Góc nhìn văn hóa

Quốc hội Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1960-1976)

Quang cảnh khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa III, ngày 27/6/1964. Ảnh: TL

Trong lịch sử Nhà nước Việt Nam hiện đại, giai đoạn 1960-1976 là một thời kỳ đặc biệt, nơi hoạt động của Quốc hội gắn chặt với những bước ngoặt lớn lao của dân tộc: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam và hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước. Nếu những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám đặt nền móng cho chính thể dân chủ nhân dân, thì thời kỳ 1960-1976 chính là giai đoạn thể chế ấy được thử thách trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt và đồng thời trưởng thành vượt bậc. Quốc hội các khóa II, III, IV và V không chỉ thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước, mà còn là biểu tượng của ý chí thống nhất, của quyền làm chủ nhân dân trong những năm tháng cam go nhất. Nhìn lại chặng đường ấy hôm nay, trong không khí các kỳ bầu cử Quốc hội, càng giúp chúng ta thấu hiểu sâu sắc giá trị lịch sử và ý nghĩa chính trị của lá phiếu công dân.

Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh chống chế độ thực dân mới và tay sai. Trong bối cảnh đó, cuộc tổng tuyển cử ngày 8/5/1960 bầu Quốc hội khóa II mang ý nghĩa chính trị và pháp lý sâu sắc. Đây không chỉ là sự kiện thể hiện tính liên tục của chính quyền cách mạng, mà còn khẳng định rằng dù đất nước bị chia cắt, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn là đại diện hợp pháp của toàn dân tộc Việt Nam. Quốc hội khóa II (1960-1964) ra đời trong thời điểm miền Bắc triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đặt nền móng cho công cuộc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

Công nhân lái máy kéo khu gang thép Thái Nguyên trao đổi, thảo luận danh sách các ứng cử viên Quốc hội khóa II. Ảnh: TL

Hoạt động của Quốc hội khóa II tập trung vào việc cụ thể hóa Hiến pháp năm 1959, xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu của thời kỳ quá độ. Các vấn đề cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển công nghiệp nặng, củng cố quốc phòng, mở rộng giáo dục và y tế… đều được thảo luận dân chủ và quyết nghị tại nghị trường. Quốc hội không chỉ phê chuẩn các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, mà còn giám sát hoạt động của Hội đồng Chính phủ, bảo đảm sự thống nhất giữa đường lối và thực tiễn triển khai. Trong điều kiện xuất phát điểm thấp, hậu quả chiến tranh còn nặng nề, nguồn lực hạn chế, những quyết sách ấy đã tạo nên chuyển biến quan trọng, giúp miền Bắc từng bước ổn định và phát triển.

Điểm nổi bật của Quốc hội trong giai đoạn này là tính đại diện rộng rãi và tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Dù miền Nam còn trong vòng kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, Quốc hội vẫn có đại biểu tiêu biểu của đồng bào miền Nam, thể hiện rõ quan điểm nhất quán: Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không thế lực nào có thể chia cắt lâu dài. Tính chính danh toàn quốc ấy vừa có ý nghĩa pháp lý, vừa có giá trị tinh thần to lớn, củng cố niềm tin của nhân dân cả nước vào sự nghiệp thống nhất.

Từ năm 1964, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ mở rộng ra miền Bắc, đặt đất nước trước thử thách vô cùng khắc nghiệt. Quốc hội khóa III (1964-1971) hoạt động trong hoàn cảnh bom đạn ác liệt, khi nhiều thành phố, nhà máy, cầu đường bị tàn phá, đời sống nhân dân bị xáo trộn sâu sắc. Tuy nhiên, hoạt động của Quốc hội không bị đình trệ. Các kỳ họp được tổ chức linh hoạt, bảo đảm an toàn nhưng vẫn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều đó cho thấy đời sống chính trị - pháp lý của đất nước không hề bị gián đoạn bởi chiến tranh, mà trái lại càng được củng cố trong thử thách.

Quốc hội khóa III đã thông qua nhiều nghị quyết quan trọng về tăng cường quốc phòng, động viên sức người, sức của cho tiền tuyến, bảo đảm hậu phương lớn vững chắc cho miền Nam. Chính sách nghĩa vụ quân sự được thực hiện rộng rãi; các chế độ, chính sách đối với thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng được bổ sung và hoàn thiện. Trong điều kiện sơ tán, phân tán sản xuất, Quốc hội thảo luận và quyết định nhiều biện pháp nhằm ổn định kinh tế, phân phối lương thực, bảo đảm đời sống tối thiểu cho Nhân dân. Tinh thần “vừa sản xuất, vừa chiến đấu” không chỉ là khẩu hiệu, mà được cụ thể hóa thành chính sách và pháp luật.

Bên cạnh nhiệm vụ trong nước, Quốc hội còn tích cực tham gia hoạt động đối ngoại nghị viện. Các đoàn đại biểu Quốc hội đã đến nhiều quốc gia, tham dự các diễn đàn quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của Nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam. Tiếng nói của Quốc hội góp phần khẳng định tính hợp pháp của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lên án chiến tranh xâm lược, kêu gọi hòa bình và tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Hoạt động đối ngoại ấy mở rộng mặt trận đoàn kết quốc tế, tạo thêm nguồn sức mạnh tinh thần và chính trị cho cuộc kháng chiến.

Các ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa IV thành phố Hà Nội gặp gỡ đại biểu cử tri (tháng 4/1971). Ảnh: TL

Đến Quốc hội khóa IV (1971-1975), cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt. Miền Bắc sau nhiều năm bị đánh phá nặng nề đã từng bước khôi phục sản xuất, củng cố cơ sở hạ tầng, tiếp tục làm tròn vai trò hậu phương chiến lược. Quốc hội khóa IV hoạt động trong bối cảnh vừa giải quyết hậu quả chiến tranh, vừa chuẩn bị cho những chuyển biến lớn của tình hình. Những quyết sách về tái thiết kinh tế, phát triển văn hóa - giáo dục, củng cố bộ máy nhà nước cho thấy tầm nhìn chiến lược không chỉ hướng đến mục tiêu trước mắt, mà còn chuẩn bị cho tương lai thống nhất.

Sau Hiệp định Paris năm 1973, tình hình có những thay đổi quan trọng, song nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn miền Nam vẫn đặt ra cấp thiết. Quốc hội tiếp tục thể hiện ý chí kiên định của toàn dân tộc đối với mục tiêu thống nhất. Các nghị quyết được thông qua khẳng định quyết tâm hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, đồng thời tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng của miền Bắc. Khi đại thắng mùa Xuân năm 1975 diễn ra, mở ra kỷ nguyên mới của đất nước, Quốc hội đứng trước sứ mệnh lịch sử đặc biệt: hoàn tất sự thống nhất về mặt nhà nước và pháp lý.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 không chỉ khép lại hơn hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà còn đặt ra yêu cầu cấp bách về việc hoàn thiện sự thống nhất đất nước trên phương diện nhà nước và pháp lý. Sự thống nhất về lãnh thổ cần được củng cố bằng một thiết chế quyền lực chung do toàn thể nhân dân cả nước bầu ra. Trong bối cảnh ấy, Quốc hội khóa V (1975-1976) đảm nhận một sứ mệnh lịch sử đặc biệt: chuẩn bị và quyết định việc tổ chức tổng tuyển cử trong cả nước, bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất.

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá V, tháng 6/1975. Ảnh: TL

Quốc hội khóa V là Quốc hội khóa ngắn nhất, từ tháng 4/1975 - tháng 4 năm 1976 và chỉ có 2 kỳ họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã họp 10 phiên để quyết định nhiều vấn đề trọng đại của đất nước. Các phiên họp của Quốc hội trong giai đoạn này tập trung thảo luận những vấn đề có ý nghĩa nền tảng: Cơ chế tổ chức bộ máy nhà nước sau thống nhất, nguyên tắc hiệp thương, giới thiệu ứng cử viên, cơ cấu đại biểu bảo đảm tính đại diện rộng rãi của các tầng lớp nhân dân ở cả hai miền Nam - Bắc. Việc chuẩn bị tổng tuyển cử không chỉ là một thủ tục hành chính, mà là sự kiện chính trị có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân trên toàn lãnh thổ Việt Nam sau hơn hai thập niên chia cắt.

Cuộc tổng tuyển cử tháng 4 năm 1976 đã diễn ra trong không khí phấn khởi, tin tưởng và đoàn kết. Hàng chục triệu cử tri trên khắp mọi miền đất nước tham gia bỏ phiếu, lựa chọn những đại biểu xứng đáng đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình. Sự kiện ấy đánh dấu lần đầu tiên kể từ năm 1954, Nhân dân cả nước cùng thực hiện quyền bầu cử trong một không gian chính trị thống nhất. Thành công của cuộc bầu cử đã mở đường cho kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI, quyết định những vấn đề trọng đại như đặt tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xác định thủ đô, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và kiện toàn bộ máy nhà nước trong điều kiện mới. Những quyết định đó không thể tách rời vai trò chuẩn bị, định hướng và tổ chức của Quốc hội khóa V.

Nhìn lại toàn bộ chặng đường từ 1960 đến 1976, có thể thấy rõ một sợi chỉ đỏ xuyên suốt: Quốc hội Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi bước ngoặt lịch sử. Khi miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, Quốc hội là nơi thể chế hóa đường lối phát triển, quyết định các kế hoạch kinh tế - xã hội, củng cố nền tảng pháp lý của Nhà nước Dân chủ Nhân dân. Khi chiến tranh lan rộng, Quốc hội trở thành trung tâm động viên sức mạnh toàn dân, ban hành các chính sách bảo đảm quốc phòng, chăm lo đời sống nhân dân, khẳng định ý chí không khuất phục trước bom đạn. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Quốc hội lại đóng vai trò then chốt trong việc hoàn tất thống nhất về mặt nhà nước, bảo đảm tính liên tục và chính danh của thể chế.

Một trong những giá trị nổi bật của Quốc hội giai đoạn 1960-1976 là sự kết hợp hài hòa giữa tính nguyên tắc và tính linh hoạt. Nguyên tắc ở đây là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững vai trò đại diện cao nhất của Nhân dân, bảo đảm hoạt động theo đúng chức năng lập pháp và giám sát tối cao. Linh hoạt là ở chỗ Quốc hội biết điều chỉnh phương thức hoạt động phù hợp với điều kiện chiến tranh, biết đặt ưu tiên vào những nhiệm vụ cấp bách của từng thời điểm mà không làm mất đi bản chất dân chủ của mình. Chính sự kết hợp ấy đã giúp Quốc hội giữ vững vai trò trung tâm trong đời sống chính trị quốc gia, bất chấp hoàn cảnh khắc nghiệt.

Từ góc độ văn hóa chính trị, hoạt động của Quốc hội trong thời kỳ này góp phần bồi đắp niềm tin của Nhân dân vào thể chế đại diện. Trong những năm tháng chiến tranh, khi cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, bom đạn đe dọa từng ngày, việc Nhân dân vẫn tham gia bầu cử, vẫn dõi theo hoạt động của Quốc hội cho thấy sức sống bền bỉ của ý thức công dân. Lá phiếu không chỉ là quyền lợi được ghi nhận trong Hiến pháp, mà còn là sự gửi gắm niềm tin vào tương lai, vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng. Truyền thống ấy đã trở thành một phần của bản sắc chính trị Việt Nam, là nền tảng tinh thần cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong các giai đoạn tiếp theo.

Giai đoạn 1960-1976 cũng để lại nhiều bài học sâu sắc đối với hoạt động của Quốc hội hôm nay. Đó là bài học về sự gắn bó mật thiết với Nhân dân, lắng nghe và phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp xã hội. Đó là bài học về việc đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, vượt qua mọi khác biệt để hướng tới mục tiêu chung. Đó còn là bài học về trách nhiệm của mỗi đại biểu trước cử tri - trách nhiệm không chỉ trong lời nói tại nghị trường, mà trong hành động cụ thể, trong sự dấn thân và tận tụy với công việc được giao phó.

Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, vai trò của Quốc hội càng trở nên quan trọng. Nhưng để hiểu đầy đủ giá trị của thể chế hiện tại, không thể không nhìn về chặng đường lịch sử 1960-1976, thời kỳ mà Quốc hội được tôi luyện trong lửa đạn chiến tranh và trưởng thành cùng sự nghiệp thống nhất đất nước. Những đại biểu Quốc hội của thời kỳ ấy đã làm việc trong điều kiện vô cùng gian khổ, song vẫn giữ vững tinh thần trách nhiệm, niềm tin và ý chí phục vụ Nhân dân. Chính họ đã góp phần tạo nên nền tảng để Quốc hội Việt Nam hôm nay tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

Mỗi mùa bầu cử Quốc hội là một dịp để chúng ta ôn lại truyền thống ấy, để nhận thức sâu sắc hơn ý nghĩa của quyền bầu cử và ứng cử. Lá phiếu của mỗi công dân hôm nay là sự tiếp nối của những lá phiếu trong những năm tháng chiến tranh, là biểu hiện cụ thể của quyền lực nhân dân được hiến định và bảo đảm. Khi lựa chọn những đại biểu xứng đáng, cử tri không chỉ thực hiện một nghĩa vụ pháp lý, mà còn góp phần định hình tương lai của đất nước.

Có thể khẳng định rằng, giai đoạn 1960-1976 là một chương đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam - chương của xây dựng và chiến đấu, của chia cắt và thống nhất, của thử thách và trưởng thành. Từ nghị trường trong những năm tháng bom đạn đến quyết định tổ chức tổng tuyển cử trong cả nước sau ngày toàn thắng, Quốc hội đã chứng minh vai trò không thể thay thế trong việc bảo đảm tính liên tục và chính danh của nhà nước cách mạng. Những quyết sách được thông qua trong thời kỳ ấy không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt, mà còn đặt nền móng cho sự phát triển lâu dài của đất nước trong hòa bình.

Nhìn lại chặng đường ấy, không chỉ để tự hào về truyền thống vẻ vang, mà còn để củng cố niềm tin vào sức mạnh của thể chế đại diện, vào vai trò làm chủ của Nhân dân. Trong ánh sáng của lịch sử 1960-1976, mỗi kỳ bầu cử Quốc hội trở thành sự tiếp nối của một hành trình dài, nơi ý chí, khát vọng và trách nhiệm công dân hòa quyện. Đó chính là giá trị bền vững mà Quốc hội Việt Nam đã và đang gìn giữ: một thiết chế của dân, do dân và vì dân, luôn đồng hành cùng dân tộc trên mọi chặng đường lịch sử./.

tin tức liên quan

Thống kê truy cập

114684852

Hôm nay

2165

Hôm qua

2328

Tuần này

22161

Tháng này

225481

Tháng qua

1114335874

Tất cả

114684852