Tại bản Lưu Thông, xã Tương Dương, gần như gia đình nào cũng chuẩn bị làm bánh dày để dâng lên bàn thờ tổ tiên và đãi khách trong dịp Tết. Bánh dày không đơn thuần là món ăn truyền thống mà còn là biểu tượng văn hóa, là sợi dây kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa con cháu với tổ tiên, giữa gia đình với cộng đồng.
Nguyên liệu chính để làm nên những chiếc bánh dày trắng ngần là nếp rẫy, thứ nếp được trồng trên những thửa nương rẫy, hấp thụ tinh hoa của đất trời vùng cao. Nếp sau khi thu hoạch được phơi khô, cất giữ cẩn thận để dành cho dịp lễ, Tết. Theo quan niệm của người Mông, phải chọn loại nếp thơm, hạt tròn mẩy, dẻo quánh thì bánh mới ngon, mới đủ thành kính để dâng cúng tổ tiên.
Chị Vừa Y Dở, ở bản Lưu Thông, xã Tương Dương chia sẻ “Làm bánh dày, chọn gạo nếp là quan trọng nhất. Phải là nếp rẫy thơm, dẻo. Khi hông xôi phải đun nhỏ lửa, đều tay, khoảng một tiếng đồng hồ để xôi chín kỹ, mềm và dẻo”.

Người Mông hông xôi để làm bánh
Nếp được ngâm nước trước khi cho lên bếp hông. Bếp lửa trong căn nhà gỗ nghi ngút khói, hơi nước bốc lên quyện cùng mùi nếp thơm nồng, tạo nên thứ hương vị đặc trưng của ngày Tết vùng cao. Người Mông không hông xôi vội vàng. Họ giữ lửa đều, canh từng chút một để xôi chín kỹ từ trong ra ngoài, hạt nếp nở đều mà không nát.

Khi xôi vừa chín tới, còn bốc khói nghi ngút, người Mông nhanh chóng đổ xôi vào cối gỗ lớn để giã
Khi xôi vừa chín tới, còn bốc khói nghi ngút, người Mông nhanh chóng đổ xôi vào cối gỗ lớn để giã. Đây là công đoạn vất vả nhưng cũng vui nhất, thường có sự tham gia của nhiều người trong gia đình hay dòng họ. Ở những bản người Mông mỗi dịp cận Tết, đều vang lên tiếng chày, tiếng cối rộn rã khắp núi rừng, thứ âm thanh báo hiệu mùa xuân đang gõ cửa từng nhà.

Giã càng kỹ thì bánh càng dẻo, càng ngon
Theo ông Vừ Xia Vả, ở bản Lưu Thông thì “Giã bánh nhìn thì tưởng đơn giản, nhưng phải có sức khỏe và kỹ thuật. Khi giã phải nhanh, dứt khoát, đều tay thì xôi mới nhuyễn, không bị dính. Giã càng kỹ thì bánh càng dẻo, càng ngon”.
Quả thật, để có được những mẻ bánh dày mịn màng, người giã phải phối hợp nhịp nhàng. Tiếng chày nện xuống cối “thình thịch” đều đặn như nhịp đập của núi rừng. Những giọt mồ hôi lăn dài trên gương mặt nhưng ai cũng ánh lên niềm vui, bởi đó là công việc chuẩn bị cho Tết, cho sự sum vầy và khởi đầu mới.

Nặn bánh
Khi xôi đã được giã nhuyễn, dẻo quánh thành một khối mịn, công đoạn tiếp theo là nặn bánh. Việc này phải làm ngay khi xôi còn nóng, bởi nếu để nguội sẽ rất khó nặn và bánh không còn đạt độ dẻo mong muốn.
Công đoạn nặn bánh thường do chị em phụ nữ đảm nhiệm. Từ khối xôi trắng ngần, họ nhanh tay ngắt từng phần nhỏ, vo tròn rồi ép dẹt thành những chiếc bánh có độ dày vừa phải. Đôi bàn tay thoăn thoắt, khéo léo tạo nên những chiếc bánh đều nhau, tròn trịa như gửi gắm ước vọng về một năm mới đủ đầy, viên mãn.

Chuẩn bị lá chuổi để gói bánh
Bánh dày của người Mông thường được gói bằng lá chuối rừng. Theo bà con, lá chuối rừng dai và mềm hơn các loại chuối khác, khi gói không bị rách, lại giữ được hương vị tự nhiên cho bánh. Lá sau khi mang về được tước lấy phần lá non, lau sạch bằng khăn. Nếu gặp loại lá hơi cứng, người ta sẽ hơ qua lửa cho mềm dẻo rồi mới dùng gói bánh.
Những chiếc bánh trắng muốt được đặt gọn trong lớp lá xanh, tạo nên sự hài hòa về màu sắc, màu trắng của nếp, màu xanh của núi rừng. Đó không chỉ là sự kết hợp nguyên liệu, mà còn là sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên.

Sau khi nặn và gói xong, bánh dày được nướng trên than hồng
Sau khi nặn và gói xong, bánh dày được nướng trên than hồng. Lửa than liu riu làm lớp lá bên ngoài se lại, tỏa mùi thơm dịu. Khi bóc lớp lá chuối còn ấm nóng, chiếc bánh bên trong dẻo quánh, thơm nồng mùi nếp rẫy, đơn giản chỉ là thưởng thức nguyên vị cũng đủ thấy trọn vẹn hương xuân.
Trong những ngày Tết, bánh dày được đặt trang trọng trên bàn thờ tổ tiên. Với người Mông, đây là lễ vật thiêng liêng thể hiện lòng biết ơn với ông bà, cha mẹ đã khuất, cầu mong tổ tiên phù hộ cho con cháu một năm mới bình an, mùa màng tươi tốt, gia đình hạnh phúc.
Không chỉ để thờ cúng, bánh dày còn là món ăn đãi khách, qua đó chứa đựng tấm lòng hiếu khách của người Mông nơi vùng cao.
Trong dòng chảy hiện đại, khi nhiều phong tục truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, việc người Mông ở Lưu Thông vẫn duy trì làm bánh dày mỗi dịp Tết là minh chứng cho ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Từ khâu chọn nếp, đồ xôi, giã bánh đến nặn và nướng bánh, tất cả đều được thực hiện thủ công, truyền lại qua nhiều thế hệ.
Những đứa trẻ trong bản lớn lên cùng tiếng chày giã bánh, cùng mùi khói bếp và hương nếp thơm.
Bánh dày vì thế không chỉ là món ăn, mà còn là ký ức, là biểu tượng của sự đoàn tụ. Mỗi chiếc bánh tròn đầy như gửi gắm khát vọng về sự tròn vẹn trong cuộc sống. Giữa núi rừng, tiếng chày giã bánh dày mỗi độ xuân về vẫn vang lên, hòa cùng tiếng gió đại ngàn, như lời nhắc nhở về cội nguồn và truyền thống.
Xuân về trên bản Lưu Thông, khói bếp bay lên từ những mái nhà gỗ, mùi nếp mới lan tỏa khắp không gian. Trong cái se lạnh của vùng cao, chiếc bánh dày nóng hổi trên tay như sưởi ấm lòng người. Và giữa bao đổi thay của thời gian, hương vị bánh dày vẫn vẹn nguyên, như hồn Tết của người Mông nơi vùng cao Nghệ An./.