Văn hóa Nghệ An

Hội nghị lần thứ IV, BCH Trung ương Đảng khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nguồn: Tạp chí Tuyên giáo

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”[1]. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực sự trở thành người lãnh đạo, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, từng bước đi lên, làm nên những kỳ tích vĩ đại, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đáp ứng khát vọng của nhân dân Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Năm 1960, tại diễn văn kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, khi khái quát những thành tựu đã đạt được, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!

Những năm 20 của thế kỷ trước, trong thân phận đất nước nô lệ dưới ách thống trị của phong kiến và chủ nghĩa thực dân Pháp, xã hội ta khi ấy rất cần có một cuộc cách mạng giải phóng nhưng vì thiếu đường lối, phương hướng, tổ chức đúng đắn nên chưa thể thực hiện được. Trong bối cảnh lịch sử ấy, năm 1911, Việt Nam xuất hiện một người thanh niên, dũng cảm sang phương Tây để tìm con đường cứu nước khác các bậc cha chú. Đó là Nguyễn Tất Thành, sau này trở thành lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại.

Trong những năm 1921-1929, khi Nguyễn Tất Thành còn bôn ba hải ngoại, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập và tìm đường giải phóng dân tộc thì trong nước đã có 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng (17-6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (mùa thu 1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (1-1-1930). Ba tổ chức cùng theo chủ nghĩa cộng sản, cùng có mục đích đấu tranh chống đế quốc phong kiến, giành độc lập cho đất nước, nhưng chia rẽ, không kết thành một khối mà còn tranh giành ảnh hưởng, đả kích lẫn nhau.

Ngày 27-10-1921, Nguyễn Ái Quốc, thành viên tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, hoạt động trong tổ chức cộng sản quốc tế; được Quốc tế cộng sản phái về làm nhiệm vụ tập hợp các tổ chức cộng sản ở Đông Dương thành một đảng thống nhất. Như vậy, để có một đảng cách mạng chân chính thống nhất làm nên sự nghiệp vĩ đại như ngày nay thì ngay từ trong trứng nước, trong phôi thai, những người cộng sản Việt Nam đã phải dũng cảm vượt lên chính mình để khắc phục tệ bè phái, cục bộ.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930. Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản diễn ra từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, nay là Hồng Kông, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Các thành viên hội nghị gồm Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh (đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng), Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm (đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng). Ngày 24-2-1930 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn tự nguyện và được chấp nhận tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một dấu mốc quan trọng của sự trưởng thành, tự vượt qua chính mình, thành một tổ chức thống nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam. Lần đầu tiên đảng cách mạng nước ta có một Cương lĩnh, một Sách lược và một bản Điều lệ đúng đắn, ngắn gọn, có tầm nhìn xa, tuy nó chỉ khiêm tốn gọi là những văn bản tóm tắt. Về nhiệm vụ cách mạng, Cương lĩnh nêu rõ chủ trương chiến lược có hai cấp độ, hai bước đi, trước tiên là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng” để làm cơ sở, sau đó mới “đi tới xã hội cộng sản” và nhiệm vụ cách mạng là: Đánh đổ thực dân Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập. Sức mạnh của cuộc cách mạng ấy bao gồm một tập hợp tất cả các giai cấp, các dân tộc đa số và thiểu số, các lực lượng tiến bộ, các nhà yêu nước; công nhân, dân cày nghèo, trí thức, tiểu tư sản, trung nông, phú nông, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc… Rõ ràng về chiến lược, sách lược, mục tiêu trước mắt và lâu dài, lực lượng cách mạng, quan hệ giai cấp và dân tộc, những vấn đề cốt tử của một đảng chân chính cách mạng ở Việt Nam đã được giải quyết rất đúng đắn, sáng suốt ngay từ buổi đầu mang tầm vóc lớn dẫn đến sự biến đổi cả một dân tộc.

Tháng 10-1930, đồng chí Trần Phú từ Liên Xô về nước, bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, được giao nhiệm vụ, soạn thảo Cương lĩnh mới thay thế các văn bản của Hội nghị thành lập Đảng ngày 3-2, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sau khi có Cương lĩnh chính trị tháng 10-1930, dưới sự lãnh đạo và hy sinh anh dũng kế tiếp nhau của những người cộng sản, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra như cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, khởi nghĩa Nam kỳ… Tuy thất bại, hy sinh to lớn nhưng những tấm gương yêu nước sáng ngời của Đảng đã góp phần thức tỉnh tinh thần và khí phách dân tộc. Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vượt qua nhiều sóng gió, nhiều mất mát to lớn, hy sinh anh dũng, có cả những sai lầm, vấp váp nhưng không bao giờ gục ngã, vượt qua mọi trở lực khách quan và chủ quan để tiến về phía trước!

Tháng 3-1938, sau khi các đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập hy sinh thì đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Năm đó đồng chí mới 26 tuổi. Tác phẩm Tự chỉ trích của đồng chí Nguyễn Văn Cừ là một tác phẩm lý luận nổi tiếng, một sự dũng cảm công khai tự chỉ trích, dám nhận khuyết điểm với một xác tín và quyết tâm sửa chữa để tạo nên sức mạnh vượt lên, tiến về phía trước của những người chiến sĩ tiên phong, quyết tâm lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi. Tác phẩm đã chỉ rõ: Người cộng sản có bổn phận nói sự thật với quần chúng, dẫn đường cho quần chúng, không phải theo đuôi họ, hay phỉnh họ… Và dẫu cho có sai lầm, có thất bại thì phải có can đảm nhìn sự thật… Chúng ta không bao giờ có thể đổ lỗi rằng nguyên nhân thất bại là do quân thù đàn áp và cử tri chưa giác ngộ. Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan mà chính ta gây ra, chính ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Mùa xuân năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài về đến Cao Bằng. Từ ngày 10 đến 19-5-1941, Người cùng Quyền Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8. Hội nghị này có tầm vóc lớn như một đại hội. Những vấn đề lý luận cơ bản nhất của cách mạng nước ta thời kỳ này đã được giải quyết sáng tỏ, khắc phục những biểu hiện của bệnh “ấu trĩ tả khuynh” đã mắc phải. Đó là mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp; giữa dân tộc và dân chủ, giữa chiến lược và sách lược… Một luận điểm lớn mà Hội nghị này xác lập đã có giá trị tạo nên sức mạnh làm biến đổi cả các dân tộc Đông Dương là: Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.

Nghị quyết thể hiện quyết tâm khơi dậy tinh thần dân tộc, truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm của tổ tiên ta, tạo thành một mặt trận thống nhất, cả dân tộc cùng nhau xây dựng lực lượng vũ trang tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Từ đó phong trào cách mạng trong Nhân dân lên rất cao. Nắm chắc tình hình thế giới và trong nước, Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ thị lịch sử “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chủ trương và quyết định sáng suốt của Thường vụ Trung ương Đảng đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một Nhà nước Dân chủ Nhân dân đầu tiên của Việt Nam, một thể chế dân chủ đầu tiên của Đông Nam Á.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng tiến hành từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951. Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” của Tổng Bí thư Trường Chinh là một văn kiện lịch sử quan trọng, đã bổ sung, phát triển hoàn chỉnh lý luận về cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân của Đảng ta. Hồ Chí Minh và Đại hội đã gọi đó là Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam.

Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm, tận lực phụng vụ Tổ quốc và Nhân dân. Như vậy, Đảng Lao động Việt Nam phải là một Đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là một. Chính vì vậy Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam.

Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng. Chính vì thế sau này Hồ Chí Minh đã viết: Chủ nghĩa Mác - Lênin là lực lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo Đảng, “làm cho Đảng… trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc”. Đảng Lao động Việt Nam đã tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi.

Năm 1954, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, hòa bình vừa được lập lại trên miền Bắc, trong xây dựng đất nước, Đảng mắc một sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Đúng như tiên lượng thiên tài của C.Mác, những người cách mạng vừa giành được một thắng lợi mới thì do không có kinh nghiệm, ngay lập tức họ lại tự tạo ra một trở lực mới phải vượt qua. Đảng đã lắng nghe phản ứng của Nhân dân, nhận ra sai lầm, kiên quyết sửa chữa, kỷ luật nghiêm khắc, thay đổi Tổng Bí thư và cách chức một số cán bộ cao cấp của Đảng…

Dám nhận ra sai lầm để cố gắng sửa chữa là một sự sáng suốt. Từ trong sự vấp ngã đau đớn lại tìm cách đứng lên đòi hỏi một tầm trí tuệ cao, nắm vững các quy luật khách quan với một sự vượt lên trên những tư duy bình thường. V.I.Lênin đã từng nói, người thông minh nào cũng đều có thể phạm sai lầm, nhưng biết nhanh chóng nhận ra sai lầm, tìm nguyên nhân và đề ra chủ trương, biện pháp khắc phục có hiệu quả, người đó là người thông minh. Sự vĩ đại của vĩ nhân và các chính đảng được sản sinh chính từ sự thông minh ấy. Đảng Lao động Việt Nam dũng cảm nhận sai lầm, quyết sửa sai và sửa sai có kết quả bằng một sự thông minh như thế. Từ trong sai lầm, vấp ngã, Đảng đứng dậy và lại được sự lượng thứ, bao dung và ủng hộ của Nhân dân. Đảng với Nhân dân lại kết thành một khối vững chắc.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam đã bầu đồng chí Hồ Chí Minh tiếp tục làm Chủ tịch Đảng và bầu đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương. Đảng lãnh đạo Nhân dân tiếp tục làm cuộc kháng chiến vĩ đại “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Khi non sông vừa mới liền một dải, Đảng lại phải lãnh đạo quân dân cả nước tiếp tục chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, đánh bại kẻ thù mới vô cùng gian manh và độc ác.

Ngày 2-9-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh vào cõi vĩnh hằng. Người ra đi để lại Bản Di chúc lịch sử như một Cương lĩnh tổng quát xây dựng đất nước sau ngày thống nhất.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Lao động Việt Nam tiến hành từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đổi tên nước từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyết định đường lối chiến lược xây dựng nước Việt Nam tiến nhanh, tiến mạnh, vững chắc đi lên CNXH.

Trải qua 10 năm, hai nhiệm kỳ Đại hội IV tiếp đến giữa nhiệm kỳ Đại hội V của Đảng đều do đồng chí Lê Duẩn làm Tổng Bí thư cho đến khi đồng chí từ trần ngày 10-7-1986. Đồng chí Trường Chinh được cử giữ chức Tổng Bí thư. Dưới sự chủ trì của đồng chí, Đảng đã nhận rõ do chủ quan, nóng vội, duy ý chí nên Đảng đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam lại một lần nữa dũng cảm nhận ra sai lầm và đề xuất Đường lối đổi mới, khẳng định: Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết, có ý nghĩa sống còn. Từ Đại hội VI (1986) tới Đại hội X (năm 2006), đã qua 5 nhiệm kỳ (lần lượt do các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư. Từ Đại hội XI (2011), Đại hội XII (2016) và Đại hội XIII (2021) do đồng chí Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư,

Để khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa hoàn toàn bị đẩy lùi, 3 Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) được ban hành với quyết tâm chính trị rất cao nhằm chỉnh đốn Đảng, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm làm suy thoái Đảng, mất lòng tin của Nhân dân, có nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Ba nghị quyết ấy đã đi vào cuộc sống, tạo sự chuyển biến tích cực, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng. Một lần nữa, sự vĩ đại của Đảng chính là ở sự tự chỉ trích, tự phê bình, dũng cảm tẩy rửa khỏi đầu óc và cơ thể mình những sai lầm, thậm chí dũng cảm đưa những cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao khi phạm sai lầm, có tội ra khỏi Đảng.

92 năm - một chặng đường dài, đã bao lần đứng trước nguy nan, trải nhiều thăng trầm, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vững vàng tiến bước. Bởi trong mọi tình huống, Đảng luôn bình tĩnh, sáng suốt tiến hành tự chỉ trích, tự chỉnh đốn, tự đổi mới. Từ trong vấp ngã, sai lầm, Đảng tiếp tục tiến lên. Sự vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, sức mạnh để Đảng trở nên vĩ đại chính là như thế!

Không ai khác, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói tại Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam đã khẳng định: “Đảng ta thật là vĩ đại”, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”[2], 8 năm sau (năm 1968), trước khi qua đời một năm, Người tiếp tục khẳng định: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[3]. Chống nghĩa cá nhân - kẻ thù bên trong của mỗi cán bộ, đảng viên là cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ, nhiều khi đau đớn, nhưng đó chính là nỗi đau để trở thành vĩ đại. Không có gì làm cho ta vĩ đại hơn là cơn đau vĩ đại ấy, cơn đau của sự sinh thành và phát triển.

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và các Hội Nghị Trung ương Đảng đã đề ra các chủ trương, chính sách mới với quyết tâm chính trị rất cao. Đảng ta đang quyết tâm vượt qua chính mình để tiếp tục làm nên những thành tựu vĩ đại mới, vì Nhân dân, vì đất nước!

 


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tập12,  tr . 406.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr. 403.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr. 672.

Thông tin bổ sung

Lễ phát động hưởng ứng Ngày sách và văn hóa đọc Việt Nam, cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc tỉnh Nghệ An năm 2022 được tổ chức tại huyện Đô Lương. Ảnh: Ngọc Mai

Xác định vai trò quan trọng của xây dựng môi trường văn hóa (MTVH) trong mọi hoạt động, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến xây dựng và phát triển đời sống văn hóa; gìn giữ những giá trị di sản văn hóa tạo sự gắn kết cộng đồng; bồi đắp giá trị chân - thiện - mỹ của con người làm hạt nhân cơ bản cho sự phát triển xã hội để phát triển đất nước bền vững.

1. Tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường văn hóa cơ sở

Theo các chuyên gia văn hóa, MTVH được xem như “thiên nhiên” thứ hai, là vườn ươm tạo nên nhân cách văn hóa của con người từ chính mỗi cộng đồng. MTVH có ý nghĩa đặc biệt trong hình thành nhân cách con người; là cơ sở để tạo một xã hội tốt đẹp, hạnh phúc và đáng sống; là nguồn tài nguyên văn hóa, xã hội và kinh tế đặc biệt… Do đó, MTVH cơ sở có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển bền vững của đất nước. MTVH lành mạnh là cơ sở để phát triển kinh tế, bình ổn xã hội, cân bằng môi trường. MTVH bị tổn thương sẽ làm trầm trọng thêm sự bất ổn trong xã hội, dẫn đến những hệ lụy khó lường.

Ở Việt Nam, MTVH được hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm nên luôn có sự bảo lưu các yếu tố truyền thống và sự hiện diện các yếu tố mới, hiện đại. Cảnh quan văn hóa là yếu tố dễ nhận biết sự pha trộn giữa truyền thống và hiện đại. Các sinh hoạt văn hóa cũng thay đổi không ngừng, lễ hội truyền thống thay đổi về thời gian, không gian, quy mô... Các thiết chế văn hóa truyền thống được bổ sung bằng các thiết chế văn hóa hiện đại. Đáng chú ý, sự tiếp thu các ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài là tất yếu đối với hầu hết các MTVH. Trong xu thế mở cửa, hội nhập và công nghệ số phát triển, yếu tố văn hóa nước ngoài có điều kiện tác động sâu rộng đến các loại MTVH ở nước ta, từ các sinh hoạt văn hóa, tư tưởng đến lối sống, nếp sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng.

Xây dựng MTVH cơ sở lành mạnh là quá trình gìn giữ, lan tỏa các giá trị, chuẩn mực văn hóa của gia đình, cộng đồng, quốc gia, tạo điều kiện cho các giá trị văn hóa tốt đẹp, nhân văn nảy nở, ngăn ngừa và loại bỏ tiêu cực, phản văn hóa không phù hợp, hoặc làm tổn hại đến các giá trị, chuẩn mực văn hóa. Theo đó, cần phát huy vai trò của các cộng đồng, nhóm cộng đồng, nơi mỗi gia đình sinh sống để xây dựng MTVH. Bởi MTVH ở các địa bàn dân cư có ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân cũng như sự lành mạnh của MTVH gia đình….

Nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của MTVH trong đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghị quyết 33 của Đảng đã đưa ra những nội dung cơ bản, bao quát nhất của công cuộc xây dựng MTVH, với ba MTVH quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và hoàn thiện nhân cách con người, cũng như củng cố và phát triển văn hóa: Xây dựng MTVH gia đình; xây dựng MTVH trong nhà trường; xây dựng MTVH trong cộng đồng và xã hội. Tuy nhiên, đây là những nội dung lớn mang tính định hướng cho công cuộc xây dựng MTVH nói chung. Đối với từng không gian, MTVH cụ thể cần phải có sự vận dụng, phát triển, mở rộng, cụ thể hóa thì mới phù hợp và tương thích. 

2. Thực trạng về xây dựng MTVH cơ sở của nước ta thời gian qua

2.1. Thành tựu đã đạt được trong xây dựng MTVH cơ sở cần được phát huy và lan tỏa

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đạt được nhiều kết quả tích cực

 Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được triển khai thực hiện đồng bộ, toàn diện, là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng MTVH lành mạnh từ cơ sở. Tại các địa phương, ngày càng xuất hiện nhiều nhân tố mới về điển hình tiên tiến trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Phong trào đã mang tính toàn diện, được khẳng định trong cuộc sống và có ý nghĩa chính trị - xã hội, nhân văn sâu sắc; đồng thời, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò và động lực của văn hóa đối với sự phát triển bền vững đất nước; nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể, các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội về trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển. Nhiều giá trị văn hóa, các quy định pháp luật và quy chế, quy tắc ứng xử văn hóa ngày càng thẩm thấu vào đời sống, tạo dựng môi trường sống lành mạnh cho cộng đồng dân cư, mỗi gia đình và cá nhân.

Phong trào đã có tác động tích cực đến phát triển kinh tế và văn hóa - xã hội một cách bền vững. Truyền thống đoàn kết và đạo lý dân tộc được phát huy, trở thành nội lực giúp nhau “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn, đáp nghĩa”; xây dựng con người về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nếp sống được chú trọng, vai trò và vị trí của gia đình và cộng đồng được nâng lên; tình làng, nghĩa xóm được củng cố. Nhiều giá trị văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát huy, làm phong phú đời sống văn hóa của người dân.

Nếp sống văn hóa, đạo đức, lối sống ngày càng được chú trọng xây dựng và phát huy hiệu quả.

Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội trên địa bàn cả nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, kịp thời đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, hạn chế và đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực, những hủ tục lạc hậu. Nhiều địa phương đã tổ chức cưới, tang văn minh, tiết kiệm, gọn nhẹ, giảm bớt các hủ tục phiền hà, nhiều nét văn hóa mới được phát huy, như tổ chức các đám cưới không hút thuốc, xuất hiện mô hình tổ chức các đám cưới tập thể… Việc xây dựng đạo đức, lối sống ngày càng được chú trọng; xuất hiện nhiều tấm gương đạo đức, hành động xả thân vì xã hội, dũng cảm cứu người trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh COVID-19,...

Việc giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ngày càng đi vào chiều sâu

Các giá trị, chuẩn mực cốt lõi của văn hóa, của MTVH được gìn giữ, phát huy; các giá trị mới, chuẩn mực mới từng bước được hình thành, hoàn thiện; nhiều giá trị di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của Nhân dân được quan tâm; truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng được phát huy; các sản phẩm văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân; công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng, đẩy mạnh, góp phần đáng kể vào việc xây dựng, từng bước hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân, góp phần xây dựng MTVH trong sạch, lành mạnh. Hệ thống di sản văn hóa được khai thác, gắn kết việc đẩy mạnh xây dựng MTVH, xây dựng đời sống văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.

Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa từng bước được nâng cao

Trung tâm văn hóa xóm 6, xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Ảnh: Ngọc Mai

Thiết chế văn hóa có vai trò quan trọng để tổ chức các hoạt động văn hóa cho Nhân dân, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt chung của cộng đồng; qua đó, cộng đồng tổ chức xây dựng và tổ chức thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương... Hiện nay, trên toàn quốc, đặc biệt ở địa bàn cấp huyện, cấp xã (phường, thị trấn) hầu hết đều có trung tâm văn hóa, hoặc nhà văn hóa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các thôn, bản, buôn, làng, ấp có nhà văn hóa... Với độ bao phủ và sự năng động, tích cực trong việc phát huy vai trò của các thiết chế, hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ sở ở nhiều nơi đã thực sự trở thành trung tâm hoạt động văn hóa, thể thao, bồi dưỡng nghiệp vụ, là hạt nhân có tác động tích cực nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân trên địa bàn; góp phần vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội,... phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, định hướng thẩm mĩ lành mạnh cho Nhân dân địa phương.

2.2. Những bất cập, hạn chế trong xây dựng MTVH cơ sở cần khắc phục trong thời gian tới

Chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” chưa thật sự bền vững

Chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng, thôn, ấp, bản, buôn văn hóa chưa vững chắc và đồng đều giữa các vùng, vẫn còn có biểu hiện chạy theo thành tích và số lượng, chưa chú ý nâng cao chất lượng. Chất lượng các danh hiệu văn hóa, như gia đình văn hóa, làng văn hóa, thôn, ấp, bản văn hóa ở nhiều nơi còn hạn chế; chưa phát huy hiệu quả và hấp dẫn được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

Việc xây dựng và thực hiện nếp sống văn hóa vẫn còn một số bất cập

Công tác quản lý và tổ chức một số lễ hội còn bộc lộ những yếu kém. Có biểu hiện thương mại hóa trong lễ hội, lợi dụng lễ hội để trục lợi, ... Trong việc hiếu, hỉ, vẫn còn hiện tượng tổ chức đám cưới linh đình, tốn kém; lối sống, nếp sống văn hóa truyền thống tốt đẹp đang có biểu hiện suy giảm…

Vẫn còn biểu hiện xuống cấp, suy thoái về đạo đức, lối sống, gây nên những bức xúc, tạo hệ lụy xấu trong đời sống xã hội. Văn hóa ứng xử giữa con người với tự nhiên còn nhiều hạn chế, khiến môi trường sinh thái bị xâm hại. Môi trường thiên nhiên bị hủy hoại ngày càng tác động tiêu cực trở lại đến đời sống của con người, như hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn, triều cường, nước biển dâng, sạt lở núi, đồi, sạt lở ven sông, ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Mối quan hệ giữa con người với con người cũng chưa được chú ý đúng mức. Quan hệ giữa người và người dễ bị lấn át, che khuất trong các mối quan hệ trao đổi hàng - tiền, tiền - tiền, tiền và vật chất,... đã vô tình tạo ra cách nhìn nhận và đánh giá con người thông qua giá trị của cải vật chất, mà không phải là giá trị tình cảm trong sáng, nhân văn vốn là vốn quý trong đạo đức, lối sống truyền thống mà cha ông ta đã để lại.

Tệ nạn xã hội gia tăng, gây hậu quả nghiêm trọngTỷ lệ thanh thiếu niên gây ra các vụ án ngày một tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng. Tình trạng bạo hành gia đình, bạo lực học đường, xâm phạm trẻ em... vẫn là những vấn đề nóng trong xã hội. Đặc biệt, ở một số vùng nông thôn, phụ nữ và trẻ em vẫn là những đối tượng chính trong các vụ án mua bán người. Các tệ nạn xã hội, như cờ bạc, buôn lậu, mua bán trái phép chất ma túy, cá độ, tín dụng đen, cho vay nặng lãi... hoạt động ngày một tinh vi và thách thức cán bộ quản lý, gây nên những bức xúc trong xã hội. Vẫn còn hiện tượng du nhập, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, hoạt động thiếu lành mạnh thông qua các cơ sở dịch vụ văn hóa, như vũ trường, karaoke, in-tơ-nét công cộng...

Tính ổn định, bền vững của những giá trị truyền thống tích cực trong đời sống văn hóa chưa cao

Tốc độ đô thị hóa, xu thế nông thôn hóa thành thị đang phá vỡ nền tảng văn hóa truyền thống, nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị xói mòn hoặc bị phá vỡ như giá trị văn hóa làng, xã. Sự bền vững của nền tảng gia đình truyền thống bị lay chuyển, bản sắc văn hóa có nguy cơ suy giảm; các giá trị văn hóa trong gia đình, dòng họ, làng, xã có biểu hiện ngày càng đi xuống; từ đó, ảnh hưởng tới việc nuôi dưỡng và rèn luyện nhân cách con người. Sự phân cực giàu nghèo, biến đổi khí hậu, tình trạng ô nhiễm môi trường sống vẫn tồn tại đã và đang làm biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân, khiến cho cuộc sống thường ngày của người dân bị ảnh hưởng.

Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa gặp nhiều khó khăn, bấp cập; nhiều di sản văn hóa bị xuống cấp, bị xâm phạm, ảnh hưởng tới sự tôn nghiêm của di sản. Nhiều phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của các dân tộc bị ảnh hưởng do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa làm mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc, vùng, miền. Một số phong tục, tập quán cũ không còn phù hợp, trong khi đó các giá trị văn hóa mới chậm hình thành, chưa được khẳng định trong đời sống xã hội hiện nay; một số hình thức văn hóa, lối sống không lành mạnh thâm nhập về nông thôn, làm mất đi nét đẹp mang tính văn hóa truyền thống làng, xã ở nông thôn.

3. Giải pháp về xây dựng MTVH cơ sở đáp ứng phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của MTVH cơ sở đối với sự phát triển bền vững; khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng vươn lên, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng XHCN.

Hai là,phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị trong tăng cường công tác quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về xây dựng MTVH cơ sở lành mạnh, tiến bộ, hướng tới việc bảo vệ các giá trị, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa tốt đẹp, bảo vệ, tôn trọng quyền làm chủ của người khác, của cộng đồng. Thông qua vai trò quản lý nhà nước, xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, dùng luật pháp để điều chỉnh hành vi con người cho phù hợp, nhằm dần trở thành ý thức tự giác của mỗi người, hướng tới thực hiện chuẩn mực về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa.

Giao lưu mô hình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở gắn với nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu ở xóm 6, xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, Nghệ An.                                                             Ảnh: Ngọc Mai

Ba là, chú trọng xây dựng MTVH cơ sở lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa, nhất là đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ những giá trị “chân - thiện - mỹ”.Đồng thời, có chính sách phát triển văn hóa tương ứng với phát triển kinh tế, đầu tư về nguồn lực con người, nguồn lực tài chính nhằm hoàn thiện các thể chế, thiết chế văn hóa phục vụ xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

Bốn là, nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện chế độ tôn vinh khen thưởng kịp thời. Chú trọng các phong trào hạt nhân, như phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa và phong trào thi đua người tốt, việc tốt và các điển hình tiên tiến. Thường xuyên chú trọng công tác tôn vinh, khen thưởng những điển hình tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, lối sống, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Tiếp tục đẩy mạnh việc nêu gương người tốt, việc tốt; lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực; đồng thời, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống.

Năm là, Xây dựng và triển khai các chương trình, đề án trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa và các di sản văn hóa phi vật thể đã được ghi danh trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, quốc tế. Khuyến khích thu hút các nguồn lực xã hội hóa trong công tác trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa.

Sáu là, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng MTVH gắn với xây dựng môi trường kinh tế - xã hội. Sự kết hợp giữa MTVH và môi trường kinh tế - xã hội đều nhằm đạt tới sự lành mạnh, tiến bộ, phát triển của con người và xã hội. Do đó, cần phải thực hiện nghiên cứu khoa học, kiểm kê, đánh giá tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, nếp sống truyền thống, để trên cơ sở đó, cái gì tốt thì kế thừa, cái gì xấu, cản trở sự phát triển phải loại ra khỏi đời sống thực tiễn.

Hiện nay, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, để xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần tiếp thu những giá trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa, văn minh tiến bộ của các dân tộc; đồng thời, phải chống lại những yếu tố phản động, đồi trụy, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc đang tác động vào MTVH của chúng ta. Hướng đích, tạo nguồn lực nội sinh mạnh mẽ đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu năm 2030 “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao”[1].

 

 

(Bài đã đăng Văn hóa Thể thao Nghệ An Số 7/tháng 12/2022)

 


[1] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H.2021, tập I, tr.36.

Thông tin bổ sung

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ảnh: TL

Cách đây tròn 50 năm (27/01/1973 - 27/01/2023), Hiệp định Paris được ký kết, đây là một thắng lợi đỉnh cao của Mặt trận ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Cuộc đàm phán Paris kéo dài và quyết liệt. Việc triệu tập hội nghị và ký kết Hiệp định Paris là kết quả của cuộc đấu trí, đấu lực trên chiến trường và trên bàn đàm phán, thể hiện phương thức giải quyết chiến tranh của cả Việt Nam và Mỹ trong bối cảnh cụ thể của mỗi nước và tình hình quốc tế lúc bấy giờ.

Ngày 27/01/1973, tại Paris, Thủ đô nước Cộng hòa Pháp, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ VNDCCH, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Hoa Kỳ, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ký chính thức hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Về phía Mỹ, nền ngoại giao rất hùng mạnh, có nhiều kinh nghiệm trên các vấn đề quốc tế. Mỹ có chiến lược đàm phán rõ ràng: Dùng đàm phán kết hợp với thế mạnh áp đảo trên chiến trường để buộc VNDCCH phải chấm dứt ủng hộ Nhân dân và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, giữ chế độ Sài Gòn trong phạm vi ảnh hưởng của Mỹ. Trong khi đó, ngoại giao Việt Nam rất non trẻ. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), từ chiến khu trở về Hà Nội, ngoại giao Việt Nam hầu như “tay trắng”, không có các nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Trên tinh thần vừa làm, vừa học hỏi, các nhà ngoại giao của Việt Nam đến Paris với ý thức dân tộc và ngoại giao đạo lý để chống chọi với ngoại giao trên thế mạnh của Hoa Kỳ.

Từ năm 1968 đến năm 1973, Hiệp định Paris đã trải qua 201 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn và đã có hàng nghìn cuộc mít tinh chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam. Việt Nam kiên trì đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân mà không được đòi điều kiện gì. Hoa Kỳ không ngừng đòi hỏi hai bên cùng rút quân, khôi phục Khu phi quân sự để cắt đường tiếp tế từ miền Bắc vào Nam. Phía Hoa Kỳ nhấn mạnh khẩu hiệu “hai bên cùng xuống thang chiến tranh” nhưng suốt 4 năm, họ không giành được kết quả nào. Phía Việt Nam không đưa khẩu hiệu đó, nhưng xoáy vào thế khó của Mỹ, đã nhiều lần tìm cách kéo được Mỹ xuống thang đơn phương.

Năm 1967, Hà Nội dùng đòn ngoại giao đòi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc để đàm phán, tạo sức ép lớn. Rồi đòn Tết Mậu Thân tác động mạnh, Mỹ buộc phải xuống thang, hạn chế ném bom miền Bắc (31/3/1968). Tháng 10/1968, lợi dụng khó khăn và yêu cầu của chính quyền Johnson trong năm bầu cử, đàm phán đã đưa tới thỏa thuận Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom VNDCCH. Từ năm 1969, Việt Nam bước vào thời kỳ vừa chiến đấu, vừa củng cố lực lượng. Phía Mỹ bắt đầu chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Mặt trận ngoại giao thời điểm này có nhiệm vụ chủ yếu là đẩy địch xuống thang một bước trên chiến trường chính, ép Mỹ đơn phương rút một bộ phận quân Mỹ.

Sau 3 năm kiên trì đấu tranh, phía Mỹ chấp nhận đơn phương rút trên 400.000 quân, mở ra một thế trận mới thuận lợi cho Quân Giải phóng. Trong quá trình đàm phán, Mỹ luôn đòi “hai bên cùng rút quân”. Nhưng đến mùa Thu 1971, trong đề nghị hòa bình ngày 10/11/1971, phía Mỹ đành gác lại yêu sách đòi “hai bên cùng rút quân”. Những thắng lợi từng bước đó cùng với thắng lợi cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972 đã tạo thời cơ để Việt Nam đưa đàm phán đi vào thực chất từ tháng 7/1972.

Tháng 8/1972, với những toan tính mới, Mỹ cùng với chính quyền Sài Gòn hoãn không thời hạn các phiên họp tại Hội nghị Paris. Mặc dù vậy, Mỹ và VNDCCH vẫn duy trì các cuộc tiếp xúc bí mật. Đến tháng 10/1972, hai bên đã tháo gỡ được những vấn đề khúc mắc và hoàn thành “Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh” và “Dự thảo về thỏa thuận quyền tự quyết của Nhân dân miền Nam”. Nắm vững phương châm “Vừa đánh, vừa đàm” nhằm kéo Mỹ xuống thang, giành thắng lợi từng bước và lợi dụng sức ép của dư luận đối với Richard Nixon đang tăng lên từng ngày trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, tại Hội nghị Paris, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, ta mềm dẻo trong sách lược, kịp thời và chủ động đưa ra những đề xuất mới. Tổng thống Nixon và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trao đổi công hàm nhất trí với nội dung văn bản Hiệp định; đồng thời thỏa thuận việc Kissinger sẽ đi Hà Nội và ký tắt Hiệp định trong thời gian từ ngày 24 đến ngày 31/10/1972.

Tuy nhiên, ngày 25/10/1972, Mỹ lật lọng, không ký tắt văn bản Hiệp định theo dự kiến. Nixon gửi công hàm đề nghị hai bên có cuộc họp riêng để bàn thêm một số vấn đề và báo hoãn chuyến đi của Kissinger đến Hà Nội. Ngày 26/10/1972, Chính phủ VNDCCH cho công bố các văn kiện và đòi Mỹ phải ký Hiệp định theo thời gian đã thỏa thuận. Dư luận nước Mỹ và quốc tế lại tăng cường gây sức ép với chính quyền Nixon.

Với nỗ lực không để đàm phán bế tắc, từ ngày 20/11/1972 đến ngày 13/12/1972, cuộc họp hai bên VNDCCH và Mỹ lại tiếp tục, hoàn chỉnh văn bản, trừ vấn đề qua lại Khu phi quân sự phải tạm gác để xin ký kiến của lãnh đạo hai phía. Thế nhưng, trái với thỏa thuận mà phía Mỹ đã cam kết, Nixon lật lọng, trì hoãn việc ký kết Hiệp định để vượt qua tuyển cử và đề nghị sửa đổi những điều khoản cơ bản của dự thảo Hiệp định. Hơn thế, để buộc ta phải khuất phục và chấp nhận những điều kiện do phía Mỹ đưa ra trên bàn đàm phán, tập đoàn cầm quyền Mỹ ra lệnh mở cuộc tập kích chiến lược, sử dụng một lực lượng lớn không quân chiến lược và chiến thuật ồ ạt đánh phá dữ dội Hải Phòng, Hà Nội và nhiều nơi khác trên miền Bắc vào những ngày cuối năm 1972.

Hành động quân sự tàn bạo này của Mỹ bị cả loài người mạnh mẽ lên án. Bằng trí thông minh và lòng quả cảm, quân và dân ta ở miền Bắc đã giáng trả đích đáng, bắn rơi nhiều “pháo đài bay” B-52 và nhiều máy bay chiến thuật Mỹ, làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” đập tan cố gắng quân sự cuối cùng và đánh bại âm mưu đàm phán trên thế mạnh của Mỹ.

Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Paris làm cho Nhân dân thế giới hiểu rõ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến và thiện chí hòa bình của Nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và chính quyền tay sai, đã góp phần quan trọng tạo nên phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam. Phong trào đã có tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ. Sau thất bại trong những toan tính cả về chính trị, quân sự, ngoại giao, đế quốc Mỹ buộc phải trở lại đàm phán, ký kết Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Với việc Hiệp định Paris được ký kết, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã giành được thắng lợi to lớn, có ý nghĩa quyết định xu thế phát triển tất thắng của cách mạng miền Nam Việt Nam, đánh dấu một giai đoạn cách mạng rất vẻ vang của dân tộc, mở ra cho cách mạng miền Nam một giai đoạn mới: Hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.

Thắng lợi của Hiệp định Pari và Hội nghị Pari đã phản ánh tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ chân lý, giành độc lập, tự do của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội nghị Pari và Hiệp định Pari mãi mãi đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và lịch sử ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ. Hiệp định Pari còn là minh chứng tất yếu của sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới. Đồng thời, đây cũng là sự khẳng định tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, qua đó khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong mỗi người Việt Nam, nhất là đối với thế hệ trẻ hiện nay.

Thắng lợi của Hiệp định Pari và Hội nghị Pari cách đây vừa tròn 50 năm đã để lại nhiều bài học sâu sắc, những bài học đó đã tiếp sức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hôm nay thêm vững tin bước vào giai đoạn phát triển mới với những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen. Thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về đối ngoại và hợp tác quốc tế: Nâng cao năng lực hội nhập, thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế, các hiệp định thương mại tự do; lồng ghép với các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Phát huy hơn nữa ngoại giao văn hóa, đóng góp thiết thực vào quảng bá mạnh mẽ hình ảnh quốc gia và tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Thông tin bổ sung

 

Một mùa Xuân mới lại về! Xuân Quý Mão 2023 Đảng ta tròn 93 tuổi xuân, là mùa Xuân thứ 48 non sông thống nhất, nước non liền một dải và cũng là 54 năm Bác đi xa. Mừng Xuân Quý Mão, mừng Đảng quang vinh, mừng đất nước đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta tiếp tục nỗ lực phấn đấu để điều mong muốn cuối cùng của Bác thành hiện thực.

Cách đây 54 năm, mùa Thu năm 1969, Bác Hồ về với thế giới người hiền. Trong Bản Di chúc lịch sử - Quốc bảo để xây dựng đất nước sau khi kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Bác viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện tâm nguyện của Bác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã kiên cường đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước vào mùa Xuân 1975. Xuân Quý Mão 2023 là mùa Xuân thứ 48 kể từ ngày thống nhất đất nước, non sông Việt Nam đã có biết bao đổi thay. Nhất là, sau hơn 35 năm đất nước đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn, cơ đồ, tiềm lực vị thế, uy tín quốc tế của nước ta ngày càng nâng cao.

Tuy nhiên, bên cạnh niềm hân hoan, phấn khởi khi được báo cáo trước anh linh của Bác về sự phát triển tiến bộ và ổn định xã hội của đất nước sau hơn 35 năm qua, trong mỗi chúng ta hầu như đều cảm thấy còn có lỗi với Bác vì “một bộ phận không nhỏ” đã không nghiêm túc tuân theo những lời dạy ân tình mà Bác thường xuyên căn dặn cán bộ, đảng viên.

Chúng ta thấy có lỗi với Người khi: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”. Thực trạng này “làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”; và  “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên không chỉ làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ, mà quan trọng hơn là đòi hỏi toàn Đảng phải nghiêm túc nhìn nhận, nỗ lực phấn đấu để khắc phục, tiếp tục lãnh đạo đất nước phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để khắc phục được tình trạng này, chúng ta không nên phát động quá nhiều những cuộc vận động tốn kém và hình thức, mà chỉ nên thực sự đối chiếu hành động của từng người theo những lời căn dặn thấu lý đạt tình của Bác Hồ đã chỉ ra cách đây gần 80 năm.

Ngày 17/9/1945, Bác chỉ rõ: “Cán bộ ta nhiều người cúc cung tận tụy, hết lòng trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có nhiều người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là vì công vinh tư. Thậm chí dùng phép công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể. Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động. Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay…”.

Tháng 10/1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác viết: “Ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế Đảng mới nhanh chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”…

Bác còn nêu nhiều thứ “bệnh” phải sửa chữa. Đó là: “Bệnh nể nang”, làm ngơ trước sai lầm của người quen biết, họ hàng, thân thích; “Bệnh tham lam”, tự tư tự lợi, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích dân tộc, “Bệnh lười biếng”, tự cho mình là cái gì cũng biết, việc gì cũng giỏi, lười suy nghĩ, lười học tập, giành lấy việc dễ, đẩy việc khó cho người; “Bệnh kiêu ngạo”, tự cao tự đại, ham địa vị, danh vọng, hay lên mặt, thích được tâng bốc; “Bệnh hiếu danh”, tự cho mình là anh hùng, quan trọng, không chịu làm những công tác thiết thực; “thiếu kỷ luật”, đặt mình lên trên tổ chức, thích sao làm vậy; “óc hẹp hòi”, khinh người, không cân nhắc người tốt, sợ người ta hơn mình…

Bác nói những chứng bệnh trên bắt nguồn từ “Bệnh cá nhân”, mọi suy nghĩ việc làm đều xuất phát từ lợi ích cá nhân và đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết. Tất cả đều vì cá nhân, vì gia đình mình, vì phe nhóm mình. Bác khẳng định: Mắc những căn bệnh đó là do “kém tính Đảng”, mắc một trong những bệnh đó “là hỏng việc”.

Người căn dặn: “Chúng ta phải ráo riết dùng phê bình và tự phê bình để giúp nhau chữa cho hết những bệnh ấy”. Từ đây, Bác đã chỉ đích danh và phê phán gay gắt “bệnh cá nhân” - chủ nghĩa cá nhân trong con người cán bộ, đảng viên.

Bác còn nhấn mạnh: “Cán bộ đảng, cán bộ chính quyền không phải làm quan cách mạng, ăn trên ngồi trốc. Cán bộ đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân, phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính. Muốn thế phải gần gũi nhân dân, khuyến khích Nhân dân, lãnh đạo Nhân dân”.

Về đức và tài, Bác viết: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”, “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Mong sao đảng viên, cán bộ chúng ta hãy suy nghĩ thấu đáo về những lời dạy ân tình của Bác Hồ để tự sửa đổi mình, rèn luyện mình, nghiêm khắc với mình, làm tròn bổn phận người cán bộ, đảng viên của Đảng để được Nhân dân tin yêu, che chở như trước đây, toàn tâm, toàn ý đóng góp sức lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Muốn vậy, Đảng cần tập trung đẩy mạnh triển khai, tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư (khóa XIII), trong đó có nội dung cực kỳ quan trọng là vấn đề tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Mục tiêu nhất định phải đạt là: Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ Nhân dân. Củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Có như vậy! cán bộ đảng viên của Đảng mới thực sự thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Đảng ta mãi tươi xuân, tràn đầy sinh khí; mãi mãi cùng dân tộc vào xuân, mãi mãi vui cùng niềm vui của Nhân dân!

Nhân dịp đón chào Xuân mới Quý Mão, mừng Đảng quang vinh, mừng đất nước đổi mới, chúng ta hãy biến lòng tưởng nhớ Bác bằng cách nhắc nhở nhau khắc cốt, ghi tâm những lời dặn dò, những mong muốn của Người trước lúc đi xa: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thông tin bổ sung

Tìm kiếm


Thống kê truy cập

113644553
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần qua
Tháng này
Tháng qua
Tất cả
16415
30750
292778
33410143
448691
2267728
113644553

IP của bạn: 3.222.251.91
2023-02-09 11:35