Người xứ Nghệ
Hồ Chí Minh - Người khởi nguồn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Người khởi nguồn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và mô hình phát triển dân tộc. Sau khi hoàn thành quá trình xâm lược, thực dân Pháp thiết lập ách thống trị trên toàn cõi Đông Dương, biến Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra liên tục, quyết liệt, từ phong trào Cần Vương, các cuộc khởi nghĩa Hương Khê, Ba Đình, Bãi Sậy đến khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, nhưng đều lần lượt thất bại. Chủ nghĩa yêu nước tuy vẫn là dòng chủ lưu, là động lực tinh thần bền vững của các phong trào chống ngoại xâm, song chưa vượt khỏi giới hạn của hệ tư tưởng phong kiến, vẫn bị “cầm tù” trong quỹ đạo Nho giáo và tư tưởng thủ cựu nên cuối cùng rơi vào bế tắc, chưa thể tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc.
Trong bối cảnh đó, cùng với sự du nhập của tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, các sĩ phu yêu nước Việt Nam tiếp tục tìm kiếm những mô hình cứu nước mới. Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, chủ trương cải cách của Phan Châu Trinh, Duy Tân hội, Đông Kinh nghĩa thục… tuy tạo được ảnh hưởng xã hội rộng lớn nhưng cuối cùng vẫn thất bại. Hồ Chí Minh đánh giá rất sâu sắc về giới hạn lịch sử ấy: “Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương, anh nhận điều đó là sai lầm chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương; cụ Phan Bội Châu hi vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp, điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước rước beo cửa sau”; cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp, nhưng theo lời người ta kể thì cụ còn nặng cốt cách phong kiến”[1].
Thực tiễn thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho thấy dân tộc Việt Nam vẫn đang lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc cả tư tưởng, đường lối, tổ chức và phương pháp cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định: “Tình hình của xã hội Việt Nam trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng đen tối như không có đường ra”[2].
Ngày 5/6/1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành xuống tàu Amiral Latouche-Tréville rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Không lựa chọn con đường sang Nhật như phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Nguyễn Tất Thành quyết định sang phương Tây để trực tiếp tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa thực dân và con đường phát triển của các nước tư bản. Sau này, Hồ Chí Minh kể lại: “Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”[3].
Từ năm 1911 đến năm 1917, Nguyễn Tất Thành đi qua nhiều quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ, châu Âu; làm nhiều nghề để sinh sống và trực tiếp quan sát đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở các nước tư bản. Chính từ thực tiễn ấy, Hồ Chí Minh nhận ra bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân. Người viết: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[4].
Nhận thức ấy đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy cứu nước của Hồ Chí Minh: từ chủ nghĩa yêu nước đến sự tiếp cận lập trường quốc tế vô sản. Người không chỉ thấy vấn đề của dân tộc Việt Nam, mà còn nhận ra số phận chung của các dân tộc thuộc địa dưới ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc.
Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Tháng 6/1919, thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Versailles bản “Yêu sách của Nhân dân An Nam” gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho Nhân dân Việt Nam. Mặc dù không được chấp nhận, nhưng sự kiện ấy đánh dấu bước xuất hiện công khai của Nguyễn Ái Quốc trên chính trường quốc tế, đồng thời thể hiện sự chuyển biến từ lập trường yêu nước sang đấu tranh chính trị có tổ chức. Nguyễn Ái Quốc nhận rõ bản chất giả dối của những luận điệu “tự do”, “dân chủ” mà các nước đế quốc rêu rao, Người viết: "Chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn [5], và "Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình"[6].
Thực tiễn hoạt động chính trị ở Pháp đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận rõ bản chất giả dối của khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” dưới chế độ thực dân. Người khẳng định: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”.
Bước ngoặt quyết định trong tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra vào tháng 7/1920, khi Người đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité. Nguyễn Ái Quốc xúc động sâu sắc vì lần đầu tiên tìm thấy trong chủ nghĩa Mác - Lênin con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa. Người kể lại: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao!... Tôi vui mừng đến phát khóc lên... “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”[7].

Nguyễn Ái Quốc tham gia đại hội Đảng Cộng Sản Pháp 1919. Ảnh Tư liệu
Từ đó, Hồ Chí Minh đi đến kết luận lịch sử: Muốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thực sự thì vấn đề quyết định trước hết là phải giành cho được độc lập, tự do. “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[8]. Đây là bước chuyển biến căn bản trong tư tưởng cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh không chỉ tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, mà còn khởi nguồn mô hình phát triển mới của Việt Nam hiện đại: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là không tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách giáo điều, máy móc. Người vận dụng sáng tạo học thuyết cách mạng vô sản vào điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến. Hồ Chí Minh xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, nhưng độc lập dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[9].
Sau khi tìm được con đường cách mạng, từ năm 1921 đến năm 1930, Hồ Chí Minh bắt đầu thực hiện sứ mệnh “mở đường” cho cách mạng Việt Nam. Người tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa ở Paris; xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ); viết nhiều tác phẩm nổi tiếng như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường cách mệnh (1927)… nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào yêu nước Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.
Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô, tham dự Đại hội Quốc tế Nông dân, Đại hội V Quốc tế Cộng sản; học tập và nghiên cứu sâu hơn chủ nghĩa Mác - Lênin. Năm 1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh xác định rõ nhiệm vụ chiến lược: “Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”[10]. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của tổ chức lãnh đạo cách mạng. Người viết: “Cách mệnh trước hết phải có đảng để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi”[11]. Đồng thời, Người chỉ rõ nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước trước đó là vì “không hiểu chính trị, và lại càng không hiểu việc tổ chức quần chúng”[12]. Những hoạt động lý luận và thực tiễn của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1921-1930 đã chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Hương Cảng đầu năm 1930 đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài nhiều thập niên.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả trực tiếp của quá trình Hồ Chí Minh truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; đồng thời khẳng định con đường phát triển mà Người khởi nguồn cho dân tộc Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, con đường ấy đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng khẳng định quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”[13]. Đó không chỉ là tuyên ngôn khai sinh một quốc gia độc lập, mà còn là tuyên ngôn mở đầu thời đại mới của dân tộc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam tiếp tục giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954; thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với đại thắng mùa Xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Những thắng lợi vĩ đại ấy khẳng định tính đúng đắn và sức sống mãnh liệt của con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn và khởi nguồn.

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945. Ảnh Tư liệu
Điều đặc biệt sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc không tách rời mục tiêu đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[14]. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng của con đường cách mạng mà Bác lựa chọn là xây dựng một xã hội tốt đẹp cho nhân dân lao động. Khát vọng ấy được Người khái quát sâu sắc: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[15].
Giá trị thời đại của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước hiện nay
Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, tạo nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thuộc nhóm 32 nước lớn nhất thế giới; quy mô GDP năm 2025 đạt khoảng 510 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người vượt 5.026 USD; kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 800 tỷ USD, nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thương mại hàng đầu thế giới. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 58% đầu những năm 1990 xuống dưới 2%; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,7 tuổi; chỉ số phát triển con người (HDI) liên tục được cải thiện. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, không ngừng cải thiện đời sống, nâng cao hạnh phúc của Nhân dân, nâng tầm uy tín, vị thế đất nước trên trường quốc tế”[16].

Nền kinh tế Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ trong 80 năm hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của dân tộc. Ảnh minh họa, nguồn internet.
Nhiệm kỳ Đại hội XIII, mặc dù chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến động kinh tế - chính trị toàn cầu, Việt Nam vẫn duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới. Đến năm 2025, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia; có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với hầu hết các nước lớn; tham gia hơn 15 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP. Chuyển đổi số, kinh tế số, đổi mới sáng tạo phát triển mạnh; kinh tế số đóng góp khoảng 18-20% GDP; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) liên tục thuộc nhóm dẫn đầu các nước có cùng mức thu nhập. Văn kiện Đại hội XIV đánh giá: “Nhiều quyết sách chiến lược mang tính đột phá đã được triển khai quyết liệt”[17]; “Vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao”[18].
Đặc biệt, Đại hội XIV xác định rõ mô hình phát triển mới: lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng. Văn kiện khẳng định: “Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”[19].
Đại hội XIV đồng thời xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng đất nước “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”[20]. Đó chính là sự tiếp nối nhất quán con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn và khởi nguồn cho dân tộc Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phát triển đất nước đi đôi với nâng cao đời sống, tự do và hạnh phúc của Nhân dân; xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh và bền vững trong thế kỷ XXI.
[1] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.14.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, t.12, tr.401.
[3] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, t.1, tr.30.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 1, tr.287.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 1, tr.441.
[6] Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr.37.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, t.12, tr.562.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, t.12, tr.30.
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, t.12, tr.563.
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 1, tr.209.
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 2, tr.289.
[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 1, tr.209.
[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 4, tr.3.
[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội.2011; t. 4, tr.64.
[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội.2011; t. 4, tr.187.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQG sự thật, tập 1, tr.9.
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.17.
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.18.
[19] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.26.
[20] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.25.
tin tức liên quan
Thư viện ảnh
Người Hà Nội thanh lịch - một ít nhận dạng về nó
Sự giao thoa của tư tưởng nho giáo và phật giáo trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khai sáng, một nhà báo vĩ đại của nền báo chí cách mạng Việt Nam
Các lễ hội của cư dân miền biển Nghệ An
Đại học về làng
Thống kê truy cập
114716461
2211
2387
2211
238717
141996
114716461