Góc nhìn văn hóa

Đồng chí Hồ Tùng Mậu trong việc khắc phục sự phân liệt phong trào cộng sản Việt Nam cuối những năm 20 của thế kỷ XX

Đồng chí Hồ Tùng Mậu là một chiến sĩ cộng sản tiền bối của cách mạng Việt Nam. Ông cùng với Lê Hồng Sơn là những người giúp việc đắc lực cho Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước đó, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã góp phần tích cực cho việc khắc phục sự phân liệt trong phong trào cộng sản ở Việt Nam để đi đến thống nhất trong một tổ chức chính đảng duy nhất. Đồng chí Hồ Tùng Mậu chính là người có công không hề nhỏ trong thời dựng Đảng.

 

Đồng chí Hồ Tùng Mậu và Bác Hồ. Ảnh tư liệu

Trong một số bức tranh vẽ ở nhiều bảo tàng ở Việt Nam về Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, chúng ta thấy có bức thì vẽ 5 người dự Hội nghị, có bức thì vẽ 7 người.

Sự thực như thế nào?

Những lập luận của bài viết này căn cứ vào nhiều tài liệu, trong đó chủ yếu nhất là hai tài liệu: 1/Báo cáo tóm tắt Hội nghị (thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam). Đây là tài liệu bằng tiếng Pháp ngày 7-2-1930 (Lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và in trong sách Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.2, tr.10-13; 2/Báo cáo ngày 18-2-1930 của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản (In trong Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.3, tr.12-19). Các tài liệu trên đây cho biết rằng: có mặt tại Hong Kong trong Hội nghị hợp nhất hai tổ chức cộng sản Việt Nam là một đại biểu Quốc tế Cộng sản là đại biểu Nguyễn Ái Quốc. Trong bản Báo cáo, Nguyễn Ái Quốc viết: “Tôi đã cố gắng đi lần thứ ba [sau hai lần cố gắng về Việt Nam, “nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xẩy ra vụ An Nam “Quốc dân Đảng”[1]] khi một đồng chí từ Hồng Công tới Xiêm và tin cho tôi biết tình hình Hội An Nam Thanh niên Cách mạng bị tan rã; những người cộng sản chia thành nhiều phái, v.v… Lập tức tôi đi Trung Quốc, tới đó vào ngày 23-12. Sau đó, tôi triệu tập các đại biểu của hai nhóm (Đông Dương và An Nam). Chúng tôi họp vào ngày 6-1”[2]. Cũng theo bản Báo cáo này, Nguyễn Ái Quốc tham gia Hội nghị với trách nhiệm là chủ trì vì Người là phái viên của Quốc tế Cộng sản. Báo cáo có viết: “Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, tôi nói cho họ biết những sai lầm và họ phải làm gì. Họ đồng ý thống nhất vào một Đảng”[3]. Ngoài người chủ trì là “phái viên của Quốc tế Cộng sản” Nguyễn Ái Quốc, tham gia Hội nghị còn có: 2 đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng (các ông Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng (các ông Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu).

Tại sao không thấy đại biểu nào của Đông Dương Cộng sản liên đoàn? Có thể là Nguyễn Ái Quốc chưa nhận được tin có tổ chức này vì mãi tới 01-01-1930 tổ chức này mới được thành lập, các yếu nhân của cuộc họp thành lập Đảng này bị bắt ngay sau đó ở Bến Đò Trai (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Hoặc là cũng có thể không đến Hong Kong kịp dự Hội nghị hợp nhất.

Kỳ thực thì Hội nghị có 7 người, có hai người là các ông Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn là hai người giúp việc. Gọi là giúp việc, nhưng tôi cho rằng, họ có vai trò rất quan trọng. Ở “đất khách quê người” (Hong Kong, lúc này là thuộc địa của Anh), thật khó khăn muôn bề cho cuộc họp đối với những người từ trong nước sang. Tuy là thuộc địa của Anh, có “dễ thở” hơn thuộc địa của Pháp ở Đông Dương[4], nhưng nó vẫn là “thuộc địa”, nghĩa là những người hoạt động yêu nước, cách mạng cả ở Hong Kong và cả từ các nước khác đến, vẫn là đối tượng bị kỳ thị với nhiều hình thức và thực dân Anh sẵn sàng cấu kết với thực dân Pháp cũng như nhiều thế lực khác để đàn áp những người yêu nước, cách mạng hoạt động ở đây.

 Đồng chí Hồ Tùng Mậu có trách nhiệm giúp việc Hội nghị và là người Nguyễn Ái Quốc rất tin cẩn trong những ngày của tháng 1, tháng 2-1930 trên đất Hong Kong. Trước khi đề cập vai trò của Hồ Tùng Mậu trong việc khắc phục sự phân liệt trong phong trào cách mạng của những người cộng sản Việt Nam, thiết nghĩ cũng nên nhắc lại một số nét chính, đáng phải nhắc. Hồ Tùng Mậu là kiểu người ("type of person") được Nguyễn Ái Quốc và sau này, đầu những năm 1920s mang tên Hồ Chí Minh rất mến. Có thể với nhiều lý do: thứ nhất là người cùng quê xứ Nghệ, yêu nước nồng nàn, sớm xuất dương đi hoạt động yêu nước, cách mạng; thứ hai là người họ hàng với cụ Hồ Học Lãm, mà cụ là một người yêu nước rất có uy tín đối với người Việt Nam yêu nước và ngay cả đối với tầng lớp quan lại của Chính phủ Trung Hoa dân quốc. Hồ Tùng Mậu là cháu đích tôn của Hồ Bá Ôn[5], mà Hồ Bá Ôn là bác ruột của Hồ Học Lãm; thứ ba, tính tình Hồ Tùng Mậu “mềm”, không dễ sa vào tả hoặc hữu, tức là con người chín chắn, cẩn thận, đúng mực trong quan hệ, không bao giờ bị mắc “bệnh” xốc nổi. Có lẽ vì thế chăng nên ở trong tù của đế quốc thực dân, Hồ Tùng Mậu không “đao to búa lớn” và do vậy nhiều bạn tù chính trị có lúc cho rằng ông bị nhụt chí (Nhụt chí sao được, khi ông đã cùng một số bạn tù có gan vượt ngục để ra ngoài tham gia lãnh đạo giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở miền Trung!). Đã có thời gian Hồ Tùng Mậu công tác ở miền Trung, nơi nổi tiếng nhất của những cái đầu tả khuynh, ông đã phát biểu (qua hồi tưởng của một số người cùng thời) rằng, “(bệnh) dịch tả có thể làm chết một số người, nhưng tả khuynh có thể giết chết cả sự nghiệp cách mạng”. Tại Đại hội II của Đảng tháng 02-1951, đồng chí Hồ Tùng Mậu chỉ được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tất cả những điều đó chúng ta thấy phản ánh, hoặc thấy phảng phất qua bài điếu rất cảm động của Hồ Chí Minh, trong bài điếu đó thể hiện tình cảm chứa chan và sự đánh giá cao đức tính cũng như công lao Hồ Tùng Mậu khi Hồ Chí Minh nhận được tin Hồ Tùng Mậu hy sinh trong một chuyến đi công tác miền Trung khi qua thị trấn Còng của tỉnh Thanh Hoá[6].

Nhìn lại vai trò của đồng chí Hồ Tùng Mậu, có thể thấy: Hồ Tùng Mậu là người sớm tham gia hoạt động yêu nước, cách mạng ở địa bàn phía nam Trung Quốc. Và, với cái nền ấy, Hồ Tùng Mậu trở thành một người tích cực tham gia vào quá trình chuyển biến từ các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, trở thành trợ thủ đắc lực của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam với sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử Đảng: Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930. Trước đó, từ năm 1920, Hồ Tùng Mậu xuất dương sang Xiêm, tiếp theo sang Trung Quốc để hoạt động yêu nước. Đầu năm 1923, Hồ Tùng Mậu cùng với một số thanh niên trí thức Việt Nam sáng lập tổ chức yêu nước mang tên là Tâm Tâm xã”. Hồ Tùng Mậu trở thành một yếu nhân của tổ chức yêu nước Tâm Tâm xã của Việt Nam trên đất Trung Quốc. Tổ chức này là một cơ sở tạo nên tổ chức Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng. Từ Mátxcơva, Liên Xô đến Quảng Châu, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc và có ý kiến về tổ chức này. Tổ chức Tâm tâm xã có nhiều hoạt động yêu nước gây được tiếng vang nhất định cổ vũ tinh thần yêu nước trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc Việt Nam. Tiêu biểu nhất là vào tháng 6-1924, Phạm Hồng Thái, thành viên của tổ chức Tâm Tâm xã, đã ám sát viên Toàn quyền Đông Dương Martial Henri Merlin lúc này đang có mặt tại Sa Diện, Quảng Châu - tô giới của Pháp. Việc không thành, Phạm Hồng Thái hy sinh anh dũng. Nguyễn Ái Quốc coi “nó bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”. Đến Quảng Châu, chắc chắn là qua tìm hiểu kỹ và qua cả tiếp xúc trực tiếp Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định chọn Hồ Tùng Mậu là một trong những yếu nhân xuất sắc nhất của Tâm tâm xã vào trong một tổ chức “hạt nhân” gọi là “Cộng sản đoàn”. Nhóm này chính là cái lõi, hoặc là hạt nhân, của tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này, mang tên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (thành lập vào tháng 6-1925).

Cũng từ cái mốc thời gian năm 1925 trở đi, tình hình các phong trào yêu nước Việt Nam có sự chuyển biến lớn, khi ba yếu tố: phong trào yêu nước, phong trào công nhân dần dần tiếp thụ được chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự thắng thế của các phong trào yêu nước theo xu hướng cách mạng vô sản báo hiệu sự cáo chung của các phong trào yêu nước theo tư tưởng phong kiến (tiêu biểu là Cần Vương), phong trào yêu nước theo tư tưởng dân chủ tư sản (tiêu biểu nhất là Phong trào mang tính chất bạo động của Phan Bội Châu, phong trào duy tân của Phan Châu Trinh), còn có Việt Nam Quốc dân Đảng (do Nguyễn Thái Học đứng đầu) tồn tại dai dẳng sang đầu năm 1930 với thất bại của cuộc Khởi nghĩa Yên Bái “không thành công cũng thành nhân” như tuyên bố của Nguyễn Thái Học, và trước đấy nữa là Phong trào của Hoàng Hoa Thám, một phong trào yêu nước nặng cốt cách  phong kiến.

Điều này dẫn đến kết quả là năm 1929, nhiều tổ chức cộng sản Việt Nam lần lượt được thành lập. Đầu tiên là tổ chức Đảng Cộng sản thành lập tại số nhà 5D phố Hàm Long, Hà Nội. Xin nói một chút về tổ chức này. Xưa nay, trong các văn bản (bài viết báo, tạp chí, sách, kể cả sách giáo trình, giáo khoa) đều viết rằng, đây là “chi bộ” (section). Tôi cho đây là cách gọi chưa phù hợp với thực tế. Nếu gọi đó là “chi bộ” thì phải hiểu đó là section của tổ chức (đảng bộ) nào, chẳng nhẽ đó là chi bộ, hay gọi cách khác là “phân bộ” (cũng là section) của Quốc tế Cộng sản. Tổ chức Đảng Cộng sản ở Việt Nam 5D Hàm Long (xin được gọi tắt là như thế) không thể gọi là chi bộ, hay phân bộ của Quốc tế Cộng sản được, vả lại lúc này Đảng Cộng sản Việt Nam chưa ra đời. Nên khẳng định rằng: tổ chức Đảng (lúc mới thành lập có 9 người) 5D Hàm Long, Hà Nội chính là TỔ CHỨC ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM, chứ không phải là một chi bộ, hay phân bộ, của tổ chức cộng sản nào cả. Sau tổ chức Cộng sản 5D Hàm Long là các tổ chức sau đây lần lượt được thành lập: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, và muộn nhất lân sang ngày đầu của năm sau, năm 1930, là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Cũng cần nói thêm chút về tên gọi của các tổ chức này. Những năm này, ngôn ngữ tiếng Việt chịu ảnh hưởng nhiều từ ngôn ngữ Trung Quốc, ngoài các từ Hán Việt, còn có cả cấu trúc từ ngữ nữa. “Đông Dương Cộng sản Đảng” thuần Việt là “Đảng Cộng sản Đông Dương”. Cũng như vậy, “An Nam Cộng sản Đảng” chính là “Đảng Cộng sản An Nam”; “Đông Dương Cộng sản Liên đoàn” là “Liên đoàn Cộng sản Đông Dương”.

Vậy là, trên đất Việt Nam từ năm 1929 đã có tổ chức cộng sản rồi, đầu tiên là Tổ chức 5D Hàm Long, sau nữa là có Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng Cộng sản Việt Nam (An Nam) rồi, chứ không phải là đến đầu năm 1930 mới ra đời Đảng Cộng sản. Đầu năm 1930, cụ thể theo Quyết định của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam tháng 9-1960, xác định là ngày 03-02-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập với nghĩa là thống nhất các tổ chức cộng sản trước đó lại thành một Đảng Cộng sản duy nhất.

Đứng về phong trào cách mạng theo xu hướng cộng sản mà nói thì đúng là có sự “phân liệt”, nhưng nội bộ từng đảng không có sự phân liệt. Không đảng nào “chịu” đảng nào. Cũng đã có một số tiếp xúc giữa hai tổ chức “Đông Dương” và “An Nam” để bàn bạc đi đến thống nhất, nhưng không thành công. Đảng nào cũng “ôm” cái lý của đảng mình và chê đảng bạn. Điều này một mặt có cái lợi là khuếch trương phong trào cộng sản và tăng thêm khí thế cách mạng nhưng mặt hại nhiều hơn, dễ thấy nhất là nó phân tán lực lượng cả về mặt tổ chức và tư tưởng, khí thế. Xưa nay chưa bao giờ có việc chia rẽ, phân tán nào mà lại làm cho lực lượng mạnh lên cả.

Lúc Nguyễn Ái Quốc chưa từ Xiêm đến Quảng Châu, thì Hồ Tùng Mậu, với tầm nhìn nổi trội và sự tích cực chính trị của mình, đã ra sức tìm cách khắc phục sự phân liệt của các phong trào cách mạng và tình trạng tổ chức cộng sản ở Việt Nam công kích nhau. Hồ Tùng Mậu đã viết nhiều thư kêu gọi các tổ chức cộng sản Việt Nam thống nhất với nhau. Đang lúc khó khăn về quan điểm thống nhất thì nhiều người nhớ đến vai trò của Nguyễn Ái Quốc với tư cách là một cán bộ người Việt Nam tại cơ quan Quốc tế Cộng sản. Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một cán bộ của Quốc tế Cộng sản chính thức từ năm 1924, hưởng lương trong biên chế của tổ chức này. Nhiều người có ý định tìm cách mời Nguyễn Ái Quốc về đứng ra hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam. Trong hoàn cảnh bí mật, chắc nhiều người chưa biết rõ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động tại địa bàn nào. Hồ Tùng Mậu là một trong những người biết là Nguyễn Ái Quốc đang ở Xiêm, vì ông có mối liên lạc với bà con Việt kiều yêu nước tại Xiêm, nơi ông đã từng có một thời gian sống và hoạt động ở đó. Hồ Tùng Mậu đã có thông tin (có thể là thư) cho Nguyễn Ái Quốc và cấp báo về sự hợp nhất, đồng thời báo cáo để đề nghị Nguyễn Ái Quốc sớm đến Hong Kong đứng ra chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một đảng cộng sản duy nhất. Với vị trí quốc tế và vai trò được làm “phái viên” của Quốc tế Cộng sản thì chỉ Nguyễn Ái Quốc lúc này mới đủ uy tín cũng như sự tin cậy để đứng ra hợp nhất. Nói như vậy, phải kể đến công đầu của Hồ Tùng Mậu. Nếu không có tinh thần trách nhiệm, sự sốt sắng đúng lúc, sự am hiểu để dự đoán nơi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc lúc này, thì khó mà có thể có chuyến đi của Nguyễn Ái Quốc từ đất Xiêm sang Hong Kong cuối tháng 12-1929 rồi mới có các cuộc họp đầu năm 1930 dẫn đến sự thống nhất các tổ chức Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hồ Tùng Mậu, theo ý kiến của Nguyễn Ái Quốc, đã tham gia vào quân đội của Chính phủ Trung Hoa dân quốc và theo học tại các trường ở đây. Ông chắp mối nhiều tổ chức có thiện cảm với người Việt Nam yêu nước và xây dựng được  mối quan hệ bạn bè quốc tế. Do đó, ông có sự hiểu biết khá về tình hình chính trị-xã hội của Trung Quốc thời gian này. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng cho quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Tùng Mậu trên đất Trung Quốc, nhất là chuẩn bị cho quá trình gạt bỏ bất đồng của các tổ chức cộng sản để đến gặp gỡ Nguyễn Ái Quốc vào cuối năm 1929 đầu năm 1930. Cũng thực hiện ý kiến của Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu là một người sốt sắng, tích cực tham gia vận động thành lập và giữ chức Ủy viên phụ trách ngoại giao của “Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông” vào tháng 7-1925. Hội này gồm những người yêu nước Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Ấn Độ, Indonesia, Miến Điện. Hồ Tùng Mậu đã gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Có thời gian, Hồ Tùng Mậu công tác tại Chiêu đãi sở (tức là bộ phận Lễ tân) ở tỉnh Quảng Đông Trung Quốc, đồng thời cố gắng tạo nhiều đầu mối liên lạc với những người cộng sản các nước đang hoạt động ở Quảng Châu hoặc các trung tâm khác của Trung Quốc. Đại hội Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên tháng 5-1929 tại Quảng Châu trong đó có bàn về việc thành lập Đảng, nhưng không thành, Đoàn đại biểu Bắc Kỳ bỏ Đại hội ra về. Tình hình phân liệt trong phong trào cộng sản ở Việt Nam diễn ra trầm trọng hơn. Cũng từ đó mở ra tình hình các tổ chức cộng sản ra đời cuối năm 1929. Đứng trước nguy cơ phong trào cách mạng bị yếu đi, Hồ Tùng Mậu cùng cộng sự Lê Hồng Sơn tích cực có nhiều biện pháp tìm cách thuyết phục hai tổ chức thống nhất lại (bằng gặp gỡ, gửi lời nhắn qua người này người khác khi có điều kiện, v.v…).

Như bên trên đã đề cập, địa điểm Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam lại là ở Hong Kong, cho nên một vấn đề đặt ra là tổ chức liên lạc, tổ chức đón tiếp các đại biểu từ Việt Nam sang cũng như tổ chức cho họ về nước sau khi Hội nghị kết thúc. Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn có vai trò chủ chốt nhất đón tiếp cũng như đưa tiễn một cách bí mật, thành công, an toàn cho các đại biểu. Hội nghị không diễn ra trong một lần và không cùng một địa điểm, thậm chí có lần phải giả vờ xem trận bóng đá mà trao đổi ý kiến. Việc hậu cần, chi phí, ăn ở, đi lại trong suốt quá trình đó, Hồ Tùng Mậu cùng với cộng sự Lê Hồng Sơn trổ tài lo liệu, gây được thiện cảm cho các đại biểu để góp phần làm cho hai đảng hiểu nhau đi đến hợp nhất một cách “êm đẹp”. Điều này không dễ dàng chút nào khi chúng ta thấy trước đó ở trong nước hai đảng này hiềm khích nhau.

Cuộc đời hoạt động, yêu nước của đồng chí Hồ Tùng Mậu ken dày những công lao to lớn đối với Đảng, với cách mạng và với Nhân dân, trong đó có quãng thời gian thời dựng Đảng. Xin cảm phục tinh thần cách mạng của Hồ Tùng Mậu và mong ánh sáng người cộng sản Hồ Tùng Mậu luôn tỏa lan cho các thế hệ người Việt Nam yêu nước hôm nay và mai sau.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.3, tr.13.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.3, tr.13.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.3, tr.13.

[4] Thực dân Pháp là đại diện cho tư bản tài chính, cho vay nặng lãi. Đối với thuộc địa thì chúng rất hà khắc về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế, nô dịch về văn hoá đối với Đông Dương, đặc biệt, Pháp rất “nặng tay” đối với những người Việt Nam yêu nước, hoạt động cách mạng. Còn đối với thực dân Anh thì thực thi một chính sách thực dân “mềm” hơn, chú trọng với kiến thiết, xây dựng thuộc địa, mở mang trường học, v,v… Điều đó giải thích lý do tại sao cách mạng Việt Nam hay lấy địa bản Nam Trung Hoa và Hong Kong làm chỗ “đứng chân” ở thời dựng Đảng: Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên 1925-1927 tại Quảng Châu, Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hong Kong, Đại hội I Đảng Cộng sản Đông Dương tại Macau (thuộc địa của Bồ Đào Nha).

[5] Hồ Bá Ôn có thời gian làm Án sát tỉnh Nam Định, hy sinh anh dũng năm 1883 trong trận đánh với Pháp để giữ thành Nam Định.

[6] Bài điếu của Hồ Chí Minh về Hồ Tùng Mậu được viết vào ngày 1-8-1951. Xin xem Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.7, tr.148-149. Trong bài điếu, có những câu rất cảm động, thắm thiết của Hồ Chí Minh dành cho Hồ Tùng Mậu. Chẳng hạn: “Lòng ta rất đau xót, linh hồn chú biết chăng?”, “Tôi với chú là đồng chí, lại là thân thiết hơn anh em ruột”, “chúng ta đồng cam cộng khổ như tay với chân”, “Mất chú, đồng bào mất một người lãnh đạo tận tuỵ, Chính phủ mất một người cán bộ lão luyện. Đoàn thể mất một người đồng chí trung thành, và tôi mất một người anh em chí thiết. Mấy nguồn thương tiếc, cộng vào trong một lòng tôi!”, Chú Tùng Mậu ơi! Đành rằng sự mất, sự còn là luật chung của tọa hóa. Nhưng gặp lúc sinh ly tử biệt thì khó mà ngăn mối xót thương. Tôi gạt nước mắt, thay mặt Chính phủ, nghiêng mình trước linh hồn chú, và truy tặng chú Huân chương Hồ Chí Minh, để nêu công lao chú đối với đồng bào, đối với Tổ quốc”.

 

tin tức liên quan

Thư viện ảnh

Thống kê truy cập

114747242

Hôm nay

237

Hôm qua

2721

Tuần này

24415

Tháng này

234512

Tháng qua

149902

Tất cả

114747242