Tin tức

Xã Đại Đồng đón nhận bằng xếp hạng “Di tích lịch sử văn hóa” cấp tỉnh Đền Cả

Chiều tối ngày 4/3 (ngày 16 tháng Giêng Bính Ngọ), xã Đại Đồng đã long trọng tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng “di tích lịch sử văn hóa” cấp tỉnh Đền Cả và kỷ niệm truyền thống 495 năm làng Lãng Khê.

 

Quang cảnh buổi lễ

 

Về dự lễ có các ông: Nguyễn Nam Đình - Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh, Bùi Công Vinh - Phó Giám đốc Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng đông đảo cán bộ nhân dân trong xã và con em đang học tập, công tác, sinh sống khắp mọi miền đất nước.

Các đại biểu và nhân dân, du khách về dự lễ đón bằng

Đền Cả - Lãng Khê nay thuộc thôn Đông Thượng, xã Đại Đồng, tỉnh Nghệ An được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng, là nơi thờ Đức Thánh Cả và các vị tiền nhân có công lớn trong việc mở mang, khai khẩn đất đai, chiêu dân lập ấp, xây dựng và phát triển làng xã.

Theo các tài liệu cổ và hồ sơ di tích, Đức Thánh Cả tên thật là Nguyễn Thù, húy Nguyễn Châu Chu, thụy Phong Công, người làng Bình Hồ, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay là làng Bình Hồ, xã Xuân Trúc, tỉnh Hưng Yên). Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình dòng dõi, nhiều đời khoa cử, làm quan. Năm 1487, khoa thi Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 18, triều vua Lê Thánh Tông, ông thi đỗ đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Tên của ông được khắc trên văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội.

Sau khi thi đỗ Tiến sĩ, Nguyễn Thù được triều đình Lê Sơ trọng dụng, lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như: Cẩn sự lang, Giám sát ngự sử, Hộ khoa Cấp sự trung, Tả phủ phán, Tham chính, Chính sứ tán trị, Thừa chính sứ ty... Bằng tài năng và đức độ, lòng trung thành và sự liêm khiết của mình, Nguyễn Thù được triều đình Lê Sơ hết mực tin tưởng, trọng dụng, dân chúng tuân phục, ủng hộ. Sắc phong niên hiệu Chính Hòa thứ 4 (1683) có đoạn viết: “Ngài là rường cột quốc gia, nhân tài trọng trách triều đình, phẩm chất liêm khiết sáng rọi, giữ nước vững vàng như Thái Sơn”.

Những năm đầu thế kỷ XVI, nhà Hậu Lê suy yếu, Mặc Đăng Dung tiếm ngôi vua Lê; vì chán cảnh quan trường và trốn sự truy lùng của nhà Mạc, ông từ quan về quê ở Hải Hưng, sau đó cùng với gia đình chạy loạn đến xứ Đồng Luân, tổng Đại Đồng, trấn Nghệ An (nay là xã Đại Đồng, tỉnh Nghệ An). Cùng đi với ông còn có người của 4 dòng họ khác là Trương, Nguyễn Đình, Trịnh, Đỗ,…Tại đây, thấy cảnh thế núi sông hùng vĩ, giao thông thủy bộ thuận lợi nên đoàn đã dừng chân, tổ chức khai khẩn đất đai, định danh điền địa, chiêu mộ dân cư, lập làng lập xóm với tên gọi là làng Lãng Khê.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của Nguyễn Thù, trải qua nhiều năm tháng chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, thú dữ và giặc giã, dưới bàn tay lao động cần mẫn, sáng tạo từ một vùng quê hoang vắng, tứ bề gò đồi nối tiếp, mảnh đất Lãng Khê đã nên hình, nên thế, là nơi quần tụ của một vùng dân cư phong phú, đông đúc, thuộc vào hạng “nhất thôn, nhất xã”. Tưng nhớ công lao to lớn của ông trong việc “khai sơn, phá thạch, dạy dân dẫn thủy, nhập điền”, Nhân dân làng Lãng Khê đã tôn ông làm Thành hoàng làng, lập đền thờ phụng. Các triều đại phong kiến đã truy phong cho ông là “Bản cảnh Tả phủ phán thành hoàng, Uyên mô duệ trí, hoằng tạo bình thành đại vương, sắc phong hiển ứng phù chính, bảo quốc hộ dân, đôn ngưng chính trực, dực bảo trung hưng linh phù trác vĩ Thượng, Thượng đẳng tối linh tôn thần”.

Ngoài ra, trong đền còn hợp tự một số vị thần khác như: Bản cảnh Lạng Sơn - Bạch y Công chúa; Bản cảnh Đào Sơn tam động; Bản cảnh Thạch Sơn - Yên Hạ; Bản cảnh Lô Sơn; Bản cảnh Voi Sơn. Đặc biệt là Bản cảnh Viên Sơn - Giáo thụ Trịnh Kiệm (thầy dạy học của cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh),...

Đền Cả là một công trình kiến trúc cổ, có quy mô, tọa lạc trên một khu đất rộng hơn 6000m2 với 3 tòa Hạ điện, Trung điện và Thượng điện, cùng nhiều công trình phụ trợ khác. Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, di tích nhiều lần được trùng tu, tôn tạo: Niên hiệu Tự Đức thứ 26 (1883), trùng tu Thượng điện; Niên hiệu Tự Đức thứ 14 (1861), xây dựng Hạ điện; Niên hiệu Bảo Đại thứ 2 (1926) trùng tu Trung điện,..

Mặc dù, bị ảnh hưởng bởi bom đan chiến tranh, phong hóa tự nhiên, sự tàn phá của con người, song di tích vẫn giữ được nét uy nghiêm, cổ kính. Đặc biệt, các hạng mục kiến trúc bằng gỗ của di tích với các đường nét hoa văn chạm trổ sắc sảo, đề tài điêu khắc phong phú, đa dạng có tính thẩm mỹ cao chứa đựng nhiều giá trị về mặt kiến trúc, nghệ thuật. Trong đền, hiện còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật cổ có giá trị như: Long ngai, Bài vị, Hương án, tài liệu chữ Hán,… Hằng năm, tại đền diễn ra nhiều kỳ lễ quan trọng như: lễ Khai hạ (mùng 7 tháng Giêng), lễ Kỳ phúc (mùng 6 tháng 6), lễ Đông tế (ngày lành trong tháng 11), lễ Chạp đền (ngày mùng 1 tháng chạp),… Trong đó, lễ Chạp đền là lễ hội chính, có quy mô lớn nhất, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương về chiêm bái, thắp hương, tưởng niệm.

Lễ rước bằng về Đền đã được tổ chức rất long trọng

Từ một vùng đất hoang vắng sau gần 500 năm,làng Lãng Khê đã đổi tên thành Đông Thượng. Hiện tại, làng có 205 hộ, 784 nhân khẩu. Các thế hệ cán bộ, Nhân dân Đông Thượng đã có nhiều đóng góp xứng đáng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương…có nhiều người là giáo sư, tiến sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, nhà quản lý, doanh nhân thành đạt.

Ông Nguyễn Nam Đình - Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh và ông Bùi Công Vinh - Phó Giám đốc Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch trao bằng cho địa phương

 Với những ý nghĩa lịch sử và văn hóa, ngày 26/02/2026 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 684b QĐ/UBND công nhận Đền Cả là di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh. Thừa ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh, các ông: Nguyễn Nam Đình - Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh, Bùi Công Vinh - Phó Giám đốc Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trao bằng cho địa phương.

Ông Bùi Công Vinh - Phó Giám đốc Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch phát biểu tại buổi lễ

Phát biểu tại buổi lễ, ông Bùi Công Vinh đã chúc mừng cán bộ, Nhân dân xã Đại đồng, làng Đông Thượng và yêu cầu địa phương phải làm tốt công tác quản lý nhà nước đối với Đền Cả nói riêng, các di tích khác trên địa bàn nói chung. Tích cực tuyên truyền, quảng bá sâu rộng giá trị di tích; thường xuyên phối hợp kiểm tra chống xâm hại, xâm phạm di tích, bảo vệ an toàn hiện vật hiện có. Đồng thời, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp cả về vật chất lẫn tinh thần làm cho di tích ngày càng khang trang, sạch, đẹp, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, văn minh, hiện đại; xây dựng quê hương Đại Đồng phồn vinh, phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của bà con nhân dân và du khách thập phương.

 

tin tức liên quan

Thống kê truy cập

114684160

Hôm nay

2247

Hôm qua

2412

Tuần này

21469

Tháng này

224789

Tháng qua

1114335874

Tất cả

114684160