Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Mẹ nuôi Phùng Quán

Bà Nguyễn Thị Mùi không ngạc nhiên khi nhận được giấy triệu tập của công an xã Quảng An. Bà biết là chuyện liên quan đến người con nuôi sinh sống với bà đã hơn tháng nay. Đứng ngay giữa trụ sở, bà lão điềm tĩnh nói với những nhân viên Ủy ban đang ngồi rải rác trên các bàn làm việc:

- Chú nào là Trưởng Công an xã đứng dậy gặp tôi. Tôi là Nguyễn Thị Mùi, cư ngụ ở xóm Nghi Tàm, mẹ liệt sĩ thời chống Pháp đây!

Những người đang ngồi ở các bàn làm việc đều đứng cả dậy ngơ ngác nhìn bà. Một anh vừa rít xong điếu thuốc lào, vội vàng bước lại, nắm lấy tay bà, xởi lởi nói: Bà là bà Trưởng Giơi, cả làng này ai còn lạ gì hoàn cảnh bà, tính tình bà, mà bà phải to tiếng giới thiệu. Giấy triệu tập đâu bà đưa cho con. Con là Trưởng Công an xã, bà không biết con, chứ con thì rành bà lắm.

Thực ra bà Mùi không lạ gì anh công an vẫn đến thậm thà thậm thụt với đứa cháu gái bà làm công an xóm, nhưng bà cứ tỉnh bơ, coi như là không quen biết, đó là cách ứng xử của các bà lão quen buôn bán từ nhỏ ở ngoài chợ khi cần đối mặt ăn thua đủ với “đối phương”. Bà hắng giọng: tôi suốt ngày chường mặt ngồi trên bờ đê bán thuốc lá lẻ cho người lớn, bán kẹo gừng, kẹo lạc, ngô rang… cho trẻ con. Anh là trẻ con mới lớn, chắc đã từng ăn quà vặt ở hàng tôi, không khéo còn nợ tiền bà lão này cũng nên.

Anh công an không lạ gì cách nói dân dã của người quê mình, nhất là của những người nửa quê nửa tỉnh như bà Trưởng Giơi. Với các bà các cụ, khôn nhất là biết đối đáp nhẹ nhàng nhưng cũng phải thưa chuyện rành mạch, nếu cần phải biết nói như quát để họ không lấn lướt, khinh rẻ mình. Anh nhẹ nhàng kéo ghế mời bà ngồi

- Con năm nay cũng gần bốn mươi rồi, chỉ thua anh Trưởng nhà bà bốn năm tuổi là cùng, lúc nhỏ con với anh Trưởng là bạn đánh bive, câu cá trộm, đá bóng… quần nát các vườn tược làng mình đấy bà ạ! Thời trẻ con con chẳng bao giờ mua quà của bà vì quà cáp của bà toàn bọc bụi với cát bờ đê Yên Phụ. Ăn vào kinh lắm, có đứa ăn quà của bà mà… ho lao đấy!

- Tôi nghèo nên mới phải bày mẹt trên bờ đê, chứ giàu có như cha mẹ các anh các chị mới có tiền mua sạp ngồi trong chợ, nắng mưa không đến mặt, sướng một đời. Sướng ai chẳng muốn, nghèo thì phải biết phận mình. Đứa nào ăn quà của tôi rồi mắc bệnh ho lao anh chỉ mặt cho biết. Đừng có ăn nói hồ đồ.

- Thôi bà ơi, con không đấu khẩu lại bà đâu. Con vẫn nhớ hai câu ca dao bà thường đọc: Đi buôn từ thuở mười hai, trên đời em chẳng yêu ai hơn tiền.

- Ấy là thuận mồm tôi đọc vậy, chứ tôi không phải là hạng người coi tiền hơn tình nghĩa như quan lại thời xưa, cán bộ thời nay… ở cái làng này. Thời nào thì cũng thế, quan nha các loại đều tham tiền, hám gái.

Anh công an biết là đối đáp với bà, từ chỗ chửi xéo bà không ngại gì mà không chuyển sang chửi thẳng vào mặt mình. Bà dám lấy những chuyện dân làng đồn đại về tham ô, trai gái của các nhân viên ủy ban ra mà tế! Anh liền nghiêm mặt, nói thẳng vào vấn đề bằng một câu hỏi:

- Bà có biết hôm nay Ủy ban mời bà lên đây là về việc gì không?

Bà Trưởng Giơi đứng lên, đủng đỉnh đi ra cửa nhổ toẹt miếng trầu đương nhai, rồi ngồi thụp xuống lấy gấu quần lau vội quết trầu dính hai bên mép. Đứng lên quay vào, vừa đi vừa nói, dăn giòng từng tiếng một:

- Tôi làm sao biết được công an xã gọi lên về việc gì. Việc thì không biết, chỉ biết sợ. Nói cho cùng, con dân xã này ai mà dám giỡn mặt với ủy ban. Có việc gì anh cứ hoạch toẹt ra. Không việc gì phải ởm ờ cả.

- Gớm, có gì đâu mà bà nặng lời thế. Con xin nói ngay lý do triệu tập bà hôm nay. Bà có biết anh con nuôi của bà là hạng người nào không?

Bà Mùi bốp chát ngay:

- Anh đừng có xách mé, gọi người ta là hạng này, hạng nọ. Anh ấy là bộ đội cụ Hồ, đánh Đông, dẹp Bắc, quần nhau cả với Tây ở tận trên Điện Biên Phủ ư đấy.

- Ngày xưa anh ấy là bộ đội chúng con biết, nhưng bây giờ anh ta là phần tử phản động chống Đảng chính phủ.

- Anh nói lạ nhẩy, phản động người ta bắt bỏ tù Hỏa Lò, chứ ai cho nhởn nhơ như vậy. Anh có bỏ cái thói “gắp lửa bỏ tay người” đi thì bảo!

Anh công an trừng mắt:

- Đây là trụ sở ủy ban chứ không phải ngoài đường ngoài chợ để bà nói năng lăng loàn. Con nói cho bà biết, nó là thằng phản động chưa đến mức phải cho đi tù, vì là bộ đội phục viên nên Đảng, Chính phủ khoan hồng, bà không biết ngọn nguồn về nó, mới rước anh ta về làm con nuôi. Bà là mẹ liệt sĩ, chính quyền phải có trách nhiệm với gia đình, mới gọi bà lên thông báo cho bà biết. Bà ngồi im để con nói cho bà nghe, nghe xong đầu đuôi, thích cãi bà hẵng cãi. Không ai cấm bà – không ai cấm bà – tự do ngôn luận, tự do tư tưởng. Nước ta là nước dân chủ cộng hòa, độc lập tự do hạnh phúc. Bà là công dân nước này bà có quyền tất cả. Nhưng trước hết bà phải tôn trọng người cai quản việc xóm việc làng, việc dân việc nước đã! Chính phủ lo công việc toàn dân, chúng tôi cấp nhỏ thì lo đời sống cho dân xã, nhất là đời sống chính trị. Chúng tôi biết bà sai mười mươi, không nói cho bà biết để sửa chữa, ngày bà càng sai hơn. Cái sai loang nhanh như dầu hỏa vương vãi trên giấy trắng, bà biết chứ!

Bà Mùi không quen lý luận dông dài. Bà là người của đường phố, chỉ quen ăn tạp nói ngay, ăn to nói lớn, liền cắt ngang lời anh công an.

- Dưng mà anh con nuôi của tôi làm phản động cái gì mới được chứ? Nếu là phản động thật, ngay tối nay tôi đuổi ra khỏi nhà, không chịu đi, tôi cầm hai cẳng tôi quẳng xuống hồ Tây cho cá nó rỉa. Già thì già chứ lão còn khỏe lắm.

- Bà cứ bình tĩnh, tôi nói bà nghe đầu đuôi xuôi ngược: Anh ta là thằng Phùng Quán, tụ tập với một số nhà văn nữa ra báo tuyên truyền chống Đảng, Chính phủ. Tờ báo đó có tên là “nhân văn giai phẩm” và “Mùa xuân mùa thu… giai nhân gì đó”. Bà Mùi vẫn lớn tiếng.

- Thế cái thằng con nuôi tôi nó viết cái gì anh đọc cho tôi nghe, để tôi thấy nó phản động đến cỡ nào, tôi còn biết đường xử với nó, tội nặng xử nặng, tội nhẹ xử nhẹ. Tờ báo nhân văn… gì đó anh vừa nói, anh đưa cho tôi xin một tờ, hai ba tờ càng tốt.

- Bà đừng có hoạnh họe, tôi đâu có biết anh ta viết gì. Cấp trên phổ biến anh ta là phản động chẳng lẽ là sai, tôi phổ biến lại cho bà để bà biết mà cảnh giác, không thì “làm phúc phải tội”. Còn tờ báo của bọn phản động đã tịch thu hết rồi giao cho ông thần hỏa xử lý. Bà đừng có lòe tôi mang báo về đọc. Cả làng này từ đứa trẻ con đến người già cả, ai mà không biết bà mù chữ! Gớm, lại còn hách xì nhằng xin báo mang về nhà đọc!

- Tôi mù chữ là tại đế quốc phong kiến, anh không căm thù đế quốc sài lang mà lại còn to mồm xỉ vả tôi. Tôi sẽ lên huyện trình ông Chủ tịch để ông ấy xử sự với anh… Tôi không đọc được báo đã có con cháu nó đọc cho nghe. Tính tôi cái gì cũng phải “bắt tận tay, xoay tận mặt” chứ không quen thói hồ đồ cả tin.

- Bà đừng có dọa dẫm đưa ông huyện, ông tỉnh ra hù tôi. Nói thật, cả làng này ai cũng biết, thơ ca, hò vè của bà cũng rất là chống đối chế độ – anh công an trừng mắt trấn áp bà lão – tôi đọc bốn câu lục bát này bà lắng nghe nhá: Việt Nam dân chủ cộng hòa/ Quần áo bán trước, cửa nhà bán sau/ Ăn cơm thì ăn với rau/ Đừng ăn với thịt mà đau dạ dày. Có phải là bốn câu của bà không?

- Ừ của tôi chứ còn của ai vào đó. Đây không thèm chối nhá. Bỗng bà Mùi khóc sục sịt, rồi chậm rãi, kể lể rời rạc từng tiếng một: có thằng con trai độc nhất thì nó chết trận để cho thân tôi long đong thế này, ngồi đầu đường đầu chợ bán quà vặt dỗ con nít kiếm miếng ăn. Đang khóc sục sịt bà liền rống lên: con ơi là con ơi, con bỏ mẹ con đi, mẹ ốm mẹ đau, trái nắng dở giời không ai chăm sóc, như nhà các ông ủy ban đây, con đàn cháu đống, vừa hắt hơi sổ mũi đã có người chạy đi mua thuốc, đưa đi bệnh viện. Mẹ đói mẹ nghèo không nơi nương tựa phải cắt bớt vườn tược bán tống bán tháo, quần áo để lấy tiền đong gạo. Con ơi là con ơi, bán gì thì bán chứ bộ quần áo Kaky với cái mũ calô vệ quốc đoàn của con thì mẹ không bao giờ bán. Có bộ quần áo nào còn dùng được cũng phải mang xuống hàng chiếu bán như cho người ta. Thấy thằng Quán hiền lành, siêng năng lại là bộ đội phục viên, nó thua con hai tuổi, nó nhận con là anh, hôm giỗ con vừa rồi không có nó thì mẹ chẳng biết xoay xở làm sao! Ớ, con ơi là con ơi! Thằng Quán nó nhận mẹ là mẹ nuôi chỉ ở đậu chứ không ăn nhờ, nó cũng có sổ gạo, tem phiếu đầy đủ mà lại là tiêu chuẩn cán bộ oai vệ như ai, thế mà hôm nay công an xã lại bắt mẹ đuổi nó đi, làm điều ác nhân ác đức. Đến nước này mai mốt mẹ phải bán nhà, bị gậy lên phố ăn mày. Ôi, trời cao đất dày, con ơi là con ơi! Sao con bỏ mẹ con đi để bây giờ người ta lộng quyền hành hạ mẹ con ơi!

Anh công an xô ghế đứng lên bước vội về phía góc nhà nơi có cái điếu cày. Mấy ông mấy bà ủy ban cũng ngán ngẫm đứng dậy bước ra ngoài hít thở khí trời. Bà Mùi bỗng im bặt. Khóc và kể lể mà không ai thèm nghe thì khóc làm gì cho phí nước mắt, khan cả cổ họng.

Lúc sau xem chừng bà Trưởng Giơi đã nguôi, không kể lể con cà con kê nữa, thối lấy nước mắt và người con liệt sĩ ra làm “vũ khí”, anh công an quay vào.

- Ừ thì túng thiếu bà phải bán vườn tược, quần áo. Cứ cho điều ấy là có thật đi. Mai mốt bà lại bán nhà, ừ, cứ cho là như vậy, không sao cả. Vậy can cớ gì trong thơ bà lại vận “Việt Nam dân chủ cộng hòa” vào.

Bà Mùi tỉnh bơ

- Là cho nó có vần – “Nhà” thì phải “Hòa” cho có vần có điệu.

- Có vần có điệu hay là giọng điệu phản động, con nào mẹ nấy.

- Anh đừng xưng xưng vu vạ. Thằng Quán mới về nhà tôi hơn tháng nay, mấy câu “bắt xắp” đó, tôi nói vần như đời tám hoánh.

Bà Mùi kể lại chuyện vừa diễn ra trên ủy ban cho Phùng Quán nghe. Quán hỏi bà:

- Người ta có hỏi mẹ về chuyện trình báo hộ khẩu không?

- Người ta hỏi làm gì, họ biết tỏng ra rồi là nhà mình có trình báo đầy đủ. Trước khi người ta gọi tôi lên ủy ban, họ đã đi hỏi xóm hỏi làng, dò la từ đứa trẻ con cho đến công an xóm, việc gì người ta cũng biết đầu cua tai nheo cả.

- Thế người ta có hỏi gì về nhà con thứ bảy chủ nhật về đây chơi với mẹ con mình không. Con nghĩ từ nay vợ con ngủ lại tối thứ bảy ta cũng nên trình báo mẹ ạ!

- Anh chẳng phải cẩn thận đến mức đó, vợ chồng ăn ở với nhau là lẽ thường tình. Ngủ có một tối, ở có một ngày, không việc gì phải bẩm báo, vợ anh là cô giáo cấp ba chứ có phải loại đầu đường xó chợ đâu, làng này là làng biết “tôn sư trọng đạo”, anh cứ tin tôi đi. Ấy là tôi nói vậy, còn anh muốn trình báo thì tùy…

Phùng Quán ngồi thừ ra một lúc, ngẫm nghĩ thân phận đời mình, thân phận bè bạn… . Quán nhẹ nhàng:

- Con nghĩ không việc gì mà mẹ phải làm ầm lên, nước mắt ngắn, nước mắt dài với cán bộ ủy ban như thế.

Cụ Trưởng Giơi chậc lưỡi:

- Tôi phải bù lu bù loa lâu như thế cho họ kiềng cái mặt tôi ra. Tôi già rồi, thân cô thế cô, không làm vậy để cho chúng bắt nạt à. Bắt nạt một lần, được thể chúng nó lấn tới bắt nạt tiếp tiếp là mình thua. Hôm trước tôi ngồi trong bếp nấu cơm, nghe lỏm anh đọc cái truyện gì ấy cho vợ anh nghe. Tôi cũng thích cái đoạn, thằng bé người quê anh, mới mười ba mười bốn tuổi mà khôn đáo để. Cái thằng bé hoạt động trong đội thiếu niên gì đó, bị Tây bắt, bỏ tù, tra tấn. Tây đánh một, nó la mười. Tây đánh mười, nó la một trăm. Tây vừa vung roi chưa kịp đánh, nó đã la làng. Tôi thích cái câu văn của anh “người ta mạnh đòn, mình phải mạnh miệng”. Ấy đấy, thằng bé này nó cũng giống tính tôi hay là tính tôi giống tính nó cũng được. Mình ít chữ thì phải biết mạnh miệng, cho chúng nó kệch mình ra.

Phùng Quán suýt phì cười:

- Đó là chuyện giữa Tây với ta, chứ ủy ban là ta, mẹ là ta, việc gì phải làm thế!

Bà Trưởng Giơi cả cười:

- Đúng , anh là cái ngữ suốt ngày ru rú ở nhà, rồi cụ lên giọng đọc câu lục bát, cụ tặng Phùng Quán cách đây mấy hôm công danh hai chữ lờ đờ, bế con cho vợ để nhờ miếng ăn  nên chẳng biết cái gì sất. Anh cứ ra chợ mà xem mấy bà bán hàng rong đối đáp với mấy ông thuế vụ. Thuế vụ vừa mới đặt nhẹ tay vào đôi quang gánh là các bà ấy giật ra ngay, xông tới xô cho thuế vụ ngã dúi, ngã dụi. Thế là anh thuế vụ đứng dậy phủi bụi, lầu bầu mấy câu rồi cắp đít bỏ đi. Bà hàng rong nào mà dại dột, thưa bẩm tử tế là nó rút sổ ra ghi biên lai phạt liền. Anh thấy chưa, ra với đời là phải biết bà chằng, nặc nộ chứ hiền lành chỉ thua thiệt. Ấy là tôi nói vậy, “khôn ngoan đối đáp người ngoài/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”.

Nói đến đó bà cụ xách rổ rau đi ra bờ ao hút hút ngoài ngõ. Phùng Quán quá rành tính nết của cụ, nói chuyện bao giờ cũng phải vận lục bát. Có khi lục bát mở đầu câu chuyện. Nói dăm ba câu phải trái lại vận ca dao hò vè. Kết thúc câu chuyện bao giờ cũng bằng một câu lục bát răn dạy việc đời. Cấm có câu nào, cụ nói trật… chủ đề.

Mỗi lần có bè bạn đến chơi Quán thường đưa quyển sổ ghi chép ra đọc cho nghe những câu vè, những câu nói lối, những câu ca dao mà mẹ nuôi của anh thường hay đưa ra vận dụng vào các câu chuyện, thường là rất đúng chỗ, rất hợp cảnh hợp người của diễn biến sự việc. Những câu này chưa có trong các sưu tập ca dao tục ngữ của Vũ Ngọc Phan. Theo Phùng Quán, mẹ nuôi của mình là nhà sưu tập, nhà sáng tác vĩ đại, một trong những người xứng đáng đại diện cho các tác giả văn học dân gian Việt Nam. Cụ thường nhặt những câu tục ngữ, ca dao ở ngoài chợ, ngoài đường. Nhặt để chơi, để nhớ, để vận dụng vào các câu chuyện giữa bà con lối xóm, giữa bà con họ hàng, giữa hai mẹ con với nhau. Ai thích thì thuộc, chứ từ trong thâm tâm cụ không có ý phổ biến những câu này. Phần lớn những câu đó là do cụ sáng tác tức thì, cụ vận dụng không bao giờ trật. Như hôm nọ, anh chàng Hồ Lý Thụy đến chơi cụ biết nó vừa bị vợ đi ngoại tình, vui chuyện cụ trao đổi dăm câu điều hơn lẽ thiệt khuyên bảo chàng Thụy đừng buồn về cái sự đời diễn ra như thế, kết thúc câu chuyện cụ đọc ngay: Khi xưa ngọc ở tay ta/ Ta nuôi không tốt ngọc sa tay người/ Ai ơi được ngọc chớ cười/ Ta nuôi không tốt để người khác nuôi. Cụ đi rồi, anh chàng Thụy liền bảo với Phùng Quán: nhà này có hai nhà văn, nhà văn “quốc doanh là” cậu, nhà văn dân gian là cụ. “Quốc doanh” làm sao bằng dân gian được./.

............................

Nguồn: Xuân Đài. Chuyện Cà kê. NXB Hội Nhà Văn.2014.