Góc nhìn văn hóa

Quốc hội Việt Nam với công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế (1976 - 2021)

 

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI (1976-1981). Ảnh: TL

Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975 và cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước ngày 25/4/1976, lịch sử dân tộc Việt Nam bước sang một thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Tại kỳ họp thứ nhất, tháng 7/1976, Quốc hội khóa VI đã quyết định những vấn đề có ý nghĩa lịch sử: đặt tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xác định Thủ đô Hà Nội, Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca và kiện toàn bộ máy nhà nước thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Những quyết định ấy không chỉ hoàn tất sự thống nhất về mặt lãnh thổ mà còn xác lập sự thống nhất về mặt nhà nước và pháp lý - một bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển lâu dài của đất nước.

Tuy nhiên, hòa bình lập lại không đồng nghĩa với thuận lợi tức thì. Sau hơn ba mươi năm chiến tranh, nền kinh tế kiệt quệ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Quốc hội khóa VI (1976-1981) và khóa VII (1981-1987) hoạt động trong bối cảnh cả nước triển khai hai kế hoạch 5 năm (1976-1980 và 1981-1985) nhằm khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Ngày 18/12/1980, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1980, khẳng định bản chất của Nhà nước chuyên chính vô sản, xác định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và củng cố mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung.

Trong giai đoạn này, Quốc hội ban hành nhiều nghị quyết và đạo luật liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước, quốc phòng - an ninh, quản lý kinh tế, tài chính, ngân sách. Song thực tiễn vận hành của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp dần bộc lộ hạn chế. Sản xuất trì trệ, phân phối thiếu linh hoạt, lưu thông ách tắc, lạm phát gia tăng nhanh chóng. Năm 1985, cuộc cải cách giá - lương - tiền chưa đạt được kết quả như mong muốn, làm cho tình hình kinh tế - xã hội thêm khó khăn. Đến năm 1986, lạm phát tăng vọt, đời sống nhân dân chịu nhiều thử thách. Chính thực tiễn ấy đã đặt ra yêu cầu bức thiết phải đổi mới tư duy và cơ chế quản lý.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), đường lối Đổi mới toàn diện đất nước được đề ra, mở ra bước ngoặt lịch sử. Quốc hội khóa VIII (1987-1992) trở thành Quốc hội của thời kỳ Đổi mới, gánh trên vai trọng trách thể chế hóa kịp thời và đầy đủ các chủ trương đổi mới của Đảng thành pháp luật và chính sách cụ thể. Ngày 29/12/1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được thông qua - một quyết định có ý nghĩa đột phá trong bối cảnh nước ta còn bị bao vây, cấm vận. Lần đầu tiên, khung pháp lý cho việc thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài được xác lập một cách rõ ràng.

Tiếp đó, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990 mở đường cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển. Những đạo luật này thể hiện sự thay đổi căn bản trong tư duy kinh tế, thừa nhận sự tồn tại lâu dài của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh quốc tế biến động sâu sắc - đặc biệt là sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu năm 1991 - việc Quốc hội kiên định thể chế hóa đường lối Đổi mới, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng.

Ngày 15/4/1992, Quốc hội khóa IX thông qua Hiến pháp năm 1992, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lập hiến. Hiến pháp khẳng định xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng quyền tự do kinh doanh của công dân; tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Đây là nền tảng pháp lý cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong những năm 1990, Quốc hội liên tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về ngân sách, thuế, ngân hàng, thương mại, đất đai. Luật Đất đai năm 1993 ghi nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản có giá trị, có thể chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp - tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nông nghiệp và thị trường bất động sản. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995, Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 và Luật Thương mại năm 1997 tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý cho sản xuất, kinh doanh.

Một dấu mốc quan trọng khác là ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN. Sự kiện này mở ra thời kỳ hội nhập khu vực, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật cho phù hợp với các cam kết quốc tế. Năm 1998, Việt Nam gia nhập APEC, mở rộng hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế. Mặc dù chịu tác động của khủng hoảng tài chính châu Á giai đoạn 1997-1998, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng tương đối ổn định, xuất khẩu tăng đều qua các năm.

Ngày 12/6/1999, Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp mới, có hiệu lực từ ngày 10/01/2000, được xem là một “cuộc cách mạng” trong cải cách thủ tục hành chính khi bãi bỏ hàng trăm loại giấy phép con, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng hơn. Chỉ trong vài năm đầu thế kỷ XXI, hàng chục nghìn doanh nghiệp mới được thành lập, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cho người lao động.

Bước sang thế kỷ XXI, đất nước đứng trước yêu cầu hội nhập toàn cầu sâu rộng hơn. Quốc hội khóa XI và khóa XII đã tích cực sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật để chuẩn bị cho việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO - một cột mốc hội nhập có ý nghĩa lịch sử. Trước đó, Quốc hội đã thông qua Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005, bảo đảm sự tương thích với các chuẩn mực quốc tế.

 Phiên chất vấn trong một kỳ họp Quốc hội . Ảnh: TL

Từ một nền kinh tế khép kín, chủ yếu dựa vào nông nghiệp, Việt Nam từng bước chuyển mình thành nền kinh tế có độ mở cao, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2001-2010 đạt bình quân trên 7%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh; thu nhập bình quân đầu người không ngừng được cải thiện. Những thành tựu đó gắn liền với vai trò lập pháp và quyết định chính sách của Quốc hội trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đến đây, có thể khẳng định rằng từ năm 1976 đến đầu những năm 2010, Quốc hội Việt Nam đã trải qua một quá trình chuyển đổi sâu sắc: từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ hội nhập khu vực đến hội nhập toàn cầu; từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy pháp quyền hiện đại. Mỗi bước chuyển mình của đất nước đều in đậm dấu ấn của Quốc hội trong vai trò cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân.

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, yêu cầu phát triển đất nước đặt ra ngày càng cao: không chỉ tăng trưởng nhanh mà còn phải bền vững, không chỉ hội nhập rộng mà còn phải hội nhập sâu, không chỉ hoàn thiện pháp luật mà còn phải xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch, hiệu quả. Trong bối cảnh đó, Quốc hội tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm trong việc hoàn thiện thể chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp năm 2013 với tỷ lệ tán thành rất cao. Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc Đổi mới và hội nhập quốc tế, kế thừa Hiến pháp 1992 nhưng có nhiều điểm phát triển mới. Hiến pháp 2013 khẳng định rõ hơn nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; xác lập cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; quy định cụ thể hơn về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Quá trình sửa đổi Hiến pháp lần này được tiến hành công khai, dân chủ, thu hút hàng triệu lượt ý kiến đóng góp của Nhân dân trong và ngoài nước, thể hiện tinh thần cầu thị và trách nhiệm cao của Quốc hội trước cử tri.

Sau khi Hiến pháp 2013 được ban hành, Quốc hội đã khẩn trương triển khai chương trình xây dựng luật, pháp lệnh quy mô lớn nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp. Năm 2014, Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi) được thông qua, tăng cường tính chuyên nghiệp của hoạt động nghị trường. Năm 2015, Bộ luật Dân sự và Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong bảo đảm quyền dân sự, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và hoàn thiện chính sách hình sự nhân đạo, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 tạo khuôn khổ pháp lý chặt chẽ hơn cho quy trình lập pháp, nâng cao chất lượng và tính khả thi của hệ thống pháp luật.

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Quốc hội tiếp tục thể hiện tầm nhìn chiến lược khi phê chuẩn nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Ngày 12/11/2018, Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), mở ra không gian thị trường rộng lớn với tiêu chuẩn cao về thương mại, đầu tư, lao động, môi trường. Tiếp đó, ngày 8/6/2020, Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA), đánh dấu bước tiến quan trọng trong quan hệ đối tác toàn diện giữa Việt Nam và EU. Những quyết định này không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với hệ thống thương mại đa phương, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Song song với lập pháp và hội nhập, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội ngày càng đi vào chiều sâu. Các phiên chất vấn được tổ chức định kỳ, truyền hình trực tiếp, thu hút sự quan tâm rộng rãi của cử tri cả nước. Nhiều vấn đề bức thiết như quản lý đất đai, đầu tư công, nợ công, bảo vệ môi trường, cải cách giáo dục, y tế, phòng, chống tham nhũng, lãng phí được đưa ra thảo luận công khai tại nghị trường. Đặc biệt, trong những năm gần đây, công tác phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh theo tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, tăng cường cơ chế minh bạch tài sản, thu nhập và trách nhiệm giải trình.

Quốc hội khóa XIV (2016-2021) hoạt động trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, xu hướng bảo hộ thương mại nổi lên, đặc biệt là đại dịch COVID-19 bùng phát từ đầu năm 2020 gây tác động nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Trước tình hình đó, Quốc hội đã kịp thời ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ doanh nghiệp và người dân; cho phép áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô. Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng GDP dương, trở thành một trong số ít quốc gia duy trì được đà tăng trưởng - một minh chứng cho hiệu quả của sự phối hợp giữa quyết sách của Quốc hội và điều hành của Chính phủ.

Cùng với đó, Quốc hội tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đầu tư công (Luật Đầu tư công sửa đổi năm 2019), về doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp 2020), về đầu tư (Luật Đầu tư 2020), về đối tác công tư (Luật PPP năm 2020), tạo hành lang pháp lý cho huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động của Quốc hội và các cơ quan nhà nước cũng được chú trọng, từng bước xây dựng Quốc hội điện tử, nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong hoạt động nghị trường.

Nhìn lại chặng đường 45 năm từ 1976 đến 2021, có thể thấy Quốc hội Việt Nam đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh cùng với tiến trình phát triển của đất nước. Từ những năm đầu sau thống nhất với muôn vàn khó khăn chồng chất; đến bước ngoặt Đổi mới năm 1986; từ việc ban hành Hiến pháp 1992 mở đường cho kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đến Hiến pháp 2013 khẳng định rõ hơn nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; từ gia nhập ASEAN năm 1995, WTO năm 2007 đến tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới giai đoạn 2018-2020, mỗi dấu mốc lịch sử đều gắn liền với những quyết sách quan trọng của Quốc hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội đã thể chế hóa kịp thời và sáng tạo các chủ trương, đường lối lớn thành pháp luật và chính sách cụ thể, bảo đảm cho công cuộc Đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Vai trò của Quốc hội không chỉ thể hiện ở việc ban hành luật mà còn ở chức năng giám sát tối cao, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, phát huy dân chủ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng đến giữa thế kỷ XXI đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, yêu cầu đặt ra đối với Quốc hội ngày càng nặng nề nhưng cũng đầy vinh quang. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, nâng cao chất lượng lập pháp, tăng cường kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi - đó là những nhiệm vụ then chốt để Quốc hội thực sự là hiện thân của ý chí, nguyện vọng và khát vọng phát triển của dân tộc.

Hành trình 1976-2021 là minh chứng sinh động cho bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần trách nhiệm của Quốc hội Việt Nam trước lịch sử. Từ nghị trường, những quyết sách mang tầm vóc chiến lược đã được ban hành; từ lá phiếu của cử tri, ý chí của Nhân dân được kết tinh thành quyền lực nhà nước. Trong dòng chảy liên tục ấy, Quốc hội tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, góp phần đưa đất nước vững bước trên con đường phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng với thế giới./.

tin tức liên quan

Thống kê truy cập

114687696

Hôm nay

2309

Hôm qua

2422

Tuần này

22241

Tháng này

228325

Tháng qua

1114335874

Tất cả

114687696