Góc nhìn văn hóa
Sức mạnh hậu phương - nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ
“Hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh” (V.I. Lê nin).
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng của bản lĩnh chính trị, chiến thắng của tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của sức mạnh và trí tuệ Việt Nam; chiến thắng của thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam, trong đó hậu phương giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc xây dựng hậu phương vững mạnh đã tạo thành sức mạnh to lớn làm nên chiến thắng vĩ đại. Vai trò đặc biệt quan trọng của yếu tố hậu phương đã được thể hiện rõ trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Theo quy luật của chiến tranh thì mạnh được - yếu thua, vì vậy, muốn có sức mạnh để chiến thắng phải phát huy sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố trong đó có hậu phương là nhân tố cơ bản, thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh và điều đó hoàn toàn đúng trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, bởi chúng ta đã phát huy cao độ sức mạnh của hậu phương chi viện cho tiền tuyến. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ cho thấy, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng hậu phương chiến tranh, góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh to lớn đánh thắng kẻ thù xâm lược. Người chỉ rõ: “Chiến sĩ hy sinh xương máu để giữ đất nước. Bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc. Làm ra gạo thóc cho chiến sĩ ăn, làm ra vải vóc cho chiến sĩ mặc. Đều nhờ nơi đồng bào ở hậu phương. Muốn giúp cho chiến sĩ ăn mặc đầy đủ, thì phải ra sức tăng gia sản xuất, nuôi nhiều gà, vịt, lợn, bò, giồng nhiều lúa, khoai, ngô, đậu. Hậu phương thắng lợi, thì chắc tiền phương thắng lợi” [1].
Thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho thấy, tính đến năm 1952, sau 7 năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân Pháp đã bị thiệt hại hơn 30 vạn binh lính và sĩ quan. Từ các kế hoạch của Lơcơléc, Valuy, Đácgiăngliơ đến kế hoạch Bôla, Pinhông, Rơve, Tatxinhi đã liên tiếp bị phá sản. Cuộc chiến tranh không trận tuyến của thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam đánh cả trước mặt và sau lưng địch, cả ở nông thôn và thành thị đã làm cho quân Pháp mệt mỏi, suy yếu. Chính phủ Pháp theo đó mà dựng lên đổ xuống 17 lần, với 5 Cao uỷ và 6 viên Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương lần lượt bị triệu hồi.
Trước sự thất bại liên tiếp của quân Pháp trên chiến trường Đông Dương, dư luận của Nhân dân Pháp ngày càng phản đối và chán ngán với cuộc chiến tranh đau thương này. Nhằm cứu vãn danh dự và hòng thay đổi cục diện trên chiến trường Đông Dương, thực dân Pháp đã thực hiện Kế hoạch Nava, mở hàng loạt các cuộc hành binh càn quét lớn ở nhiều nơi như Lạng Sơn, Trị Thiên, Ninh Bình,… Nhằm tiêu hao, tiêu diệt lực lượng của ta, đồng thời qua đó thăm dò ý đồ quân sự của ta.
Sau khi giành được những bước đầu to lớn trên các chiến trường trong chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 và ngay sau khi quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, ta khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch. Tổng Quân uỷ nhận định: “Để tiến hành chiến dịch này, ta có nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất vẫn là cung cấp mà chủ yếu là về đường sá”. Đây là sự phân tích đánh giá khách quan, thực tế tình hình lúc đó. Bởi vì Điện Biên Phủ ở xa hậu phương tới 500 - 600 km, chủ yếu là địa hình rừng núi hiểm trở, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, mưa nắng thất thường, quân Pháp thì có máy bay và phương tiện kĩ thuật hiện đại, … Đặc biệt đường cơ giới duy nhất lên Tây Bắc là con đường 41 từ Hòa Bình qua Mộc Châu, Sơn La, Tuần Giáo lên Lai Châu. Con đường này lòng đường hẹp, cầu yếu, nhiều đoạn sụt lở và ngang qua những khu vực địa hình hiểm trở, núi cao, suối sâu. Từ Tuần Giáo đi Điện Biên Phủ gần 90 km, mặt đường vốn đã nhỏ lại ven theo sườn núi, phần lớn một bên núi cao, một bên suối sâu vô cùng nguy hiểm.
Song với tinh thần yêu nước, bằng quyết tâm và lòng dũng cảm của hàng vạn dân công, thanh niên xung phong, bộ đội công binh ngày đêm lao động khẩn trương, chỉ hơn ba tháng sau (12/1953 - 3/1954), ta đã hoàn thành việc tu sửa và mở mới các tuyến đường 41, số 13, đường Tuần Giáo lên Điện Biên Phủ - là trục đường chính của tuyến vận tải cơ giới, tổng cộng chiều dài khoảng 300km. Mở đường cho xe pháo cơ động, cho vận tải cơ giới vào tới Điện Biên Phủ, cho pháo tới trận địa. Đây thực sự là một nỗ lực cố gắng lớn của quân và dân ta.
Thực hiện chủ trương và quyết tâm chiến lược của Đảng, chúng ta đã huy động sức người, sức của vận chuyển từ vùng tự do (và cả những vùng bị địch tạm chiếm) khắp từ Nam đến Bắc một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm vượt qua chặng đường dài đèo dốc hiểm trở và dùng sức người là chủ yếu để hướng đến mặt trận Điện Biên Phủ. Sức mạnh của hậu phương không những chi viện cho tiền tuyến để giành thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, mà còn chia lửa với chiến trường chính, tiến công, kìm chân quân Pháp trên các hướng phối hợp, thực sự trở thành chỗ dựa tinh thần to lớn cho các lực lượng chiến đấu ngoài mặt trận. Chỉ trong thời gian ngắn ta đã huy động được một khối lượng lớn sức người, sức của ở vùng tự do Thanh - Nghệ Tĩnh, ở Việt Bắc cũng như những vùng địch tạm chiếm. Trong đó, việc huy động ở Tây Bắc - hậu phương hậu cần tại chỗ của chiến dịch có tầm quan trọng rất đặc biệt. Theo số liệu tổng kết thì trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Nhân dân ta đã góp 25.056 tấn gạo, 268 tấn muối, 1824 tấn thực phẩm, hàng nghìn tấn rau, 261.453 lượt người tham gia dân công với 20.991 xe đạp thồ [2].
Trên 22.000 xe đạp thồ đã được huy động chở lương thực, thực phẩm cung cấp cho chiến dịch. Ảnh: VOV
Do yêu cầu lớn và gấp của chiến dịch Điện Biên Phủ, trong điều kiện bảo đảm hậu cần rất khó khăn, nên ngay từ lúc chuẩn bị, ngành Hậu cần Quân đội đã phải giải quyết một vấn đề liên quan để bảo đảm cho một chiến dịch tiến công quy mô lớn. Trong hoàn cảnh kháng chiến, khả năng kinh tế của ta có hạn, công tác hậu cần phải dựa vào nhiều nguồn cung cấp, sử dụng mọi lực lượng có thể sử dụng được, đồng thời lại luôn có dự trữ mới bảo đảm được nhu cầu.
Dân công hỏa tuyến dùng xe trâu vận chuyển vũ khí ra mặt trận. Ảnh: VOV
Sau khi Bộ Chỉ huy chiến dịch thành lập, Tổng cục Cung cấp quyết định tổ chức Tổng cục Cung cấp tiền phương và triển khai hai nhiệm vụ lớn và khó khăn nhất là: mở đường vào Điện Biên Phủ và đưa gạo, đạn đến tận nơi khu vực chiến đấu. Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Toàn tuyến hậu cần bước vào phục vụ chiến đấu, trong đó vấn đề bảo đảm cung cấp lương thực, đạn dược là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng không kém khó khăn về tác chiến. Tình hình cung cấp khẩn trương từng ngày, từng giờ, trong khi đó tuyến vận tải của ta quá dài và địch lại thường xuyên đánh phá ác liệt. Có ngày, chúng đã huy động tới 250 lần chiếc máy bay ném bom tuyến giao thông vận tải của ta. Mặc dù quân Pháp đánh phá, ngăn chặn ác liệt, nhưng lực lượng vận tải phục vụ chiến dịch vẫn liên tục hoạt động ở cả hai tuyến hậu phương chiến dịch. Tổng số xe ô tô được huy động gồm 628 chiếc và hơn 800 lái xe. Tiền phương Tổng cục và Tổng cục Hậu phương phối hợp chặt chẽ với nhau trong chỉ huy vận tải. Phong trào thi đua “Vượt cung, tăng chuyến, tiết kiệm xăng dầu, giữ gìn xe tốt” diễn ra sôi nổi ở các đơn vị. Cùng với vận tải cơ giới, nhiều tuyến vận tải bộ bằng dân công và phương tiện thô sơ đã được tổ chức từ hậu phương lên mặt trận. Bảo đảm kịp thời mọi yêu cầu vật chất phục vụ chiến dịch.
Trong cuốn “Nhìn nhận Điện Biên Phủ của mình”, Guyn Roa - nguyên Đại tá quân đội Pháp viết: Mặc dù nhiều tấn bom đạn được dội xuống các tuyến giao thông, đường tiếp tế cho quân đội nhân dân không bao giờ bị cắt. Và không phải viện trợ của Trung Quốc đã đánh bại tướng H.Nava mà đó là những chiếc xe đạp Pơgiô thồ 200 - 300kg hàng do những nhân công ăn không đủ no, ngủ trên những tấm ni lông trải ngay trên mặt đất. Tướng H.Nava bị đánh bại bởi không phải bởi các phương tiện mà bởi trí thông minh và lòng quyết tâm chiến thắng của đối phương.
56 ngày đêm khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, gan không núng, chí không sờn liên tục chiến đấu, ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Hậu phương, hậu cần quân đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sau khi chiến dịch kết thúc, hậu cần tiếp tục tổ chức bảo đảm cho bộ đội rút quân và giúp Nhân dân địa phương phục vụ sản xuất, chăm lo đời sống ổn định mọi mặt.
Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 nói chung và chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng, sức mạnh hậu phương chi viện cho tiền tuyến đã được huy động ở mức cao nhất. Bài học kinh nghiệm xây dựng và động viên chính trị, tinh thần trong phát huy sức mạnh hậu phương để chi viện sức người, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ - một chiến dịch mang ý nghĩa làm thay đổi cục diện chiến tranh. Từ kinh nghiệm quý báu về xây dựng hậu phương, hậu cần trong kháng chiến chống Pháp, nhất là chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta đã vận dụng sáng tạo và nâng lên tầm cao mới trong 21 năm thực hiện công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc thắng lợi vẻ vang bằng chiến dịch Hồ Chí Minh vào mùa Xuân năm 1975.
72 năm trôi qua, song âm vang của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vẫn vang vọng mãi ý nghĩa to lớn và bài học về xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương trong chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn giữ nguyên giá trị sâu sắc về lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam.
Hiện nay, sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đã và đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhất là Quân đội ta phải tiếp tục thực hiện tốt xây dựng về mọi mặt trong thời bình, phải nêu cao tinh thần ý chí tự lực, tự cường, nhất là “tự chủ chiến lược” về hậu phương để khi tình huống chiến tranh xảy ra có đủ tiềm lực, sức mạnh và khả năng chiến đấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển mới. Nhiều vấn đề cơ bản về quân sự, quốc phòng, về chiến tranh và quân đội đã và đang có sự biến đổi sâu sắc, đặc biệt đối với nước ta trước yêu cầu đánh thắng chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao; bảo vệ chế độ, bảo vệ độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, chủ quyền biển, đảo.
Theo đó, vấn đề hậu phương nói chung, hậu phương quân đội nói riêng cũng có sự biến đổi theo. Phải sớm hoàn thiện tư duy mới về hậu phương quân đội và xây dựng hậu phương quân đội phù hợp với điều kiện hậu phương và tiền tuyến mở rộng hơn và đan xen nhau; việc phân biệt tiền tuyến và hậu phương trở nên không rõ ràng như trước; vai trò của hậu phương quân đội càng trở nên quan trọng đối với nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của quân đội. Hậu phương quân đội và xây dựng hậu phương quân đội với “con người là chủ thể, là trung tâm” phải được nhìn nhận, xem xét trên một nền tảng tư duy chiến lược, khoa học, đổi mới và mang tính tổng hợp, toàn diện về công cuộc giữ nước, xây dựng quân đội trong bối cảnh lịch sử mới.
Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, yếu tố con người càng trở nên quyết định. Con người Việt Nam, nhất là cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang hôm nay không chỉ cần lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết, mà còn phải có năng lực số, kỷ luật lao động, ý thức thượng tôn pháp luật, khả năng hội nhập, tinh thần sáng tạo, trách nhiệm xã hội. Những phẩm chất ấy không tự nhiên hình thành, mà phải được bồi dưỡng bởi giáo dục, bởi gia đình, bởi xã hội, bởi quân đội và sâu xa nhất là bởi môi trường văn hóa quân sự. Nghị quyết 80 đặt trọng tâm vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện - đó chính là nền tảng hậu phương vững chắc cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời, cùng với cấp uỷ, người chỉ huy đề ra nhiều giải pháp tích cực trong xây dựng đơn vị, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng mối quan hệ đoàn kết gắn bó keo sơn giữa quân đội và Nhân dân; phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới, tích cực tham gia giúp dân xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa, giáo dục, chăm sóc y tế, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.
Chú thích:
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.540.
[2] Xem Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.498.
tin tức liên quan
Thư viện ảnh
Người Hà Nội thanh lịch - một ít nhận dạng về nó
Sự giao thoa của tư tưởng nho giáo và phật giáo trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khai sáng, một nhà báo vĩ đại của nền báo chí cách mạng Việt Nam
Các lễ hội của cư dân miền biển Nghệ An
Đại học về làng
Thống kê truy cập
114714944
2417
2602
21753
237200
141996
114714944