Văn hóa và đời sống
Ba trụ cột phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Tổng Bí thư Tô Lâm trao đổi về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ảnh: TTXVN
Việt Nam đang chuyển mình vào Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc như Tổng Bí thư Trung ương Đảng Tô Lâm đã khẳng định. Kỷ nguyên mới được đặt trên nhiều trụ cột khác nhau từ chính trị, kinh tế, văn hóa và cả con người Việt Nam. Trong kỷ nguyên mới, khoa học công nghệ sẽ càng trở nên quan. Khoa học công nghệ là bệ đỡ quan trọng để đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền số, phát triển nền kinh tế số và kiến tạo nền văn hóa số.
Định hình một kỷ nguyên mới
Kể từ khi Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh đến “Kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” như là một diễn ngôn trọng điểm, một chiến lược phát triển đất nước và cũng một nhiệm vụ trọng tâm cho toàn Đảng, toàn dân Việt Nam trước khi bắt đầu cho Đại hội Đảng lần thứ XIV sắp tới, thì thuật ngữ “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” trở thành một diễn ngôn phổ biến thu hút mọi phương tiện truyền thông. Đây là một điều quan trọng, nó trở thành chủ đề thảo luận ở hầu hết các cơ quan đoàn thể, và cũng trở thành một định hướng cốt lõi để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn trong giai đoạn tới. Nhưng để “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” thành hiện thực, đạt các mục tiêu cơ bản thì cần nhiều nhân tố, trong đó, khoa học công nghệ giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Khoa học công nghệ sẽ là nhân tố quyết định đến nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề của đất nước, của dân tộc trong “kỷ nguyên vươn mình”.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, như Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, kỷ nguyên thịnh vượng dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới, cho hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu”. Về cơ bản, những mục tiêu được đưa ra trong “kỷ nguyên vươn mình” không phải là cái gì xa lạ, mà là sự tiếp nối các mục tiêu của Đảng, Nhà nước, của cách mạng đặt ra trong nhiều thập kỷ qua. Nhưng bên cạnh đó, “kỷ nguyên vươn mình” được đặt ra những mục tiêu mới với động lực mới và những biện pháp thực hiện mạnh mẽ hơn, gắn với xu thế phát triển của toàn thế giới và phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đặc biệt, “kỷ nguyên vươn mình” cũng nhấn mạnh đến nhiều nhân tố của thời đại, như khoa học công nghệ, con người, kinh tế số, chính quyền số, văn minh số… và xem chuyển đổi số gắn với phát triển khoa học công nghệ 4.0 là nhân tố then chốt.
Xây dựng chính quyền số
Ngay sau khi lên làm Tổng Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí Tô Lâm và lãnh đạo Đảng đã thể hiện quyết tâm đẩy mạnh cải cách hành chính một cách triệt để. Bắt đầu hoàn thành sát nhập các xã phường theo kế hoạch trước đó, đồng thời đẩy mạnh công tác chuẩn bị để sát nhập các bộ, ngành và các ban liên quan theo đúng kế hoạch, thậm chí đẩy nhanh hơn kế hoạch dự kiến. Có thể tiếp theo sẽ nghiên cứu và chuẩn bị các phương án cho việc sáp nhập các tỉnh thành một cách có chiến lược phù hợp. Trong quá trình đẩy mạnh cải cách hành chính, khoa học công nghệ là nhân tố quan trọng. Khi sáp nhập các phường xã; các bộ, ban, ngành thì không gian và số lượng cán bộ cũng như số lượng đối tượng tương tác trong quá trình quản lý cũng sẽ tăng lên nhiều lần. Để đảm bảo các hoạt động được diễn ra một cách thuận lợi, suôn sẻ và nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của người dân và đảm bảo hệ thống quản lý có thể thực hiện tốt nhiệm vụ, thì cần phải phát triển khoa học công nghệ, đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, chính quyền điện tử. Việc xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số không phải là nội dung mới, nó đã được quan tâm từ nhiều năm trước, trong quá trình thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia cũng như phát triển khoa học công nghệ phục vụ quản lý và phát triển đất nước. Nhưng từ Đại dịch COVID-2019 thì người ta mới thấy được giá trị của chính quyền điện tử, chính quyền số. Và cũng từ đó, làm việc online, quản lý online, họp online… càng trở nên phổ biến và quen thuộc với mọi người hơn.
Trong bối cảnh cải cách hành chính, chính quyền điện tử, chính quyền số là nội dung quan trọng. Thứ nhất, chính quyền điện tử có thể giúp giảm thiếu số cán bộ viên chức làm việc hành chính công qua việc sử dụng các phần mềm và hệ thống quản lý số để thay thế, điều này đáp ứng được mục tiêu tinh gọn bộ máy hành chính nhà nước đang được quan tâm nhiều trong những năm qua. Thứ hai, khi không gian của các địa phương, bộ ban ngành mở rộng ra, tần suất công việc nhiều hơn mà cán bộ lại phải giảm đi thì chính quyền điện tử có thể giúp cho việc tiếp xúc trực tiếp giảm bớt mà hiệu quả công việc được nâng cao. Thứ ba, chính quyền điện tử giúp hạn chế việc đi lại và làm giảm mật độ giao thông, nhất là ở các đô thị lớn. Thứ tư, chính quyền điện tử cũng giúp cho người dân ở những khu vực cách xa trung tâm hành chính có thể thực hiện các giao dịch một cách mà không nhất thiết phải đi đến trụ sở cơ quan hành chính. Cuối cùng, chính quyền điện tử giúp quản lý, lưu trữ tài liệu cũng như bảo vệ an toàn tư liệu một cách thuận tiện và nhanh chóng hơn, giảm thiểu được nhiều sức lao động. Chính quyền điện tử cũng giúp cho các địa phương gắn kết với cả nước hơn, giúp cho Việt Nam hợp tác nhanh chóng và chặt chẽ với thế giới rộng lớn hơn thông qua khoa học công nghệ.
Phát triển kinh tế số
Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp tổng kết 6 tháng đầu năm về công tác chuyển đổi số. Ảnh: Báo Nhân dân
Kinh tế số đang là xu hướng phát triển chung của toàn nhân loại. Hầu hết các nước đều đẩy mạnh phát triển kinh tế số. Tỷ lệ đóng góp vào nền kinh tế của kinh tế số ngày càng tăng lên nhanh chóng, nhất là ở các nước phát triển và cả các nước đang phát triển. Ở Việt Nam cũng vậy, kinh tế số trong những năm gần đây không ngừng được đẩy mạnh phát triển. Nền kinh tế số ở Việt Nam tăng trưởng khá nhanh trong thời gian gần đây. Quy mô nền kinh tế số (tính theo GMV) tăng từ 18% năm 2021 lên ước đạt 36 tỷ USD năm 2024, đạt tỷ lệ tăng trưởng kép (CAGR) hàng năm giai đoạn 2021-2024 ước đạt 24%/năm. Đây là mức tăng trưởng cao hàng đầu của khu vực ASEAN. Tuy nhiên, doanh số bán lẻ trực tuyến của Việt Nam nhỏ hơn nhiều doanh số của Trung Quốc rất nhiều. Theo báo cáo tại Hội nghị hợp tác thúc đẩy phát triển kinh tế số Trung Quốc - Việt Nam tháng 11/2024 thì trong nửa đầu năm 2024 doanh số kinh tế từ các hoạt động trực tuyến của Trung Quốc đạt 7,1 nghìn tỷ nhân dân tệ (khoảng 996 tỷ USD). Nhưng so với các nước ASEAN thì kinh tế số của Việt Nam đã tăng trưởng ở mức nhóm đầu.
Trong kinh tế số, thương mại điện tử giữ vai trò quan trọng. Sự phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam trong mấy năm gần đây đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Thương mại điện tử đạt mức tăng trưởng khá ấn tượng, tiếp tục là trụ cột của nền kinh tế số với tổng giá trị 2024 ước đạt 22 tỷ USD, tăng 18% và chiếm 61% tổng quy mô nền kinh tế số, đưa mức tăng trưởng trung bình giai đoạn 2021-2024 ước đạt khoảng 22%/năm. Nguyên nhân của kết quả này chủ yếu do tăng trưởng GDP tương đối cao (ước đạt khoảng 6% giai đoạn 2014-2024), dân số trẻ chiếm tỷ trọng khá đông, tầng lớp trung lưu tăng nhanh với chất lượng của hệ thống hạ tầng số đạt mức khá của khu vực ASEAN. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng thanh toán và tín dụng số, nhất là cho vay tiêu dùng số phát triển tương đối nhanh, tăng trưởng tương ứng 25% năm 2021 và 39% năm 2023. Điều này là động lực quan trọng để tạo nên sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số ở Việt Nam.
Nghệ An tổ chức tọa đàm về kinh tế số
Đẩy mạnh phát triển kinh tế số gắn với việc Việt Nam gia nhập các diễn đạt kinh tế thế giới, tham gia ký kết các hiệp định kinh tế để mở rộng hợp tác với nhiều đối tác trên thế giới. Cụ thể, tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do (FTAs) với hầu hết các nền kinh tế, với tất cả siêu cường kinh tế trên thế giới. Tuy vậy, các quy định về kinh tế số và thương mại điện tử có mức độ cam kết nhất mạnh mẽ và có diện bao phủ mạnh nhất là các cam kết trong Hiệp định RCEP, (có hiệu lực từ 1/1/2022) giữa ASEAN và 6 đối tác đã có FTA với ASEAN là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand); Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) (có hiệu lực 1/8/2020); Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) (có hiệu lực 8/3/2018), bao gồm 11 nước thành viên là: Úc, Brunây, Canađa, Chi-lê, Nhật Bản, Malaixia, Mêhicô, Niu Di-lân, Pê-ru, Singapore và Việt Nam. Những hiệp định này là cơ sở về chính sách để Việt Nam hợp tác với các quốc gia khác trong đẩy mạnh phát triển kinh tế số, qua đó đưa nền kinh tế hội nhập sâu rộng hơn với thế giới bên ngoài.
Để đẩy mạnh phát triển kinh tế số thì khoa học công nghệ là nhân tố quan trọng nhất, là yếu tố sống còn. Bởi trong kinh tế số nói chung và thương mại điện tử nói riêng, khoa học công nghệ là nguồn lực, là nhân tố đảm bảo các hoạt động cốt lõi. Các giao dịch đều chủ yếu dựa vào mạng lưới công nghệ. Một sự cố về khoa học công nghệ liên quan có thể ảnh hưởng đến các hoạt động trong nền kinh tế số và gây nên tổn thất vô cùng to lớn đối với nền kinh tế. Vậy nên, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ làm động lực để phát triển kinh tế số là vấn đề quan trọng, cũng là nhân tố then chốt quyết định sự phát triển của nền kinh thế trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Kiến tạo nền văn hóa số
Kỷ nguyên mới hay kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dựa trên nhiều trụ cột quan trọng như cải cách hành chính để nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị và bộ máy quản lý nhà nước, phát triển nền kinh tế số để đẩy mạnh hiệu quả kinh tế cũng như quá trình hội nhập quốc tế… Nhưng quan trọng bậc nhất vẫn là phát triển nền văn hóa vừa phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa tiếp nhận và vận dụng tối đa các giá trị văn hóa mới của nhân loại. Nền văn hóa vừa là động lực, vừa là mục tiêu của kỷ nguyên mới hay kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Vươn mình bên cạnh chính trị và kinh tế thì cũng là sự chuyển mình của nền văn hóa. Trong đó, theo xu hướng chung của nhân loại, theo sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thì nền văn hóa mới sẽ là nền văn hóa số, nền văn minh tri thức hay văn minh tin học, văn minh trí tuệ… Dù gọi bằng cách nào thì trong nền văn hóa đó, khoa học công nghệ trở thành điểm nhấn cho hầu hết các quá trình phát triển. Chuyển đổi số, cách mạng số, chính quyền số, kinh tế số… sẽ chỉ là một cái tên gọi trống rỗng nếu không có văn hóa số, không có công dân số hay nguồn nhân lực số. Thế nên, văn hóa trong kỷ nguyên mới không những không bị giảm thiểu vai trò, mà ngược lại còn trở nên quan trọng hơn, là nguồn lực cơ bản để đưa dân tộc chuyển mình.
Chuyển đổi số trong hoạt động trưng bày ở Bảo tàng Nghệ An. Ảnh: Khánh Hoan
Khoa học công nghệ vốn bản thân nó là một sản phẩm văn hóa, do con người tạo ra và con người quyết định đến sự phát triển của nó. Nhưng cũng như các sản phẩm văn hóa khác, khoa học công nghệ tác động ngược trở lại đến văn hóa, góp phần kiến tạo các giá trị văn hóa mới. Khoa học công nghệ ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống, từ sinh hoạt sản xuất, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt văn hóa. Con người hiện tại, khi tách khỏi công nghệ sẽ gặp nhiều khó khăn, nếu không muốn nói là trở nên lạc lõng. Sự định danh cá nhân con người đang dần được số hóa, hầu hết các giấy tờ quan trọng đều được số hóa… Điều đó làm cho con người cùng trở thành một định danh số. Rồi sự tương tác giữa con người với nhau cũng được thực hiện chủ yếu dựa vào khoa học công nghệ. Có thể nói khoa học công nghệ đang len lỏi vào mọi vấn đề cuộc sống, làm cho con người trở nên lệ thuộc hơn vào công nghệ.
Văn hóa số, xét cho cùng là nền văn hóa gắn với quá trình chuyển đổi số và chịu ảnh hưởng của khoa học công nghệ. Văn hóa số gắn với chính trị số, chính quyền số, kinh tế số, công dân số… đều là những thuật ngữ thời thượng, đang được nhiều nước quan tâm. Nền văn hóa số cũng là một thể hiện của văn minh tri thức, văn minh trí tuệ, bởi ở đó, sức lao động thể chất không thể so sánh với sự sáng tạo của trí tuệ con người. Những hệ thống dữ liệu số sẽ trở thành một tài nguyên quan trọng, thành nhân tố thứ tư (sau cơ sở vật chất, sức lao động và vốn) của tư liệu sản xuất. Nó trở thành một nhân tố quan trọng cho quá trình phát triển. Rồi đây, theo dự báo, bên cạnh so bì, cạnh tranh nhau về tài nguyên thiên nhiên, về nguồn lực văn hóa và con người, thì người ta còn cạnh tranh nhau về hệ thống dữ liệu, về hiệu quả số hóa và chuyển đổi số của các địa phương, quốc gia hay khu vực. Hệ thống dữ liệu không chỉ được địa phương, quốc gia mà một lúc nào đó sẽ quốc tế hóa, trở thành nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển của nhân loại. Xây dựng văn hóa số vì thế sẽ trở thành vấn đề quan trọng của các quốc gia./.
tin tức liên quan
Videos
Người Hà Nội thanh lịch - một ít nhận dạng về nó
Sự giao thoa của tư tưởng nho giáo và phật giáo trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khai sáng, một nhà báo vĩ đại của nền báo chí cách mạng Việt Nam
Các lễ hội của cư dân miền biển Nghệ An
Đại học về làng
Thống kê truy cập
114688758
2179
2419
2179
229387
1114335874
114688758