Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới đạo đức nói chung, đạo đức công vụ nói riêng. Một ngày sau Tuyên ngôn độc lập, Người đã nói đến nhiệm vụ cấp bách là giáo dục lại nhân dân chúng ta, làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.

 Người đã đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Và nửa tháng sau đó, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (17-9-1945), Người đã nói đến một trong những khuyết điểm to nhất là hủ hóa. Trong thư Người viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng). Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”[1]. Tiếp đó, ngày 19-9-1945, Người viết bài Chính phủ là công bộc của dân với tinh thần: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì phải làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”[2].

Một câu hỏi lớn đặt ra ngay từ những ngày đầu, tháng đầu sau ngày độc lập là “Sao cho được lòng dân?”. Và câu trả lời của Hồ Chí Minh là “trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”. Ngày 20-5-1950, Người đã ký Sắc lệnh 76/SL ban hành Quy chế công chức Việt Nam. Trong Lời nói đầu của Quy chế Công chức viết: “Công chức Việt Nam là những công dân Việt Nam giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân... Công chức Việt Nam phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc”. Điều 2 của Quy chế Công chức quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước. Công chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức công vụ không phải vì đạo đức theo kiểu tư duy nho giáo, dẫn đến “đức trị” và sự tôn sùng cá nhân, ngược lại, đạo đức thống nhất với chính trị, phục vụ nhiệm vụ chính trị. Tu dưỡng và rèn luyện đạo đức công vụ phải hướng tới vì cuộc sống tốt đẹp của nhân dân, cán bộ công chức phải đặt lên hàng đầu ý thức và tinh thần trách nhiệm hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Theo Hồ Chí Minh, ý thức trách nhiệm trước hết là phải nhận thức về tính chất, ý nghĩa, tầm quan trọng của công việc mình làm, mà ý nghĩa lớn lao nhất là phải xác định cái gì lợi cho dân là chân lý, phục vụ nhân dân là chân lý, từ đó phải tận tâm, tận lực làm tròn phần việc được giao. Nếu kết quả không tốt thì phải chịu trách nhiệm, đặc biệt là người đứng đầu.

Thứ hai, phải có sự ràng buộc giữa lời nói và hành vi của mình, bảo đảm nói đi đôi với làm, nói thì phải làm và làm cho tốt.

Thứ ba, phải nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để tự mình thực hiện tốt và để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng thực hành.

Thứ tư, mọi suy nghĩ và hành động của công chức phải đi đúng đường lối quần chúng - một nét đặc sắc trong tư duy Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ. Có thể coi đó là minh triết Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ. Hồ Chí Minh cũng nói đến đường lối của Đảng nhưng lại nhấn mạnh “theo đúng đường lối nhân dân” với sáu điều:

“Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”[3]

Thứ năm, phụ trách trước nhân dân. Chúng ta thường đặt việc phụ trách trước Đảng và Chính phủ lên trên hết, thậm chí là duy nhất. Với triết lý về dân “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” và quan điểm dân là gốc, bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, Người viết: “Có người nói rằng: mọi việc họ đều phụ trách trước Đảng, trước Chính phủ. Thế là đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Họ phụ trách trước Đảng và Chính phủ, đồng thời họ phải phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ vì dân mà làm các việc, và cũng phụ trách trước nhân dân. Vì vậy, nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ”[4].

Như vậy, đạo đức công vụ, trách nhiệm công chức không phải thụ động, ngoan ngoãn, một chiều phụ trách trước Đảng và Chính phủ. Bởi vì không phải cái gì Đảng và Chính phủ cũng đều đúng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu trong những chính sách, những chỉ thị, những khẩu hiệu của cấp trên, có gì khuyết điểm, cán bộ phải có tinh thần phụ trách trước nhân dân mà đề nghị những chỗ nên sửa đổi. Không làm như vậy, tức là cán bộ không phụ trách trước nhân dân, mà cũng không phụ trách trước Đảng và Chính phủ”[5].

Thứ sáu, là thực hành tiết kiệm, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tiết kiệm không đơn thuần chỉ là tiền bạc, vật chất, thời gian mà còn rất quan trọng là sắp xếp, bố trí, phân phối công việc, kể cả phân phối cán bộ. Nếu  không bố trí đúng người, đúng việc theo kiểu “thợ mộc làm thợ rèn, thợ rèn làm thợ mộc” khiến cho cả hai người đều lúng túng, không hoàn thành nhiệm vụ. Người tài không được sử dụng đúng chỗ là lãng phí chất xám, đây là lãng phí lớn nhất xét dưới góc độ phát triển bền vững.

Cán bộ công chức phải luôn luôn thực hành chữ liêm, chống tham ô, tham nhũng để làm kiểu mẫu cho dân. Theo Hồ Chí Minh, nhân dân, dù muốn tham nhũng cũng không thể, mà chỉ có thể tham ô. Còn cán bộ - có quyền - mới có điều kiện tham nhũng (Hồ Chí Minh gọi là nhũng lạm). Cán bộ có chức vụ cao càng có điều kiện tham nhũng lớn. Người viết: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”[6]. Liêm và kiệm đi đôi với nhau. Vì xa xỉ mà sinh ra tham lam. Đó không chỉ là tham tiền, của cải, vật chất. Những thứ đó chỉ là ngọn. Cái gốc rễ chính là “tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên... Dìm người giỏi để giữ địa vị và danh tiếng của mình... Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm”[7]. Từ cái tham gốc rễ đó dẫn đến “cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút”.

Thực hành đạo đức công vụ đặc biệt phải tẩy sạch bệnh quan liêu. Nguyên nhân của bệnh quan liêu là do “xa nhân dân: do đó không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân. Khinh nhân dân: cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình. Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sữa chữa. Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng, không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được. Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cục). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông. Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân”[8].

Biểu hiện của bệnh quan liêu, đối với nhân dân thì chỉ biết dùng mệnh lệnh, ép dân chúng làm. Đối với việc, chỉ biết tổ chức hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị. Đối với mình thì nói một đường làm một nẻo, chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, không lo phụng sự nhân dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình, trước mặt quần chúng thì lên mặt “quan cách mạng”. Điều đáng lưu ý là bệnh quan liêu “ấp ủ, dung túng, che chở cho tham  ô, lãng phí. Bệnh quan liêu gieo hạt, vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở”. Vì vậy, muốn trừ sạch tham ô, lãng phí, trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu. Bệnh quan liêu, mệnh lệnh trái hẳn với tinh thần trách nhiệm, trái hẳn với đạo đức công vụ.

Vấn đề đặt ra là hiện nay đạo đức công vụ đang có chiều hướng suy thoái. Cần nhận thức rằng đây chính là nguy cơ hàng đầu làm suy thoái Đảng và Nhà nước để có giải pháp giáo dục, nâng cao đạo đức công vụ cho cán bộ, công chwucs trong các cơ quan, đoàn thể của Đảng và Nhà nước.
 


[1]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.21.

[2]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.4, tr.22.

[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.6, tr.293.

[4]Hồ Chí Mkinh: Toàn tập, Sdd, t.5, tr.294.

[5]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.5, tr.294.

[6]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.5, tr.641.

[7]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.5,tr.640-641.

[8]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.6, tr.292-293.