của Deleuze về sự trở lại vĩnh viễn của Nietzsche với tư cách là sự trở lại khác biệt: sự tái diễn theo thời gian trục dọc của trò ném đĩa, trong đó mỗi cú ném là một cuộc bùng nổ, trên bề mặt của các khả tính. Rõ ràng nó cũng liên hệ chặt chẽ với mô hình sau này trong Logic of Sense (1969) về Αιων quãng đời, bề mặt phẳng thời gian, động từ, các sự kiện ảo, và Χρόνος kẻ huyên náo, tuyến tính, hoặc thời gian theo trục dọc, cũng có các “chiều sâu”.
 
Tài liệu Tham khảo

Beckett, Samuel 1984. Disjecta: Miscellaneous Writings and a Dramatic Fragment. Ed. Ruby Cohn. New York: Grove.

 
Deleuze, Gilles 1968. Différence et Répétition, Paris: Presses Universitaires de France.
 
Deleuze, Gilles 1990. The Logic of Sense. Ed. C. V. Boundas. Trans. Mark Lester. New York: Columbia UP, 1990.
 
Deleuze, Gilles 1993. Critique et clinique. Editions de Minuit, Paris.
 
Deleuze, Gilles 1995. Negotiations: 1972-1990. Trans. Martin Joughin. New York: Columbia UP.
 
Deleuze, Gilles 1997. Essays Critical and Clinical. Trans. D.W. Smith and M. A. Greco. Minneapolis: University of Minnesota P.
 
Deleuze, Gilles 2004. Desert Islands and Other Texts: 1953-1974. Ed. D. Lapoujade. Trans. M. Taormina. New York: Semiotext(e), 2004.
 
Deleuze, Gilles and Claire Parnet 2002. Dialogues II. New York: Columbia UP, 2002.
 
Deleuze, Gilles and Félix Guattari 1987. A Thousand Plateaus. Trans. Brian Massumi. Minneapolis: University of Minnesota P, 1987.
 
Jakobson, Roman 1987. Language in Literature. Cambridge: Harvard UP.
 
Lecercle, Jean-Jacques 2002. Deleuze and Language. New York: Palgrave Macmillan.
 
Martin, Thomas L. 2004. Poiesis and Possible Worlds. Toronto: U of Toronto P.
 
Olkowski, Dorothea 1999. Gilles Deleuze and the Ruin of Representation. Berkeley: University of California P.
 
Saussure, Ferdinand de 1966. Course in General Linguistics. New York: McGraw Hill.
 
Serres, Michel 1995. Genesis. Trans. G. James and J. Nielsen. Ann Arbor: University of Michigan P.
 
Stevenson, Frank 1997. “Exhaustion of Style in Beckett’s Early Fiction.” Studies in English Literature and Linguistics: 39-65.