Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Văn hóa và đời sống

Những món quà dễ thương từ học trò Hằng năm, cứ đến ngày lễ 20/11, Tết cổ truyền, bế giảng là tôi nhận được nhiều món quà ý nghĩa của học trò tặng mình. Dù nó không có giá trị vật chất, nhưng nói về giá trị tinh thần thì có vàng ròng cũng không mua được. Bởi đó là những món quà do chính tay các em tỉ mỉ làm ra, chất chứa biết bao nhiêu tình cảm trong đó. Nên tôi luôn trang trọng đặt vào trong tủ kính, thỉnh thoảng mang ra xem để nhớ học trò…
 1. Hơn nửa thế kỷ qua, bộ sách giáo khoa phổ thông các cấp, trong đó có sách Ngữ văn đã được nhiều thế hệ các nhà khoa học giáo dục không ngừng tìm tòi, cải tiến, đổi mới khi biên soạn. Trước đây, trong một thời gian khá dài, khi biên soạn sách giáo khoa bộ môn Ngữ văn, các soạn giả đã chia làm ba phân môn với ba cuốn sách: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn. Bộ sách giáo khoa của ba phân môn này qua nhiều lần thay đổi: cải cách, cải tiến, đến hai…
1. Giới thiệu về chương trình khung môn Văn bậc trung học ở miền Nam trước 1975 1.1. Tên gọi môn học Trong chương trình Trung học đệ nhất và đệ nhị cấp (nay là Trung học cơ sở và Trung học phổ thông) ở miền Nam trước năm 1975 thì tên môn học là Quốc văn, nhưng các soạn giả khi biên soạn sách giáo khoa thì ghi là Quốc văn hayQuốc văn độc bản như bộ sách của Trần Trọng San; Việt văn như bộ sách của Võ Thu Tịnh; Giảng văn như bộ sách của Đỗ Văn…

Hẳn chúng ta chưa quên năm 2015, hình ảnh cậu bé Aylan Kurdi người Syria chết trên bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ khiến cả thế giới bàng hoàng. Sau đó, 70 thi thể được phát hiện trong một xe tải ở biên giới của nước Áo tiếp tục làm dấy lên làn sóng chỉ trích châu Âu vì những chính sách liên quan đến người nhập cư. Ngày đó, khi đọc những thông tin trên, ai trong chúng ta cũng thấy nhói lòng nhưng chắc hẳn không thể nghĩ đến một ngày, trên chiếc xe tải tương tự, tất cả các nạn nhân đều được xác định mang quốc tịch Việt Nam!

Ngày 23/10, cảnh sát Essex, Vương quốc Anh phát hiện 39 thi thể trong container tại Khu công nghiệp Waterglade. Thông tin ban đầu nhận định các nạn nhân là người Trung Quốc nhưng sau đó, những nguồn tin bên lề được đưa ra, nghi ngờ trong số các nạn nhân có người Việt Nam. 20h ngày 7/11, Bộ Công an Việt Nam và các cơ quan thực thi pháp luật của Vương quốc Anh chính thức xác nhận toàn bộ 39 nạn nhân đều là người Việt. Ngày 8/11, danh tính các nạn nhân được công bố. Trong đó có 21 người Nghệ An, 10 người Hà Tĩnh, 3 người Quảng Bình, 2 người Hải Phòng, 2 người Hải Dương và 1 người Thừa Thiên Huế. Có 2 nạn nhân chỉ mới 15 tuổi! Nỗi đau ấy không chỉ của riêng gia đình người bị nạn mà là nỗi đau chung của cả dân tộc, là nỗi nhức nhối của thế giới về vấn đề di cư.

Như cái chết của cậu bé Syria trên bờ biển đánh động lương tri nhân loại, 39 nạn nhân hôm nay buộc chúng ta phải nhìn lại nhiều vấn đề. Vì sao họ bất chấp tính mạng của mình, để bỏ xứ sở mà đi? Đất nước chúng ta đâu có chiến tranh, giết chóc, bất ổn liên miên như các nước Trung Đông, Bắc Phi, vậy, vì sao? Dù đau đớn nhưng phải thừa nhận rằng, không phải đến hôm nay chúng ta mới có những trường hợp rời quê hương và bỏ mạng nơi xứ người. Lịch sử đã chứng kiến những cuộc di tản đau đớn và hiện tại, biết bao gia đình cho con xuất khẩu lao động với ước mơ đổi đời. Trong số đó có người thành công nhưng cũng không ít người gặp tai nạn lao động, bị cướp, bị bệnh tử vong hay trở về với hai bàn tay trắng. Bi kịch vẫn diễn ra mỗi ngày nhưng có lẽ chỉ cú sốc này mới đủ để khiến chúng ta nhìn lại một cách nghiêm túc chính sách phát triển của mình. Mỗi năm, có bao người rời quê hương để tìm kiếm ước mơ ở một nơi khác? Những cuộc ra đi ấy có “muôn hình vạn trạng”. Không chỉ là xuất khẩu lao động mà còn là những du học sinh, nghiên cứu sinh, trí thức sau khi học tập, làm việc ở nước ngoài thì lựa chọn không trở về. Trong nước lại có những “cuộc di cư” từ nông thôn lên thành phố khi quá trình phát triển khiến diện tích sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp còn người dân thì không được bố trí việc làm mới phù hợp. Họ ra đi không phải vì không yêu quê hương mà bởi đó dường như là cách duy nhất để phát huy khả năng, tìm kiếm cơ hội và thoát nghèo. Câu chuyện việc làm lâu nay vẫn là vấn đề nhức nhối, không chỉ riêng với lao động phổ thông mà còn cả hàng trăm nghìn cử nhân, thạc sỹ được đào tạo bài bản. Đáng buồn khi xuất khẩu lao động vẫn được xem là một biện pháp giải quyết việc làm hiệu quả ở nhiều vùng nông thôn, đặc biệt là Nghệ An và Hà Tĩnh. Chúng ta mải mê khuyến khích người rời quê hương mà quên đi sự cần thiết phải siết chặt kiểm tra hoạt động của các trung tâm xuất khẩu lao động, dịch vụ đưa người ra nước ngoài và việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho dân để tránh những bi kịch như hôm nay. Nếu chúng ta không tìm ra giải pháp tạo công ăn việc làm cho họ ngay trên chính quê hương mình, không tạo điều kiện cho người tài phát huy khả năng thì sẽ còn những cuộc di cư như thế. Nếu chúng ta không quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là nhóm người yếu thế, có nguy cơ bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển; không giải quyết những bức xúc, tiêu cực trong xã hội thì sẽ còn những cuộc di cư như thế bởi có những người ra đi vì mục đích kinh tế nhưng cũng có những người đi tìm kiếm một nơi có chất lượng sống tốt hơn. Bởi mưu cầu sống, mưu cầu hạnh phúc là điều cơ bản của một con người.

Dù đi với mục đích nào thì chắc chắn không ai sinh ra đã muốn làm một kẻ tha hương và chẳng ai thích những cuộc chia ly cả. Hiểu như thế và đặt mình vào vị trí của họ để đồng cảm, để tránh những nhận xét, chỉ trích tỉnh táo đến nhẫn tâm như nhiều người đưa ra trong thời gian qua. Hiểu như thế để chia sẻ với nỗi đau của những người trong cuộc. Hy vọng, gia đình các nạn nhân và cộng đồng sẽ đủ mạnh mẽ để đối diện và vượt qua nỗi đau này. Hy vọng sau đó, chúng ta sẽ nhìn ra những việc cần làm để chắc chắn không có một bi kịch tương tự xảy ra trong tương lai; để người Việt có thể an tâm sinh sống trên quê hương xứ sở, như điều Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh trước Quốc hội trong buổi làm việc ngày 8/11 rằng: “Phải làm sao để mỗi người dân Việt Nam có cơ hội thực hiện khát vọng làm giàu hợp pháp, phát triển khả năng trên chính mảnh đất quê hương.”

                                                                                    

 

Thứ hai, 18 Tháng 11 2019 17:02
Xem tiếp...
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân Huế luôn luôn mới. Cuộc trao đổi này với nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân (NNC NĐX) cũng là dựa trên những câu chuyện cũ, tư liệu cũ, cái mới là bước đi, cái đích đến của mô hình thành phố di sản. Cụ thể là thành phố di sản Huế trực thuộc Trung ương, tách ra khỏi sự quản lý hành chính của tỉnh để bứt phá đi lên, làm động lực cho sự phát triển của cả tỉnh Thừa Thiên Huế (TTH),  cả vùng Huế, như sự mong muốn của những người…

Đại tướng Ngô Xuân Lịch cùng bà Federica Mogherini ký hiệp định. Nguồn ảnh Quân Đội Nhân Dân

Ngày 17/10/2019, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) tăng cường hợp tác an ninh và quốc phòng thông qua việc ký kết Hiệp định khung về “Tham gia vào các hoạt động quản lý khủng hoảng của EU” (FPA).Việt Nam đã trở thành quốc gia đối tác thứ hai tại châu Á, sau Hàn Quốc, và là nước đầu tiên thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ký một hiệp định như vậy với EU. Điều này cho thấy EU và Việt Nam đã cùng nhau cam kết xử lý những thách thức an ninh chung tại châu Á và các khu vực khác.

Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Ngô Xuân Lịch và Cao ủy Liên minh châu Âu (EU) về chính sách đối ngoại và an ninh, kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu Federica Mogherini, đã ký hiệp định nhằm thiết lập khuôn khổ cho sự tham gia của Việt Nam trong các hoạt động quản lý khủng hoảng của EU (Gọi tắt là FPA). Lễ ký kết diễn ra hôm 17/10/2019 tại Brussels, Bỉ, sau hai tháng kể từ chuyến thăm hồi tháng 8 của bà Mogherini tại Hà Nội. Thông cáo của phái đoàn EU tại Việt Nam nêu rõ: "Hiệp định khung này tạo ra nền tảng pháp lý nhằm quản lý và tạo thuận lợi cho sự tham gia của Việt Nam trong các hoạt động quản lý khủng hoảng dân sự và quân sự do EU lãnh đạo".

Các nội dung được Bộ Quốc phòng Việt Nam lựa chọn để hợp tác với EU bao gồm: thiết lập đối thoại chính sách quốc phòng với Cơ quan Hành động đối ngoại EU; đào tạo, tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc và khắc phục hậu quả chiến tranh. Hãng tin chính thức của chính phủ Việt Nam bình luận: "Hiệp định đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và EU, góp phần thúc đẩy và làm sâu sắc hơn Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện Việt Nam - EU". Việt Nam đã trở thành quốc gia đối tác thứ hai tại châu Á, sau Hàn Quốc, và là nước đầu tiên thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ký một hiệp định như vậy với EU. Điều này cho thấy EU và Việt Nam đã cùng nhau cam kết xử lý những thách thức an ninh chung tại châu Á và các khu vực khác. Tuy nhiên, Hiệp định  có phạm vi bao trùm lên toàn bộ các sự cố được coi là “khủng hoảng”, chứ không chỉ riêng đối với vấn đề “quân sự” hay “chiến tranh”. Do đó, đây là một hiệp mang tính dân sự chứ không phải là một hiệp ước quân sự

Chính sách An ninh và Quốc phòng Chung (CSDP) đem lại cho EU năng lực vận hành nhằm triển khai cả các sứ mệnh dân sự và chiến dịch quân sự, trong khi đó các hiệp định khung về tham gia tạo ra một công cụ quan trọng để EU tăng cường sự tham gia của các đối tác của mình trong lĩnh vực này. Theo phái đoàn EU tại Việt Nam, các sứ mệnh và chiến dịch CSDP là một công cụ đặc biệt trong bộ công cụ của EU, cho phép hành động trực tiếp nhằm quản lý xung đột hay khủng hoảng và tập trung vào các mục tiêu như cải cách pháp quyền, duy trì sự ổn định, chống lại tội phạm có tổ chức và cải cách lĩnh vực an ninh. Việc này được tiến hành theo đề nghị của quốc gia tiếp nhận hỗ trợ và luôn luôn có sự tuttân thủ đầy đủ luật pháp quốc tế.

Theo quan điểm đăng tải trên website chính thức của EU, các sứ mệnh và chiến dịch của EU được triển khai bên ngoài Liên minh chính là cam kết rõ ràng nhất của EU đối với một cách tiếp cận đa phương dựa trên luật lệ đối với hòa bình và an ninh quốc tế.Chính sách An ninh và Quốc phòng Chung của EU (CSDP) đem lại cho Liên minh năng lực vận hành nhằm triển khai cả các sứ mệnh dân sự và chiến dịch quân sự, trong khi đó các Hiệp định Khung về Tham gia tạo ra một công cụ quan trọng để EU tăng cường sự tham gia của các đối tác của mình trong lĩnh vực này.

Khi tham gia CSDP, Hà Nội có thể sát cánh cùng EU trong 16 hoạt động hiện tại cũng như trong bất cứ sứ mệnh hay chiến dịch dân sự và quân sự nào trong tương lai của EU, được triển khai phù hợp với các nguyên tắc trong Hiến chương Liên hợp quốc.Việc tham gia các chiến dịch [quân sự hoặc dân sự] của Việt Nam với EU sẽ cho thấy, Việt Nam đang tiến hành một khoảng mở cần thiết đối với “chính sách ba không” của mình. Bao gồm, “không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia”.

Hiệp định này được hoàn tất với chuyến thăm hồi tháng 8 của Đại diện cấp cao của EU, bà Federica Mogherini đến Hà Nội, trong bối cảnh Trung Quốc tiến hành những hoạt động xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam ở ngoài Biển Đông. Ký kết Hiệp định này cho thấy, sự cần thiết của mức độ hợp tác về quân sự trong việc chống lại những hoạt động ngày càng phức tạp và thô bạo của Bắc Kinh trong đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Điều này tạo thuận lợi cho Hà Nội trong việc tiến hành các hoạt động an ninh chung với EU dựa trên luật lệ đối với hòa bình và an ninh quốc tế. Đây cũng là vấn đề Việt Nam luôn nhấn mạnh trong giải quyết các vấn đề Biển Đông.

Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, EU đã có FPA với các nước Úc, New Zealand và Hàn Quốc. Còn trên toàn cầu, 15 nước khác đã ký những thỏa thuận giống thế này với EU: Albania, Bosnia-Herzegovina, Canada, Chile, Colombia, Macedonia, Gruzia, Iceland, Moldova, Montenegro, Na Uy, Serbia, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraine và... Mỹ. Nền tảng của các thỏa thuận này là Chiến lược toàn cầu của EU 2016 (EUGS) và Chính sách phòng thủ và an ninh chung EU (CSDP).

Đại tướng Ngô Xuân Lịch và bà Federica Mogherini chứng kiến lễ ký biên bản triển khai chuyên gia có kinh nghiệm về gìn giữ hòa bình  của EU đến hỗ trợ kỹ thuật cho Cục Gìn giữ Hòa bình Việt Nam. nguồn ảnh bienphong.com,vn

“CSDP theo truyền thống tập trung vào hai nhóm vấn đề: vai trò của các nước thứ ba trong các chiến dịch và sứ mệnh CSDP và quan hệ đối tác giữa EU và các tổ chức quốc tế, cụ thể là Liên Hiệp Quốc, NATO, Liên minh châu Phi và OSCE” - tác giả Thierry Tardy của Viện Nghiên cứu an ninh châu Âu viết trong một nghiên cứu vào tháng 1/2018 tựa đề “Đánh giá lại các quan hệ đối tác an ninh của EU” - Gần đây hơn, EU đã bắt đầu mở rộng ra với các nước thứ ba về những vấn đề an ninh khác như chống khủng bố và nhập cư”.

Cách đây hai tháng, theo Phái đoàn EU tại VNhai bên đánh giá  cao những nỗ lực xây dựng mối quan hệ đối tác có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và EU kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1990, bằng chứng là Hiệp định khung về Quan hệ Đối tác và Hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và EU (PCA) có hiệu lực vào năm 2016, Hiệp định tự do Thương mại Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA) được ký kết vào năm 2019. Đại tướng Ngô Xuân Lịch và bà Federica Mogherini trao đổi về việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh dựa trên luật pháp quốc tế và cam kết chung. 

Cho tới nay, EU đã triển khai 10 sứ mệnh dân sự và 6 chiến dịch quân sự và các hoạt động này có thể có cả sự đóng góp của các nước thứ ba thông qua việc hoàn tất các hiệp định khung về tham gia. Với sự bổ sung hiệp định ký với Việt Nam, EU hiện có hiệp định khung về tham gia với 19 quốc gia đối tác. VN mong muốn EU tham gia vào các cấu trúc quốc phòng - an ninh khu vực.

Theo Phái đoàn EU tại VNhai bên đánh giá cao những nỗ lực xây dựng mốiquan hệ đối tác có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và EU kểtừ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1990, bằng chứng là Hiệp địnhkhung về Quan hệ Đối tác và Hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và EU (PCA) có hiệu lực vào năm 2016, Hiệp định tự do Thương mại Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA) được ký kết vào năm 2019. Đại tướng Ngô Xuân Lịch và bà Federica Mogherini trao đổi về việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh dựa trên luật pháp quốc tế và cam kết chung.

Theo Phái đoàn EU tại VNhai bên đánh giá cao những nỗ lực xây dựng mối quan hệ đối tác có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Namvà EU kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1990, bằng chứng là Hiệp định khung về Quan hệ Đối tác và Hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và EU (PCA)có hiệu lực vào năm 2016, Hiệp định tự do Thương mại Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA) được ký kết vào năm 2019. Đại tướng Ngô Xuân Lịch và bà Federica Mogherini trao đổi về việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh dựa trên luật pháp quốc tế và cam kết chung.

Hai bên cam kết hợp tác để đạt được kết quả cụ thể trong việc giải quyết các thách thức an ninh chung, cả ở châu Á và những nơi khác, bao gồm thông qua thực thi đầy đủ các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc và Chương trình nghị sự về Phụ nữ, Hòa bình và An ninh.

Về hợp tác trong quản lý khủng hoảng, hai bên hoan nghênh việc kết thúc đàm phán Hiệp định về thiết lập khuôn khổ tham gia của Việt Nam vào các hoạt động quản lý khủng hoảng của EU (Hiệp định FPA). Hiện nay, lộ trình đã rõ ràng theo hướng hoàn thiện các thủ tục nội bộ dẫn tới việc ký kết, phê chuẩn và thực hiện đầy đủ Hiệp định trên. Hai bên sẽ tăng cường tham gia bảo đảm tự do hàng hải, hàng không, đối phó với các thách thức truyền thống và phi truyền thống như tìm kiếm cứu nạn, chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền, tội phạm có tổ chức và buôn lậu, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982)./.

 

 

 

 

 

 

 

Thứ năm, 07 Tháng 11 2019 17:47
Xem tiếp...
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010-2020 đang đi vào giai đoạn cuối. Trong khi các cơ quan phụ trách, các địa phương đang chuẩn bị để tổng kết giai đoạn vừa rồi thì nhiều người lại đang đặt mối quan tâm đến việc xây dựng NTM trong giai đoạn tiếp theo sẽ như thế nào. Để đóng góp thêm tiếng nói vào việc thảo luận vấn đề này, Tạp chí Văn hóa Nghệ An đã có buổi trao đổi với GS.TS Tô Duy Hợp, một chuyên gia hàng đầu về…

Sản phẩm làng nghề trong NTM ở Quỳ Châu. Ảnh: An Thư

Nông thôn mới (NTM) đang nảy sinh nhiều vấn đề mới trong xã hội nông thôn. Trên phương diện văn hóa, quá trình xây dựng NTM đã hình thành nhiều giá trị văn hóa mới trong đời sống của người dân ở nông thôn ở nhiều cấp độ khác nhau. Càng ngày, các giá trị văn hóa mới này càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển ở nông thôn. Vậy nên, làm sao để phát huy các giá trị văn hóa mới này vào quá trình xây dựng NTM trong giai đoạn tiếp theo sẽ là một vấn đề quan trọng cần phải được quan tâm.

Trước hết, chúng ta cần phải nhận thức lại về những đối tượng tham gia vào quá trình kiến tạo nên các giá trị văn hóa mới ở nông thôn hiện nay. Trong xã hội truyền thống, các chủ thể của nền văn hóa giữ vai trò chủ yếu kiến tạo nên các giá trị văn hóa của họ. Đó là các cá nhân, các hộ gia đình, các nhóm và chính quyền xã. Nhưng hiện nay, xã hội nông thôn đang hướng đến hình thành nền văn hóa đa chủ thể. Trong đó có những người bên trong bao gồm các cá nhân, gia đình, nhóm cộng đồng, nhóm chuyên môn, chính quyền xã; và nhóm bên ngoài là những người có liên quan, có quan hệ giao dịch, hợp tác, tương tác với những người bên trong. Như vậy, các giá trị văn hóa mới được kiến tạo từ nhiều chủ thể khác nhau là đặc trưng trong xã hội nông thôn hiện nay và trong tương lai gần.

Thứ nhất, đó là các giá trị văn hóa cá nhân. Trước đây, trong một cộng đồng thì các giá trị văn hóa cộng đồng được coi trọng, sau đó đến văn hóa nhóm như là các giáp, dòng họ, gia đình. Riêng các giá trị cá nhân ít được để ý, nhiều khi người ta còn phải ẩn giá trị cá nhân đi bởi thể hiện rõ quá sẽ có thể bị cộng đồng bài trừ. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, giá trị văn hóa cá nhân lại trỗi dậy một cách mạnh mẽ và thể hiện ngày càng rõ nét. Giá trị cá nhân gắn với tự do, với quyền riêng tư của mỗi con người cụ thể. Trong xây dựng NTM giai đoạn tiếp theo cần tôn trọng giá trị cá nhân, không đối lập giá trị cá nhân với giá trị cộng đồng, giá trị nhóm mà còn phải đặt giá trị cá nhân vào trung tâm để xây dựng các giá trị văn hóa cộng đồng. Đó là một cách để phát huy giá trị văn hóa truyền thống bên cạnh các giá trị văn hóa mới, xây dựng nền văn hóa hài hòa, đa dạng và tiến bộ.

Nông sản an toàn trong NTM. Ảnh : An Thư

Thứ hai là giá trị văn hóa nhóm mới. Nhóm mới là các nhóm xã hội chia sẻ một số điểm chung và được thiết lập trên tinh thần tự nguyện như nhóm nghề nghiệp, nhóm giới tính, nhóm sở thích,... Nếu các nhóm truyền thống như giáp, dòng họ, hội nghề nghiệp (cũ) có quy chế rõ ràng, liên kết chặt chẽ và ràng buộc lẫn nhau thì các nhóm mới lại hoàn toàn trái ngược, quy chế lỏng lẻo, liên kết yếu và không có sự ràng buộc quá nhiều giữa các thành viên. Nhưng các nhóm mới đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều trong cuộc sống xã hội nông thôn và họ cũng là một phần không thể thiếu trong phát triển nông thôn giai đoạn tới. Các nhóm này hướng đến sự chia sẻ trên tinh thần tự nguyện của các thành viên. Và nó cũng là một sự bổ sung cho hệ thống giá trị văn hóa của các nhóm truyền thống.

Thứ ba là giá trị văn hóa mới từ các thiết chế xã hội mới. Giá trị văn hóa của các thiết chế cũ như làng xã, dòng họ, gia đình vẫn còn phổ biến và sẽ không mất đi trong quá trình phát triển nông thôn. Nhưng bên cạnh đó cũng hình thành các giá trị văn hóa của các thiết chế mới như doanh nghiệp, công ty, câu lạc bộ, hợp tác xã kiểu mới… Những thiết chế này càng ngày càng có vị trí quan trọng trong xã hội nông thôn. Và các thiết chế này cũng tạo ra những giá trị văn hóa riêng biệt: văn hóa doanh nghiệp, văn hóa công ty, văn hóa câu lạc bộ, văn hóa hợp tác xã kiểu mới. Nó cũng góp phần tạo nên sự đa dạng trong đời sống văn hóa ở nông thôn. Dễ dàng nhận thấy rằng tầng lớp thanh niên đang ngày càng tham gia vào hoạt động ở các thiết chế mới hơn là các thiết chế cũ. Ở nông thôn, số người đi làm việc tại các doanh nghiệp, công ty ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhiều hơn so với ở lại làm nông gần nhà. Họ gắn với các giá trị văn hóa mới từ các thiết chế mới này nhiều hơn các thiết chế cũ như làng xã, dòng họ. Phát huy các giá trị của thiết chế văn hóa mới chính là tạo điều kiện để các thiết chế văn hóa này góp phần vào việc định hình hệ thống giá trị văn hóa chung của nông thôn cũng như góp phần vào việc quản trị xã hội, làm cho xã hội phát triển lành mạnh hơn, nhân văn hơn và bền vững hơn.

Phát huy các giá trị văn hóa mới vào xây dựng nông thôn mới là quá trình làm cho các giá trị văn hóa này lan tỏa trong cuộc sống ở nông thôn. Các giá trị văn hóa cá nhân khi được coi trọng đúng mức sẽ tạo điều kiện cho các cá nhân vươn lên sáng tạo hơn, trách nhiệm hơn và làm việc hiệu quả hơn bởi khi đó con người riêng tư, cá nhân được cởi trói. Giá trị nhóm mới cũng vậy, khi được tạo điều kiện thuận lợi sẽ trở thành một yếu tố quan trọng trong phát triển nông thôn. Sự liên kết nhóm nhìn thì lỏng lẻo nhưng sức sống vẫn rất mạnh mẽ. Nó sẽ là nguồn lực mới cho việc định hình các giá trị cộng đồng trong giai đoạn tới. Còn với các thiết chế mới thì dễ dàng nhận thấy hơn bởi càng ngày, vai trò của các doanh nghiệp, công ty, câu lạc bộ hay hợp tác xã kiểu mới càng quan trọng đối với sự phát triển. Tôn trọng các giá trị văn hóa do các thiết chế này tạo ra cũng là một sự thu hút các nguồn lực quan trọng cho phát triển nông thôn. Như vậy, phát triển nông thôn trong giai đoạn mới cần nhận thức rõ và phát huy được các giá trị văn hóa mới đang ngày càng có vai trò quan trọng ở nông thôn.

Một vấn đề quan trọng trong việc phát huy các giá trị văn hóa mới vào xây dựng NTM chính là nhận thức về mối quan hệ giữa các yếu tố văn hóa mới và yếu tố văn hóa truyền thống. Nếu xem đây là những giá trị mang tính đối lập nhau thì sẽ rơi vào cực đoan và không tốt cho quá trình xây dựng và phát triển nông thôn. Bởi nếu quá xem trọng yếu tố truyền thống và bài trừ yếu tố mới hay ngược lại đều tác động tiêu cực đến cuộc sống. Các nền văn hóa đều trải qua các quá trình biến đổi và các giá trị văn hóa không phù hợp sẽ mất đi đồng thời các giá trị văn hóa mới hình thành và bồi đắp vào nền văn hóa đó. Nói cách khác, quá trình phát triển văn hóa là sự chọn lọc, thay thế giữa các yếu tố văn hóa cũ và mới. Xây dựng NTM cần nhận thức rõ về quy luật đó. Ở nông thôn Việt Nam, các giá trị văn hóa cũ là sản phẩm của xã hội khép kín, của các nhóm kín với sức liên kết chặt chẽ nhưng lại thiếu sự linh động. Các giá trị văn hóa mới lại được hình thành và phát triển trong quá trình hội nhập, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa và thị trường hóa nên mang đặc trưng là linh động, cởi mở. Vậy nên, xây dựng NTM trong giai đoạn mới cần coi trọng nhiệm vụ kết hợp hài hòa giữa các giá trị văn hóa truyền thống với các yếu tố văn hóa mới sao cho hợp lý nhằm tạo nên một bức tranh nông thôn vừa có nền tảng vững chắc của văn hóa truyền thống, vừa có sự cởi mở, linh động của nông thôn hiện đại để hội nhập và phát triển. Để làm được điều đó thì cần phải có quan điểm cởi mở, tạo ra một môi trường năng động để các yếu tố văn hóa liên tục được bổ sung, điều chỉnh, cạnh tranh và thay thế. Đây chính là cơ chế để nền văn hóa tự vận động, tiếp nhận và chọn lọc các giá trị văn hóa hợp lý trong quá trình phát triển.

Nói tóm lại, trong quá trình xây dựng NTM, các yếu tố văn hóa mới không ngừng được kiến tạo và các yếu tố văn hóa cũ cũng không ngừng bị thách thức và thay đổi. Các giá trị văn hóa mới thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau thông qua các giá trị cá nhân, giá trị nhóm và các thiết chế mới được sản sinh. Các giá trị văn hóa mới cùng với các giá trị văn hóa truyền thống không ngừng bổ sung, điều chỉnh, cạnh tranh và thay thế cho nhau, tạo nên hệ giá trị văn hóa phù hợp hơn với tình hình thực tiễn. Vậy nên, trong quá trình xây dựng NTM, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa, việc làm sao để phát huy các giá trị văn hóa mới trên cơ sở kết hợp hài hòa với các giá trị văn hóa truyền thống trở thành vấn đề quan trọng và cần phải được coi trọng./.

 

Thứ tư, 06 Tháng 11 2019 14:50
Xem tiếp...

Ngày 04/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 800/QĐ - TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010-2020. Theo đó, chương trình đưa ra 11 nội dung thực hiện trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng. Các nội dung này nêu cụ thể những việc cần làm nhằm đạt được 19 tiêu chí trong Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM. Không cần xem xét chi tiết từng chỉ tiêu chúng ta cũng có thể thấy đây là một mục tiêu khá tham vọng. Nói cách khác, những điều đặt ra còn xa rời thực tế và nếu chỉ chăm chăm thực hiện theo kiểu “kịp về đích” thì rất dễ rơi vào việc chạy theo hình thức mà quên đi những giá trị thực chất, căn cốt cần làm.

Hiện nay, các địa phương trong cả nước đã, đang tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện chương trình xây dựng NTM. Tất nhiên, báo cáo tại Hội nghị vẫn luôn là những bản thành tích dài. Phải thừa nhận, với nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là sự đóng góp của nhân dân, các địa phương ít nhiều có những thay đổi tích cực. Hệ thống nhà văn hóa, chợ, trạm y tế, trường học được xây dựng khang trang; những con đường làng trở nên sạch, đẹp, thuận tiện đi lại hơn; một số nơi áp dụng các mô hình sản xuất, kinh doanh khá hiệu quả, giúp người dân cải thiện đời sống. Ví dụ, với Nghệ An, hiện nay tỉnh có 3 đơn vị cấp huyện, thị xã, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM; 225 xã, 667 thôn/bản đạt chuẩn NTM và 3 xã (Kim Liên, Sơn Thành, Quỳnh Đôi) đạt chuẩn xã NTM kiểu mẫu. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn hiện ước đạt trên 28,5 triệu đồng/năm (năm 2010 là 12 triệu đồng/năm); tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 4% (năm 2011 là 18,79%); Tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt gần 90% (tăng 8,4% so với cuối năm 2015); từ năm 2012 đến nay, trên 3.500 km đường giao thông nông thôn được bê tông hóa; nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, trang trại ra đời,…

Tuy nhiên, hãy tạm quên đi những con số rất đẹp ấy và nhìn vào số nợ đọng (tổng nợ đọng xây dựng NTM tính đến tháng 12/2018 của cả nước là 651,8 tỷ đồng), nhìn vào rất nhiều những thiết chế như chợ, nhà văn hóa cộng đồng được xây dựng hàng tỷ đồng rồi bỏ hoang ở khắp các địa phương. Nhiều nhà văn hóa tại các thôn, xóm đang sử dụng tốt vẫn bị đập đi xây lại để đáp ứng tiêu chí đề ra; nhiều cổng làng đồ sộ với chi phí xây dựng lên đến hàng tỷ đồng. “Cuộc đua” đó không chỉ để lại nợ, sự lãng phí mà còn là nỗi khổ của người dân. Nói cách khác, câu chuyện đóng góp “tự nguyện trên tinh thần bắt buộc” đã, đang đặt sức ép lên vai nhiều gia đình nông thôn. Muốn đánh giá chính xác hiệu quả của chương trình xây dựng NTM, hãy về các vùng quê để hỏi cảm nhận thực sự của người dân. Hãy xem họ có bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển hay không? Thu nhập của họ có đủ trang trải cho cuộc sống hiện tại hay không? Quan trọng nhất, những người dân hôm nay ở các làng quê họ có chuyển biến gì trong nhận thức, trong trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, trong cách cư xử, trong đời sống văn hóa? Nếu không tập trung trả lời những câu hỏi đó, nếu không đặt người dân và lợi ích của họ làm chủ thể chính của phong trào thì mọi việc làm có lẽ đều vô nghĩa.  

Dấu ấn rõ rệt nhất sau 10 năm thực hiện xây dựng NTM là gì? Chắc chắn, chúng ta không muốn câu trả lời chỉ là những con đường hoa hay bao công trình cộng đồng khang trang, sạch đẹp. Những con đường, những công trình ấy không đi đôi với thay đổi căn bản, thực chất trong đời sống của người dân thì chỉ là một lớp vỏ vô hồn và thậm chí là kệch cỡm. “Chiếc áo mới” hôm nay được khoác lên các thôn, xóm, làng, bản phải là “chiếc áo” họ thích thú lựa chọn chứ không phải một “chiếc áo” ai đó cố tình khoác lên để che đậy đi những khiếm khuyết bên trong. Thiết nghĩ, những tiêu chí, mô hình kiểu mẫu trong xây dựng NTM là không cần thiết và áp đặt. Những hình mẫu khi đưa ra phổ biến có thể sai/không phù hợp ngay từ đầu hoặc không áp dụng được khi điều kiện thay đổi. Chính vì thế, điều quan trọng là phải tìm ra nguyên lý, phương cách hành động. Tức là phải tùy vào thực tế của từng địa phương để đề ra chính sách phát triển kinh tế - văn hóa phù hợp; tìm cách để đi đến cái đích cuối cùng là mang lại cho người dân một cuộc sống ấm no, tốt đẹp hơn chứ không phải ở việc công nhận đạt chuẩn hay một vài danh hiệu phù phiếm. Hy vọng khi tổng kết 10 năm thực hiện xây dựng NTM chúng ta sẽ thẳng thắn nhìn nhận điều đó để có những điều chỉnh kịp thời sao cho chương trình đi vào thực chất, hiệu quả hơn trong tương lai.

                                                                                    

Thứ tư, 06 Tháng 11 2019 14:39
Xem tiếp...