Góc nhìn văn hóa

Bác Hồ trở về nước lãnh đạo cách mạng - Ý nghĩa lịch sử và giá trị bền vững

Bác Hồ trở về nước ngày 28/01/1941, trực tiếp lãnh đạo cách mạng là một sự kiện đặc biệt, một dấu mốc trọng đại, có ý nghĩa lịch sử to lớn và giá trị bền vững đối với cách mạng Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử phát triển của dân tộc. Thay mặt Quốc tế Cộng sản, Người đã chủ trì Hội nghị Trung ương 8 để bàn bạc và quyết định hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng Đông Dương; nhiệm vụ trước hết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải giành cho được độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc cho đồng bào, đáp ứng yêu cầu khẩn cấp của vận mệnh dân tộc và nguyện vọng khát khao nhất của Nhân dân, phù hợp với tình hình thực tiễn trong nước và thế giới. Kết quả Hội nghị đánh dấu bước tiến mới trong tư duy cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng, được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ra sức phấn đấu thực hiện, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử, đầu tháng 9/1858, thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược và từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến độc lập, có chủ quyền thành nước thuộc địa, nửa phong kiến. Với truyền thống yêu nước và ý chí kiên cường, bất khuất, các phong trào chống thực dân Pháp của Nhân dân ta diễn ra liên tục và sôi nổi. Phong trào Cần Vương theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến lãnh đạo đã chấm dứt vào cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (năm 1896). Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của cụ Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm (1884 - 1913) đã tạo tiếng vang rất lớn nhưng cuối cùng cũng bị dập tắt. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh khởi xướng cũng rơi vào bế tắc, không thể đi đến thành công. Các phong trào yêu nước này là sự tiếp nối và thể hiện rõ nét truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, “không chịu mất nước”, “không chịu làm nô lệ”. Tuy nhiên, do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn và giai cấp lãnh đạo tiên tiến, do sự tương quan lực lượng quá chênh lệch giữa ta và thực dân Pháp, cũng như sự chia rẽ, thiếu đoàn kết và cách thức đấu tranh còn hạn chế nên các phong trào đó đã lần lượt bị thất bại. Cách mạng Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước, bế tắc như trong đêm tối không có đường ra.

Chính khi đất nước ta đang chìm đắm trong đêm tối của chế độ thuộc địa, phong kiến, giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước, nhiều nhà cách mạng đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 05/6/1911, tại Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với khát vọng cháy bỏng cứu nước, cứu dân khỏi “nước sôi, lửa nóng”, đã bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Với hành trang mang theo mình là chủ nghĩa yêu nước, cùng với trí tuệ thiên tài, hòa mình với cuộc sống của nhân dân lao động trên khắp các châu lục, Người đã không ngừng quan sát, tổng kết và đúc rút ra nhiều kết luận quan trọng về chủ nghĩa thực dân, về bạn - thù của cách mạng... Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã gia nhập Đảng Xã hội Pháp vì theo Người, đây là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý: “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”, là tổ chức có tiếng nói bênh vực nhân dân các nước thuộc địa. Ngày 16 và 17/7/1920, báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp đăng toàn văn “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin, Người đã đọc và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Sau này, Người kể lại: “Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”[1].

Nguyễn Ái Quốc vinh dự là đại biểu duy nhất của Đông Dương được cử đi dự Đại hội toàn quốc lần thứ 18 Đảng xã hội Pháp tại thành phố Tua (tháng 12/1920). Phát biểu tại Đại hội, Người kịch liệt tố cáo bọn đế quốc đã gây ra những tội ác dã man đối với Nhân dân Đông Dương và đề nghị Đảng xã hội cần phải hành động một cách thiết thực để ủng hộ những người bản xứ bị áp bức, Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa... Và cũng tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ ba và Người trở thành một trong những sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu sự chuyển biến trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường cộng sản. Từ đây, Người trăn trở tìm con đường, phương pháp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, xúc tiến thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, kết quả là ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đây là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.

Cuối những năm 30 thế kỷ XX, khi tình hình thế giới và Đông Dương có những chuyển biến lớn, phong trào đấu tranh của Nhân dân Việt Nam đang phát triển mạnh, Người nhận thấy đây là thời cơ thuận lợi để đấu tranh giành quyền độc lập, tự do, vì vậy, Người gấp rút chuẩn bị về nước thực hiện khát vọng đã ấp ủ từ năm 1923: “Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”[2]. Tuy nhiên, những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã bị chính quyền thực dân theo dõi, kiểm soát gắt gao, như Người đã viết trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18/02/1930: “Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam “Quốc dân Đảng””[3]

Mặc dù vậy, Người vẫn luôn giữ liên lạc và theo dõi sát sao tình hình trong nước để tìm thời điểm thích hợp trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Ngày 29/9/1938, Nguyễn Ái Quốc rời Mátxcơva với nhiệm vụ “đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương”. Đây chính là thời cơ để Người tìm cách trở về Tổ quốc. Đầu năm 1940, với các bí danh “Hồ Quang”, “ông Trần”, Người đến Côn Minh (thuộc Vân Nam, Trung Quốc) để bắt liên lạc với các đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đang hoạt động tại đây để chuẩn bị điều kiện về nước hoạt động. Đầu tháng 01/1941, Người về sát biên giới Việt - Trung và trước khi vượt biên giới về nước, Người tiến hành huấn luyện cho hơn 40 thanh niên Cao Bằng tại làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Đến ngày 28/01/1941, Nguyễn Ái Quốc cùng một số cán bộ, vượt qua cột mốc 108 (nay là cột mốc 675) biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng - vùng đất “phên giậu” phía Đông Bắc của Tổ quốc, là nơi hội tụ đủ cả “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Đây là thời khắc vô cùng trọng đại đối với lịch sử cách mạng Việt Nam. Sự kiện đó đã đáp ứng đòi hỏi khách quan của phong trào cách mạng trong nước, sự phát triển của tiến trình lịch sử đấu tranh giành độc lập, giải phóng của các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Ý nghĩa và giá trị bền vững của sự kiện Bác Hồ về nước đối với cách mạng Việt Nam được thể hiện ở các nội dung sau:

Thứ nhất, sự kiện có ý nghĩa to lớn trong góp phần hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, khởi đầu cho những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Ngay sau khi về nước, Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị Trung ương 8 từ ngày 10 đến 19/5/1941. Hội nghị đã nhận định, đánh giá khách quan, chính xác về tình hình thế giới và đưa ra dự báo thiên tài “nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”[4]. Hội nghị chỉ rõ: “Trong giai đoạn hiện tại ai cũng biết rằng: nếu không đánh đuổi được Pháp - Nhật thì vận mạng của dân tộc phải chịu kiếp trâu ngựa muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được”[5]. Từ đó, Hội nghị quyết định chuyển hướng mục tiêu đấu tranh từ đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ hằng ngày lên mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc. Đảng khẳng định vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương lúc này là phải tập trung lực lượng đánh đổ đế quốc và tay sai phản động, giải phóng dân tộc.

Sự sáng tạo của Đảng trong chuyển hướng chỉ đạo là thực hiện nhiệm vụ chống phong kiến và nhiệm vụ dân chủ khác rải ra làm từng bước, phục tùng và phục vụ cho nhiệm vụ hàng đầu là chống đế quốc giải phóng dân tộc. Đây là bước phát triển tư duy lý luận của Đảng so với thời kỳ trước. Sự chuyển hướng nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng là nội dung quan trọng nhất trong chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng thời kỳ 1939-1945. Để có được đường lối đúng đắn đó thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng và sự đóng góp to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, Đảng lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Thứ hai, sự kiện có ý nghĩa to lớn trong nắm, dự báo và lựa chọn thời cơ tiến hành cách mạng

Trước hết là về thời điểm Nguyễn Ái Quốc lựa chọn để trở về Tổ quốc là lúc tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến chuyển mau chóng, nhất là sự kiện Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức (tháng 6-1940), Người nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”[6]. Như vậy, với trí tuệ mẫn tiệp, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sớm nhận biết thời cơ cách mạng đã đến, Người chủ động về nước để lãnh đạo cách mạng. Sau khi về nước, Hồ Chí Minh luôn theo dõi tình hình thế giới, trong nước để xác định thời cơ tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Người căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp tại lán Nà Nưa: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập[7].

Hồ Chí Minh là thiên tài trong nắm bắt thời cơ, quy tụ các yếu tố thiên thời, địa lợi nhân hòa và chính tinh hoa trí tuệ, năng lực lãnh đạo của Người cùng với Đảng kịp thời lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi - một trong những “chiến công hiển hách và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc Việt Nam. Đánh giá về Hồ Chí Minh, ông Gớt Hôn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ, đã nhận định: “Đồng chí Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử, với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vì vậy mà đồng chí làm ra lịch sử… Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc lịch sử loài người đang ở bước ngoặt có tính chất cách mạng nhất”[8].

Thứ ba, sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức chuẩn bị, xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng

Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ sự cần thiết thành lập mặt trận để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, như Võ Nguyên Giáp đã viết: “Trong những ngày ở Quế Lâm, có lần Bác bàn với chúng tôi: Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết toàn dân giải phóng dân tộc càng quan trọng. Ta phải nghĩ đến việc lập một hình thức mặt trận thật rộng rãi, có tên gọi cho thích hợp. Việt Nam Giải phóng đồng minh? Việt Nam phản đế đồng minh? Hay là Việt Nam độc lập Đồng minh? có thể gọi tắt là Việt Minh cho Nhân dân dễ nhớ”[9]. Ngay sau khi về nước, Người đã chỉ đạo thực hiện thí điểm thành công tại ba châu: Hà Quảng, Hòa An và Nguyên Bình thuộc Cao Bằng. Trên cơ sở đó, Người đưa ra để Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) với chủ trương: “Vậy lực lượng cách mạng Đông Dương hiện nay là gì? Chính là Nhân dân Đông Dương, không phân biệt dân tộc nào, giai cấp nào. Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật cũng không phải riêng của giai cấp vô sản và dân cày, mà là nhiệm vụ chung của toàn thể Nhân dân Đông Dương”[10].

Nhằm khuyếch trương Mặt trận Việt Minh, kêu gọi toàn dân đoàn kết ngày 06/6/1941, Hồ Chí Minh viết thư “Kính cáo đồng bào”, trong đó Người chỉ rõ: “Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”[11]. Cùng với đó, Hồ Chí Minh đã đăng nhiều bài viết trên báo Việt Nam độc lập trên nhiều số, với tiêu đề “Việt Nam độc lập”, “Dân cày”, “Phụ nữ”, “Trẻ con”, “Công nhân”, “Ca binh lính”, “Nên học sử ta”... để kêu gọi các giới đồng bào đoàn kết cứu nước.

Đồng thời với việc xây dựng, phát triển các đoàn thể cứu quốc ra cả nước, Nguyễn Ái Quốc cùng Đảng ta chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang với những hình thức từ thấp đến cao, trên cơ sở lực lượng chính trị của quần chúng. Người đã đề nghị Tỉnh ủy Cao Bằng chọn các hội viên cứu quốc tích cực, hăng hái, có năng lực đi đào tạo dài hạn tại các trường quân sự ở Tĩnh Tây, Điền Đông (Quảng Tây, Trung Quốc), đây là những hạt nhân nòng cốt trong lực lượng vũ trang ở Cao Bằng cũng như của căn cứ địa cách mạng Cao - Bắc - Lạng và khu giải phóng sau này. Một số học viên này sau được lựa chọn vào Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) thành lập ngày 22/12/1944.

Thứ tư, sự kiện để lại bài học có ý nghĩa sâu sắc trong xây dựng các căn cứ địa cách mạng chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngay sau khi về nước, Hồ Chí Minh đã lựa chọn Cao Bằng là nơi xây dựng căn cứ địa cách mạng. Bởi vì Người nhận thấy, vị thế quan trọng và phong trào cách mạng khá vững của Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định chọn nơi đây đặt đại bản doanh để từ đó chỉ đạo phong trào cách mạng toàn quốc. Cao Bằng có phong trào cách mạng tốt từ trước và từ ngày có Đảng, đồng bào các dân tộc ở Cao Bằng luôn một lòng theo Đảng, không ngừng đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Ngay sau khi Đảng ra đời, ngày 01/4/1930, chi bộ cộng sản đầu tiên ở Cao Bằng là chi bộ đầu tiên ở vùng Việt Bắc. Đến năm 1935, tại Cao Bằng đã có 10 chi bộ hoạt động ở 5 huyện, trong đó có chi bộ giữ mối liên lạc với chi bộ hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Long Châu (Trung Quốc); đồng thời có nhiều tổ chức “Cộng sản đoàn”, “Công hội đỏ”, “Nông hội đỏ”, “Hội bản”, “Hội làng”... được thành lập ở nhiều nơi. Đây được coi là “hàng rào quần chúng” vững chắc để duy trì, củng cố và phát triển phong trào cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tấn công, lúc khó khăn có thể giữ”[12]. Từ đây, Người chỉ đạo mở rộng căn cứ địa, tạo chỗ đứng chân cho Trung ương Đảng, các đảng bộ và lực lượng vũ trang chuẩn bị khởi nghĩa.

Sự kiện Bác Hồ trở về Tổ quốc mùa xuân năm 1941 để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cho thấy tầm nhìn chiến lược của vị lãnh tụ thiên tài. Đồng thời, những hoạt động của Người ngay sau khi trở về Tổ quốc đã tạo ra bước ngoặt to lớn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX và để lại những bài học vô cùng quý giá, có ý nghĩa to lớn, giá trị bền vững. Đó là bài học giá trị về xây dựng thế trận “lòng dân” vững chắc, ủng hộ, bảo vệ Đảng và cách mạng; ý nghĩa trong đoàn kết, tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi; nắm bắt thời cơ; xây dựng căn cứ địa cách mạng... Những bài học này còn nguyên tính thời sự, tiếp tục soi sáng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, hùng cường, văn minh của dân tộc; quyết tâm phấn đấu đến năm 2045, nước ta trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

 



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.562.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 1, tr.209.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 3, tr.13.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Trung ương Hội nghị lần thứ tám Đảng Cộng sản Đông Dượng”, Văn kiện Đảng toàn tập, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, tập 7, tr.100.

[5]  Đảng Cộng sản Việt Nam, “Trung ương Hội nghị lần thứ tám Đảng Cộng sản Đông Dượng”, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 7, tr.119.

[6] Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, “Những ngày gần bác” (Vũ Anh), Bác Hồ về nước,1986, tr.15.

[7] Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử. Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, 2012, tr.224.

[8]  Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970, tập 1, tr.78.

[9] Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Sđd, tr. 35-36.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Trung ương Hội nghị lần thứ tám Đảng Cộng sản Đông Dượng”, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 7, tr.118.

[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 3, tr.230.

 

[12] Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Sđd, tr.37.

tin tức liên quan

Thống kê truy cập

114670129

Hôm nay

2739

Hôm qua

2356

Tuần này

21095

Tháng này

231825

Tháng qua

0

Tất cả

114670129