Góc nhìn văn hóa

Kết nối di sản và du lịch

Với khí hậu mát mẻ vào mùa hè, sương mù bao phủ mùa đông, mùa xuân cùng với cảnh đẹp, Mường Lống ngày càng thu hút được nhiều du khách về khám phá. (Ảnh: NHẬT THANH)

 

Kết nối di sản và du lịch là vấn đề quan trọng đang được nhiều người quan tâm hiện nay, đặc biệt là trong quá trình thực hiện Dự án 06 trong Chương trình Mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số 2021-2030 với nội dung Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch. Kết nối di sản với du lịch là vấn đề phức tạp, cần có cái nhìn sâu rộng, vừa hiểu rõ văn hóa truyền thống của cộng đồng, vừa am hiểu về kinh tế, nhất là lĩnh vực du lịch, lại vừa phải đặt vào bối cảnh hiện tại của địa phương, của đất nước một cách phù hợp. Một nghiên cứu mô hình kết nối di sản với du lịch của cộng đồng người Mông ở xã Mường Lống, tỉnh Nghệ An cho thấy rằng việc khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống và trình diễn các di sản văn hóa để phục vụ du lịch là nhân tố cần thiết nhằm thu hút du khách. Ngược lại, sự phát triển của du lịch cũng là điều kiện cần thiết để tái cấu trúc di sản một cách phù hợp với bối cảnh đương đại.

 

Mô hình kết nối di sản và du lịch của người Mông ở Mường Lống

 

Trong vài năm gần đây, người Mông ở Mường Lống đã cho thấy sự hiệu quả trong việc kết nối di sản với du lịch để khai thác các giá trị văn hóa truyền thống vào phát triển kinh tế du lịch. Trước hết, họ khai thác các giá trị di sản tự nhiên nhằm thu hút du khách đến đây ngày một đông đảo. Mường Lống được gọi là Sa Pa nhỏ của miền Tây Nghệ An, là khu vực núi cao, sương mù che phủ làm cho con người đến đây như bị lạc vào một không gian mờ ảo. Núi cao, rừng rậm, suối nước, các vườn cây ăn quả… là những cảnh quan tự nhiên hấp dẫn du khách. Cùng với khí hậu trong lành, mát mẻ càng làm cho nhiều người muốn đến đây để nghỉ ngơi, khám phá thiên nhiên còn đang hoang sơ giữa núi rừng bao la, bát ngát.

 

Nhưng quan trọng nhất vẫn là kết nối di sản văn hóa với hoạt động du lịch. Hãy xem quy trình kết nối di sản với du lịch ở Mường Lống qua một tour du lịch do một công ty lữ hành và cộng đồng địa phương phối hợp tổ chức vào tháng 11/2025 mà chúng tôi được tham gia. Khi xe đưa đoàn vào đến khu vực chân trời Mường Lống thì dừng lại để du khách chụp ảnh check in và ngắm nhìn cả một vùng trời mây bao phủ bởi sương, bởi rừng, bởi cây cối… Càng nhìn ra xa càng thêm mờ mịt nhưng cũng tạo ra được cảm giác hoang sơ, bao la, sâu rộng, huyền ảo… Tiếp đó, xe bắt đầu chạy chậm lại để du khách có thể quan sát được khung cảnh hai bên đường, từ bản làng, vườn cây, con suối… Khi vào bản thì có nhiều hoạt động trải nghiệm các giá trị di sản văn hóa người Mông tại địa phương. Trước hết là du khách được đưa đi tham quan bản làng người Mông với những ngôi nhà lớp mái samu cổ kính, những cây đào, cây mận vừa xuất hiện những bông hoa đầu tiên để chuẩn bị chào đón mùa xuân mới. Đến giữa bản, đoàn du khách được đưa vào một gia đình làm nghề sản xuất giấy gió truyền thống. Hai vợ chồng chủ nhà xởi lởi đón tiếp du khách. Họ giới thiệu về nghề truyền thống của mình, cho khách xem một số sản phẩm hoàn chỉnh. Sau đó, hai vợ chồng thực hiện một số công đoạn chính của nghề làm giấy gió. Du khách quan sát và chụp ảnh. Sau khi thực hiện vài lần thì vợ chồng chủ nhà bắt đầu hướng dẫn cho khách trải nghiệm. Nhiều người tham gia làm thử một vài tấm giấy dó và chụp ảnh kỷ niệm với chủ nhà.

 

 

Trình diễn nghề làm giấy gió để phục vụ du khách tham quan và trải nghiệm

 

Rời gia đình làm giấy gió thì cả đoàn di chuyển đến một sân cỏ rộng rãi, nơi có mấy cặp bò với cặp sừng uy nghi, khuôn mặt dữ tợn đang rú lên và kéo căng dây thừng như để lao vào đối thủ. Cả đoàn được ra xem chọi bò của người Mông nơi đây. Họ chuẩn bị và thu xếp 3 cặp bò tương đối ngang sức làm đối thủ của nhau để chọi cho du khách xem. Thời gian xem chọi bò khoảng một đến hai tiếng, nếu các cặp bò chọi nhanh phân thắng bại thì sẽ chọi hết 3 cặp còn có những cặp quá cân sức nên kéo dài thời gian thì chỉ chọi 2 cặp là nghỉ. Quanh sân có hàng rào để đảm bảo an toàn cho du khách đến xem. Không chỉ du khách mà người dân trong bản cũng tập trung để xem chọi bò. Hoạt động này thu hút được hầu hết du khách chụp ảnh và quay phim.

 

Chọi bò là lễ hội truyền thống của người Mông ở Mường Lống, cũng là hoạt động thu hút nhiều du khách

 

Tiếp đó, đoàn quay về bản, đến một gia đình làm du lịch cộng đồng. Ở đây, có gần chục phụ nữ người Mông mặc trang phục truyền thống với hoa văn sặc sỡ và những trang sức bạc lấp lánh. Họ đang tập trung ngồi thêu may thổ cẩm để phục vụ du khách. Bên cạnh cũng trưng bày hàng loạt các sản phẩm may mặc thổ cẩm của người dân địa phương. Họ đưa ra để giới thiệu với du khách và để du khách chụp ảnh. Ai có nhu cầu mua làm quà thì họ cũng bán. Du khách vây quanh những người phụ nữ đang thêu may để xem, để chụp ảnh. Họ vừa làm việc, vừa trò chuyện với khách. Có lúc quay thành vòng tròn, cũng có lúc tản ra để đáp ứng nhu cầu chụp ảnh của du khách. Nhiều du khách nữ còn thuê, mượn trang phục truyền thống của đồng bào để ra chụp ảnh kỷ niệm.

 

Trình diễn dệt may thổ cẩm phục vụ du khách tham quan

 

Sau khi tham quan xong thì về lại homestay để nghỉ ngơi. Buổi tối được thưởng thức các món đặc sản của người Mông ở địa phương. Nào là món cá suối, cá hồ, rồi gà đen đặc sản, lợn bản nướng, các loại rau sạch được người bản địa trồng ở nương vườn… và đương nhiên có rượu họ ngâm. Sau khi ăn uống xong thì cả đoàn lại tập trung đến một phòng rộng để thưởng thức văn nghệ và uống rượu cần. Những cô gái Mông với những tiết mục văn nghệ truyền thống biểu diễn ở giữa, du khách ngồi xung quanh xem, thỉnh thoảng tham gia cùng. Khi hai bình rượu cần được mở ra, cả đoàn khách cùng với các nghệ nhân và chủ nhà cùng nhau uống rượu, nhảy múa quanh bình rượu. Cứ như vậy, hát múa, trò chuyện, chụp ảnh, ai mệt thì về nghỉ, cho đến khuya mới tan tiệc.

 

Biểu diễn văn nghệ phục vụ du khách

 

Như vậy, cả một tour du lịch nói trên là sự thể hiện rõ ràng nhất của sự kết nối di sản và du lịch. Trong vài năm qua, lượng du khách đến Mường Lống ngày một đông hơn chính là thước đo cho tính hiệu quả của sự kết nối này. Về mặt học thuật, quá trình kết nối này đặt ra vấn đề rất quan trọng là mối quan hệ giữa phát triển du lịch và tái cấu trúc di sản văn hóa.

 

Trình diễn di sản để phục vụ du lịch

 

Trong bối cảnh chuyển dịch mô hình phát triển từ dựa vào tài nguyên tự nhiên sang khai thác các nguồn lực văn hóa, di sản ngày càng được nhìn nhận như một thành tố trung tâm của các chiến lược phát triển bền vững, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch. Sự chuyển dịch này gắn liền với những thay đổi trong tư duy lý thuyết, khi các học giả nhấn mạnh vai trò của di sản như một dạng vốn văn hóa có thể được huy động, chuyển hóa và tái tạo trong các bối cảnh khác nhau (Bourdieu, 1986). Đồng thời, di sản cũng được hiểu như một quá trình kiến tạo văn hóa, trong đó các yếu tố văn hóa được lựa chọn, trình diễn và tái định nghĩa nhằm phục vụ những mục tiêu hiện tại (Kirshenblatt-Gimblett, 1998). Trong khung phân tích này, du lịch nổi lên như một không gian đặc biệt, nơi di sản không chỉ được tiêu dùng mà còn được sản xuất lại thông qua các thực hành trải nghiệm. Trường hợp người Mông ở Mường Lống cung cấp một ví dụ điển hình về cách thức một cộng đồng dân tộc thiểu số có thể chủ động kết nối di sản với du lịch trên cơ sở nội lực. Mường Lống nằm ở độ cao trung bình khoảng 1.500 mét so với mực nước biển, với khí hậu mát mẻ quanh năm, nhiệt độ trung bình dao động từ 15 đến 20 độ C. Điều kiện tự nhiên đặc thù này đã hình thành nên một hệ sinh thái đa dạng, đồng thời tạo nền tảng cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính đặc thù, trong đó nổi bật là việc trồng mận tam hoa với diện tích khoảng 250-300 ha và sản lượng hàng năm ước đạt từ 1.500 đến 2.000 tấn. Toàn xã hiện có hơn 1.050 hộ dân với trên 5.670 nhân khẩu, trong đó trên 90% là người Mông, sinh sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chăn nuôi và các nghề thủ công truyền thống. Chính sự kết hợp giữa điều kiện tự nhiên và hệ thống tri thức bản địa đã tạo nên một nền tảng di sản phong phú, bao gồm cả di sản tự nhiên và di sản văn hóa, làm cơ sở cho sự phát triển du lịch trong những năm gần đây.

 

Điểm đáng chú ý trong trường hợp Mường Lống không chỉ nằm ở việc cộng đồng sở hữu nguồn tài nguyên di sản đa dạng, mà ở cách họ chủ động tái cấu trúc và kết nối các dạng di sản này thành những sản phẩm du lịch có giá trị. Quá trình này bắt đầu từ việc khai thác các yếu tố của di sản tự nhiên, đặc biệt là cảnh quan và khí hậu, như những nguồn lực thu hút du khách. Tuy nhiên, thay vì tách rời các yếu tố tự nhiên khỏi đời sống sản xuất, người Mông đã gắn kết chúng với chu kỳ nông nghiệp, biến các mùa vụ thành những “sự kiện du lịch” mang tính trải nghiệm. Mùa hoa mận nở trắng núi rừng hay mùa thu hoạch mận không chỉ là những hiện tượng tự nhiên mà còn được tổ chức thành các hoạt động thu hút du khách, như lễ hội hái mận, tạo nên sự giao thoa giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa đời sống nội tại và thị trường du lịch. Theo quan điểm của Timothy Ingold, tri thức bản địa được hình thành thông qua quá trình con người “sống cùng môi trường”, và chính sự gắn bó này đã cho phép người Mông chuyển hóa cảnh quan thành một dạng “tài nguyên trải nghiệm” mà không làm mất đi ý nghĩa văn hóa của nó (Ingold, 2000).

 

Bên cạnh di sản tự nhiên, di sản văn hóa của người Mông ở Mường Lống cũng được huy động một cách linh hoạt trong quá trình phát triển du lịch. Một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nét nhất là ẩm thực. Các sản phẩm như rượu cần, gà đen, lợn bản nướng hay các loại rau rừng vốn gắn với đời sống thường nhật đã được tái cấu trúc thành những sản phẩm du lịch mang tính biểu tượng. Trong bối cảnh này, ẩm thực không chỉ đơn thuần là hàng hóa mà trở thành một phương tiện truyền tải văn hóa, phản ánh mối quan hệ giữa con người với môi trường và hệ thống tri thức sản xuất. Như Arjun Appadurai đã chỉ ra, hàng hóa luôn có “đời sống xã hội”, và giá trị của chúng được định hình thông qua các bối cảnh trao đổi cụ thể (Appadurai, 1986). Khi được đưa vào du lịch, các sản phẩm ẩm thực của người Mông đã được tái định nghĩa, không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt biểu tượng.

 

Một khía cạnh quan trọng khác là sự chuyển hóa tri thức bản địa thành các sản phẩm trải nghiệm. Các hoạt động như trồng mận, chăn nuôi gia súc, hay canh tác nương rẫy được “trình diễn hóa” để du khách có thể tham gia và trải nghiệm. Quá trình này không chỉ giúp gia tăng giá trị kinh tế cho các hoạt động sản xuất truyền thống mà còn tạo ra một không gian tương tác, nơi tri thức được chia sẻ và tái tạo. Điều này phù hợp với cách tiếp cận của Pierre Bourdieu về việc vốn văn hóa có thể được chuyển hóa thành vốn kinh tế thông qua các cơ chế xã hội cụ thể (Bourdieu, 1986). Trong trường hợp Mường Lống, tri thức bản địa đã trở thành một dạng vốn có thể “trao đổi” trong thị trường du lịch.

 

Các nghề thủ công truyền thống như dệt vải lanh, làm giấy dó hay nghề rèn cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình kết nối di sản với du lịch. Hiện nay, khoảng 10-15 hộ gia đình tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất và trình diễn nghề, với thu nhập từ các hoạt động này chiếm từ 20 đến 30% tổng thu nhập hộ. Việc du khách tham gia vào quy trình sản xuất không chỉ làm tăng tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch mà còn góp phần duy trì các kỹ năng truyền thống. Dưới góc nhìn của Richard Florida, đây là biểu hiện của một nền “kinh tế sáng tạo”, trong đó các giá trị văn hóa được chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế thông qua sự kết hợp giữa sáng tạo và thị trường (Florida, 2002).

 

Không thể không nhắc đến vai trò của các loại hình nghệ thuật trình diễn trong việc tạo nên trải nghiệm du lịch. Các hoạt động như múa khèn, hát giao duyên hay các lễ hội truyền thống đã được đưa vào phục vụ du khách, đặc biệt trong các dịp lễ hội gắn với chu kỳ nông nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này không phải là sự “thương mại hóa thuần túy” mà mang tính chọn lọc và thích nghi. Theo Dean MacCannell, du lịch thường tạo ra những “không gian dàn dựng”, nhưng điều này không nhất thiết làm mất đi tính chân thực, mà có thể tạo ra những hình thức biểu đạt mới (MacCannell, 1976). Trong trường hợp Mường Lống, các hoạt động văn hóa vẫn gắn với đời sống cộng đồng, đồng thời được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh du lịch.

 

Phát triển du lịch để tái cấu trúc di sản

 

Mối quan hệ giữa di sản và du lịch trong trường hợp này thể hiện rõ tính tương tác hai chiều. Trong khi di sản cung cấp nội dung và bản sắc cho du lịch, thì du lịch lại tạo ra những động lực mới để tái cấu trúc và phát triển di sản. Sự gia tăng lượng khách du lịch kéo theo nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm và thủ công, từ đó thúc đẩy mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Theo số liệu địa phương, từ sau năm 2018, lượng khách đến Mường Lống tăng trung bình 15-20% mỗi năm, với tổng lượng khách đạt vài chục nghìn lượt mỗi năm trong giai đoạn cao điểm. Hiện nay, toàn xã có khoảng 15-20 hộ phát triển mô hình homestay, mỗi năm đón từ vài trăm đến vài nghìn lượt khách. Thu nhập của các hộ tham gia du lịch tăng từ 1,5 đến 2 lần so với trước, góp phần cải thiện đáng kể đời sống kinh tế.

 

Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Việc gia tăng lượng khách có thể gây áp lực lên môi trường tự nhiên và hạ tầng địa phương. Sự thương mại hóa có chọn lọc tuy mang lại lợi ích kinh tế nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ làm biến đổi các giá trị văn hóa. Như Laurajane Smith đã nhấn mạnh, di sản luôn gắn với các diễn ngôn quyền lực, và việc lựa chọn yếu tố nào được đưa vào du lịch có thể ảnh hưởng đến cách thức bản sắc được tái hiện (Smith, 2006). Trong bối cảnh này, việc đảm bảo vai trò chủ thể của cộng đồng địa phương trở thành yếu tố then chốt để duy trì sự cân bằng giữa bảo tồn và phát triển.

 

Nhìn tổng thể, trường hợp người Mông ở Mường Lống cho thấy một mô hình kết nối di sản với du lịch mang tính nội sinh, trong đó cộng đồng đóng vai trò trung tâm trong việc huy động, tái cấu trúc và vận hành các nguồn lực văn hóa và tự nhiên. Di sản, trong mô hình này, không bị “đóng băng” mà được “kích hoạt” như một thực thể sống, liên tục được tái tạo thông qua các thực hành kinh tế - xã hội. Sự kết hợp giữa vốn văn hóa, tri thức bản địa và động lực thị trường đã tạo ra một hệ thống phát triển linh hoạt, có khả năng thích ứng với bối cảnh hiện đại. Tuy nhiên, tính bền vững của mô hình này phụ thuộc vào khả năng duy trì sự cân bằng giữa khai thác và bảo tồn, cũng như sự hỗ trợ từ các chính sách phát triển phù hợp.

 

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng việc kết nối di sản với du lịch không chỉ là một chiến lược phát triển kinh tế mà còn là một quá trình tái cấu trúc văn hóa, trong đó các cộng đồng địa phương vừa là chủ thể sáng tạo vừa là người thụ hưởng. Trường hợp Mường Lống không chỉ cung cấp một ví dụ thực tiễn mà còn gợi mở những hướng tiếp cận quan trọng cho nghiên cứu và hoạch định chính sách phát triển dựa vào di sản trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt ở các khu vực dân tộc thiểu số nơi mà tri thức bản địa và hệ thống di sản vẫn còn giữ vai trò nền tảng trong đời sống cộng đồng.

________________________

Tài liệu tham khảo:

Appadurai, A. (Ed.). (1986). The social life of things: Commodities in cultural perspective. Cambridge University Press.

Bourdieu, P. (1986). The forms of capital. In J. G. Richardson (Ed.), Handbook of theory and research for the sociology of education (pp. 241-258). Greenwood Press.

Florida, R. (2002). The rise of the creative class: And how it's transforming work, leisure, community and everyday life. Basic Books.

Ingold, T. (2000). The perception of the environment: Essays on livelihood, dwelling and skill. Routledge.

Kirshenblatt-Gimblett, B. (1998). Destination culture: Tourism, museums, and heritage. University of California Press.

MacCannell, D. (1976). The tourist: A new theory of the leisure class. Schocken Books.

Smith, L. (2006). Uses of heritage. Routledge.

tin tức liên quan

Thư viện ảnh

Thống kê truy cập

114752354

Hôm nay

2340

Hôm qua

2692

Tuần này

24512

Tháng này

239624

Tháng qua

149902

Tất cả

114752354