Thiếu nhi Diễn Châu, Nghệ An duyệt nghi thức Đội trong Tết Độc lập
Độc lập dân tộc là mục đích và kết quả của một tiến trình lịch sử dài lâu
Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2/9/1945 là những sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc Việt Nam, bởi nó là cột mốc đánh dấu sự thắng lợi trong quá trình giành độc lập dân tộc của Việt Nam và khai sinh ra một nhà nước độc lập mới của người dân Việt Nam. Đó là cơ sở đảm bảo cho quyền dân tộc tự quyết, quyền toàn vẹn lãnh thổ và quyền chủ động phát triển của đất nước.
Trong lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam, đấu tranh giành độc lập dân tộc luôn gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại như vậy. Từ những cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, Bà Triệu đầu thiên niên kỷ thứ nhất, khởi nghĩa Lý Bí thế kỷ thứ VI, khởi nghĩa Mai Thúc Loan thế kỷ thứ VIII… Và Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng năm 938 tạo nên nền độc lập tự chủ sau ngàn năm bị đô hộ. Sau đó là sự hình thành triều đại nhà nước phong kiến Việt Nam gắn với những cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc và giữ nền độc lập dân tộc với những tên tuổi lẫy lừng lịch sử như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung và thế kỷ XX là Hồ Chí Minh và nhiều nhân vật khác... Hàng ngàn năm qua, tiến trình độc lập dân tộc của Việt Nam diễn tiến không ngừng nghỉ. Kẻ thù có khi thay đổi, lực lượng lãnh đạo cũng vậy. Nhưng chung quy lại vẫn là sự thể hiện của tinh thần yêu nước, yêu tự do và sự dũng cảm, không ngại hi sinh của người dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh để dân tộc độc lập và thống nhất lãnh thổ. Xuyên suốt quá trình ngàn năm đó, chúng ta đấu tranh để giành và giữ 3 điều quan trọng. Đó là quyền toàn vẹn lãnh thổ; quyền dân tộc tự quyết; và quyền chủ động phát triển. Đây cũng những giá trị cao nhất, quan trọng nhất mà độc lập dân tộc đưa lại cho người dân Việt Nam.
Trước hết, toàn vẹn lãnh thổ là mục đích tối cao mà Nhân dân ta lựa chọn và gìn giữ. Đã nhiều lần các thế lực ngoại xâm lẫn nội phản xâm chiếm, muốn phân chia đất nước thành các khu vực khác nhau nhằm biến đất nước ta thành các vùng nhỏ, các khu vực khác nhau để cai trị, để nô dịch. Nhưng Nhân dân Việt Nam không chấp nhận điều đó. Hết thế hệ này đến thế hệ khác, không ngừng đấu tranh đòi sự toàn vẹn lãnh thổ. Sau cách mạng Tháng Tám 1945, chúng ta tiếp tục kháng chiến chống Pháp, rồi kháng chiến chống Mỹ, và sau đó là chiến tranh bảo vệ biên giới, hải đảo…. Đó là những cuộc chiến gần nhất thể hiện quyết tâm tranh đấu cho toàn vẹn lãnh thổ của người dân Việt Nam. Và hiện nay, lãnh thổ của chúng ta vẫn bị nhiều thế lực dòm ngó. Nhưng cả hôm nay và mai sau, ý chí bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của người dân Việt Nam không bao giờ ngừng lại. Toàn vẹn lãnh thổ có giá trị cực kỳ quan trọng đối với một dân tộc, một quốc gia. Và chỉ có sự toàn vẹn mới đảm bảo được việc xây dựng và thực hiện được các chiến lược, chính sách phát triển đất nước. Cũng chỉ có sự toàn vẹn mới đủ cơ sở nền tảng để đáp ứng nhu cầu thống nhất về văn hóa, về dòng chảy lịch sử, về tiếp nối truyền thống của cha ông.
Thứ hai là quyền dân tộc tự quyết, là quyền quyết định cao nhất về thể chế chính trị, về thiết lập nhà nước, về đường lối phát triển, về đối nội đối ngoại, về quản lý tài nguyên,…. Ngàn năm đô hộ của phương Bắc cướp đi quyền tự quyết của dân tộc ta, khiến cho toàn thể nhân dân bị ngoại tộc nô dịch cả vật chất lẫn tinh thần. Rồi gần thế kỷ bị Thực dân, Phát xít, rồi Đế quốc xâm lược, khiến chúng ta bị mất đi quyền tự quyết. Và chúng ta đã vùng lên tranh đấu để đòi lại quyền tự quyết của dân tộc. Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh ngày 02/9/1945 có giá trị quan trọng trong việc khẳng định quyền tự quyết. Bởi lúc đó, chúng ta bắt đầu xây dựng Nhà nước của người dân Việt Nam. Tuyên bố cho thế giới biết đây là mảnh đất có chủ, có bộ máy quản lý do người dân bản địa lập nên và phụng sự cho dân tộc này. Đó là cơ sở để chúng ta tiếp tục tranh đấu bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ quyền tự quyết dân tộc và sau nữa là bảo vệ quyền chủ động phát triển. Quyền tự quyết dân tộc là quyền thiêng liêng, là sự thể hiện chủ quyền của con người, của đất nước, của bộ máy chính trị trên phạm vi lãnh thổ này.
Thứ ba là quyền chủ động phát triển. Quyền chủ động phát triển vô cùng quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế rộng lớn từ giữa thế kỷ XX đến nay, đặc biệt là từ đầu thế kỷ XXI. Trên thế giới chưa bao giờ ngừng tiếng súng, chưa bao giờ hết chiến tranh. Nhưng bối cảnh hiện nay, bên cạnh chiến tranh quân sự thì chiến tranh kinh tế trở thành nỗi lo của nhiều quốc gia. Hội nhập quốc tế, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu. Nó vừa giúp các quốc gia có điều kiện để phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống người dân, nhưng cũng đặt các quốc gia đối diện với nguy cơ lệ thuộc vào các nền kinh tế lớn. Sự lệ thuộc làm cho các quốc gia, dân tộc mất đi quyền chủ động phát triển và từ đó hạn chế gần như mọi mặt trong quá trình phát triển cũng như quan hệ quốc tế. Vậy nên quyền chủ động phát triển là rất quan trọng.
Tết độc lập là biểu tượng văn hóa mang tầm thời đại của con người Việt Nam
Sự kiện Quốc khánh ngày 02/9/1945 giờ đây đã trở thành một biểu tượng trong văn hóa Việt Nam với cái tên gọi rất dân dã: Tết Độc lập. Người Việt Nam gọi Tết khi đó là một sự kiện quan trọng với đời sống trong chu kỳ 1 năm. Và Tết Độc lập hiện nay là biểu tượng văn hóa mang tầm thời đại của người Việt. Đó là biểu tượng về lòng yêu nước, biểu tượng về con người tự do.
Trước hết, đó là biểu tượng lòng yêu nước của con người Việt Nam. Gần như thế kỷ nào đất nước này cũng có những sự kiện lịch sử lớn lao liên quan đến công cuộc bảo vệ tổ quốc. Và những sự kiện đó cũng là sự thể hiện tinh thần yêu nước của con người nơi đây. Dù là ngàn năm Bắc thuộc hay trăm năm đô hộ thì người Việt luôn chiến đấu bất khuất để giành lại đất nước. Và thế kỷ XX cũng vậy, có nhiều sự kiện lịch sử, mà Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh ngày 2/9 là đỉnh cao, là điển hình. Và Tuyên ngôn độc lập thể hiện đầy đủ khát vọng, tinh thần yêu nước của con người Việt Nam. Đây cũng là sự tiếp nối chủ nghĩa yêu nước hàng ngàn năm qua. Ngày nay, Nhân dân vẫn gọi với cái tên rất dân gian: Tết Độc lập, và nó là một biểu tượng văn hóa của lòng yêu nước. Nó nhắc nhở các thế hệ sau biết trân quý hòa bình, phải giữ gìn độc lập và tiếp nối chủ nghĩa yêu nước của cha ông để lại. Có thể nói Tết Độc lập là biểu tượng văn hóa của chủ nghĩa yêu nước mà con người Việt Nam đã xây dựng ngàn năm qua và là đỉnh cao tiêu biểu cho lòng yêu nước của người Việt thế kỷ XX.
Tết Độc lập cũng là một biểu tượng văn hóa mang tầm thời đại, là biểu tượng của con người tự do, con người yêu chuộng hòa bình. Bản Tuyên ngôn Độc lập và Quốc khánh ngày 2/9/1945 không chỉ khai sinh ra một quốc gia độc lập của Nhân dân Việt Nam, mà còn là một mốc son chói lọi trong quá trình giải phóng con người. Trong lịch sử Việt Nam trước 1945, vấn đề quyền con người ít được quan tâm. Con người Việt Nam thời phong kiến vẫn là con người Thần dân, bị nô dịch từ trong ý thức hệ, từ quan điểm tư tưởng vốn chịu nhiều ảnh hướng của Nho giáo từ Trung quốc. Đó là con người thần phục, con người chức năng, chỉ biết làm việc và hoàn thành cái gọi là nhiệm vụ, là chức trách, là nghĩa vụ và sứ mệnh. Thế nên Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, trở nên trọng đại hơn bởi bên cạnh việc tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia độc lập, còn có sự tuyên bố về giá trị của con người Việt Nam, về việc giải phóng quyền con người. Đây có thể coi là tuyên ngôn về quyền con người của Việt Nam. Và nó mở đầu cho cả quá trình giải phóng con người suốt gần 8 thập kỷ qua của chúng ta.
Trong các quyền cơ bản của con người thì quyền tham gia chính trị là một điều mấu chốt. Tuyên ngôn Độc lập khẳng định quyền của một quốc gia độc lập, quyền của các công dân của một quốc gia độc lập thì quyền tham gia chính trị của người dân được hình thành và phát triển. Và điều đó được thể hiện rõ ràng trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của đất nước Việt Nam vào ngày 06/01/1946. Trong điều 2 Sắc lệnh 14-SL ra ngày 8 tháng 9 năm 1945 của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường”. Và ngày 6/01/1946, trong cả nước có khoảng 89% cử tri đã đi bỏ phiếu để bầu ra những người đại diện cho mình vào Quốc hội để xây dựng chính sách quản lý nhà nước. Đây là lần đầu tiên mà hầu hết cử tri được thể hiện quyền Công dân khi được tham gia bầu cử và ứng cử, cũng là một thể hiện quan trọng trong thực hành quyền chính trị của con người. Bên cạnh quyền tham gia chính trị thì các quyền cơ bản khác như quyền bình đẳng trên mọi phương diện, quyền học tập, quyền về tài sản, quyền tự do ngôn luận,…. đều được quan tâm và đảm bảo. Đây cũng là một bước phát triển mới, đưa tư tưởng, tinh thần về bảo đảm quyền con người, về giải phóng con người trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 vào cuộc sống. Và vấn đề đó tiếp tục được khảng định trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946. Nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp là "Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo; Đảm bảo các quyền tự do dân chủ”.
Sự lan tỏa giá trị Tết Độc lập đến các cộng đồng dân tộc Việt Nam
Theo Sắc lệnh 22C NV/CC ngày 18/02/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, quy định những ngày Tết, kỷ niệm lịch sử và lễ tôn giáo, thì ngày 2/9 là được gọi là ngày Việt Nam độc lập. Từ năm 1954, ngày 2/9 được Nhà nước quy định là ngày Quốc khánh của đất nước. Và dù gọi thế nào thì nó cũng đã trở thành một ngày lễ trọng đại của đất nước, đã lan tỏa vào văn hóa của tất cả các cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Cứ đến Tết Độc lập, người dân khắp mọi miền dân tộc lại tổ chức chào mừng một cách trọng thể. Bắt đầu từ những người Kinh ở miền xuôi vốn đã xem Tết Độc lập là một nét văn hóa từ lâu qua các phong trào chính trị cũng như các hoạt động văn hóa xã hội. Sau đó lan rộng ra khắp cả nước, đến với các cộng đồng dân tộc thiểu số và cả các cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Không chỉ miền xuôi, không chỉ các đô thị mà cả vùng miền núi, hải đảo, những bản làng vùng sâu vùng xa, đến Tết Độc lập đều cờ hoa rực rỡ, cả lễ cả hội tổ chức long trọng. Người dân tham gia nhiều hoạt động để bày tỏ lòng yêu nước, thể hiện quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như sự biết ơn đối với các thế hệ đã ngã xuống cho nền độc lập dân tộc. Từ những người Mông, người Dao, người Hà Nhì, người Phù Lá… trên đỉnh núi đến những người Thái, người Tày, người Nùng ở thấp hơn; Từ những dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc hay dọc dải Trường Sơn, các dân tộc vùng Tây Nguyên đến các cộng đồng vùng sông nước Nam Bộ, tất cả đều tổ chức đón Tết Độc lập một cách trang trọng. Với nhiều cộng đồng, ngày 2/9 thật sự là một ngày Tết đúng nghĩa của bà con nhân dân.

Bản làng miền Tây Nghệ An treo cờ đón Tết Độc lập
Không chỉ tổ chức chào mừng trang trọng theo sự chỉ đạo từ hệ thống chính trị, nhiều cộng đồng dân tộc còn tích hợp Tết Độc lập vào các sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng. Như trường hợp người Thái ở vùng Quỳ Hợp, Nghệ An. Trước đây, người Thái ở vùng này có Tết Cẳm Phạ vào ngày 17/7 âm lịch. Đây là một sự kiện văn hóa quan trọng của đồng bào. Theo nhà nghiên cứu Sầm Văn Bình thì trước, trong và sau Tết Cẳm Phạ ba ngày, bản mường phải kiêng những việc đại sự: không làm những công việc nguy hiểm và nặng nhọc để tránh tai nạn; không tổ chức đi săn bắn trong rừng; không đánh chửi lẫn nhau; rủi có người xấu số qua đời thì phải nhanh chóng đưa ma chứ không được tổ chức đám tang v.v... Trong ngày Tết Cẳm Phạ, con cháu trong nhà phải sắm lễ tạ ơn ma nhà. Đồ lễ chủ yếu là gà, không dùng thịt lợn, thịt ngan vịt, thịt cầy... Gà trống càng đẹp, càng béo thì càng quý, có lúc người ta nuôi nhốt gà mấy tháng liền đợi cho đến ngày Tết Cẳm Phạ. Người ta cũng bàn nhau đóng góp thóc gạo, trấu... để làm rượu cần, nấu rượu siêu. Họ cũng không quên chuẩn bị các loại khác như măng khô, măng tươi, mộc nhĩ để nấu với thịt gà, thịt vịt. Ngoài Tết Nguyên Đán thì chỉ có Tết Cẳm Phạ là vui vẻ nhất, trở thành một ngày Tết đi vào tiềm thức, có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống tinh thần, tình cảm của cả cộng đồng. Hiện nay, người Thái ở một số bản vùng Quỳ Hợp đã tích hợp Tết Cằm Phạ vào với Tết Độc lập vào ngày 2/9 và gọi là Tết Mồng Hai. Người dân rất coi trọng cái Tết này. Từ nhiều tháng trước, họ đã chuẩn bị các thứ để đón Tết Mồng Hai trong năm một cách đầy đủ nhất có thể. Đó là trồng lúa để vào thời gian đó phải có lúa nếp mới thu hoạch, là nuôi gà lợn để dành cho dịp Tết này.
Ở nhiều cộng đồng khác, sự tích hợp văn hóa vào Tết Độc lập cũng được thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau. Mà phổ biến nhất là đồng bào tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống trong dịp Tết Độc lập để vừa kỷ niệm ngày Quốc khánh, vừa góp phần bảo tồn và phát huy các yếu tố văn hóa truyền thống. Tết Độc lập cũng đi vào nhiều lĩnh vực văn nghệ dân gian của nhiều cộng đồng. Điều đó chứng tỏ qua những con đường khác nhau, giá trị của Tết Độc lập đã lan tỏa rộng rãi ra khắp các cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nó góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và kiến tạo bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện đại./.