Góc nhìn văn hóa

Từ số hóa nguồn nhân lực đến phát triển nguồn nhân lực số

Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung đang đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường phát triển nền kinh tế số. Trong quá trình đó, con người mà chính xác hơn là nguồn nhân lực - là nhân tố quan trọng để đảm bảo sự phù hợp và tính hiệu quả của các chính sách. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì nguồn nhân lực cũng phải thay đổi. Số hóa nguồn nhân lực trở thành nhu cầu tất yếu và phát triển nguồn nhân lực số trở thành xu hướng chủ đạo. Để đẩy mạnh số hóa nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực số thì chúng ta cần phải tìm hiểu rõ hơn về những vấn đề này.

Hiểu về số hóa nguồn nhân lực

Gần đây, dưới việc đẩy mạnh chuyển đổi số trên nhiều lĩnh vực nên vấn đề số hóa nguồn nhân lực cũng được nhiều người quan tâm. Điều này cũng dễ hiểu bởi nhân lực tức là con người - là vấn đề mấu chốt. Muốn số hóa các hay đẩy mạnh chuyển đổi số thì cũng phải bắt đầu từ con người. Vậy nên số hóa nguồn nhân lực và đào tạo nhân lực số trở thành chìa khóa để giải quyết các vấn đề trong chuyển đổi số. Nhưng hiểu về số hóa nguồn nhân lực như thế nào cho đúng lại không phải là vấn đề đơn giản.

Tổng kết từ nhiều quốc gia cho thấy, dưới tác động của cách mạng công nghệ 4.0 và quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ đang làm thay đổi căn bản cách thức tổ chức sản xuất, quản trị và sử dụng nguồn nhân lực trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, số hóa nguồn nhân lực không còn được hiểu đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ nhân sự hay tự động hóa các quy trình hành chính, mà đã trở thành một quá trình chuyển đổi toàn diện nhằm tái cấu trúc phương thức phát triển, quản trị và khai thác nguồn nhân lực dựa trên nền tảng dữ liệu, công nghệ số và các mô hình quản trị hiện đại.

Từ góc độ phát triển nguồn nhân lực, số hóa nguồn nhân lực có thể được hiểu là quá trình chuyển đổi toàn diện từ mô hình phát triển nhân lực truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên dữ liệu, công nghệ số và năng lực số. Quá trình này bao gồm ba bước hay ba cấp độ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thứ nhất, số hóa dữ liệu nguồn nhân lực thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất về người lao động, trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực nghề nghiệp và nhu cầu đào tạo. Thứ hai, số hóa các hoạt động quản trị và phát triển nhân lực, bao gồm tuyển dụng, đào tạo, đánh giá, sử dụng, quy hoạch, điều động và phát triển nghề nghiệp trên các nền tảng số. Thứ ba, quan trọng hơn cả là số hóa chính bản thân người lao động, tức phát triển các năng lực số, tư duy số và văn hóa số để mỗi cá nhân có thể thích ứng và sáng tạo trong môi trường làm việc mới. Chính cấp độ thứ ba đã làm cho số hóa nguồn nhân lực vượt ra khỏi phạm vi ứng dụng công nghệ đơn thuần để trở thành một chiến lược phát triển con người trong thời đại số.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, điểm cốt lõi của số hóa nguồn nhân lực không nằm ở việc thay thế con người bằng công nghệ mà ở việc gia tăng giá trị của con người thông qua công nghệ. Nếu trong nền kinh tế công nghiệp, lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp, một địa phương hay một quốc gia chủ yếu dựa trên vốn vật chất và lao động phổ thông thì trong nền kinh tế số, lợi thế cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực, khả năng sáng tạo và mức độ làm chủ công nghệ. Vì vậy, số hóa nguồn nhân lực hướng tới việc hình thành một lực lượng lao động có khả năng khai thác dữ liệu, sử dụng thành thạo thao tác cơ bản các nền tảng số, đủ năng lực hợp tác trong môi trường số và liên tục cập nhật tri thức mới để đáp ứng nhu cầu công việc. Đây cũng là cơ sở để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế của một đất nước đang phát triển như Việt Nam.

Trong ba bước quan trọng về số hóa nguồn nhân lực như đề cập ở trên thì có thể thấy được ở cấp độ đầu tiên là số hóa thông tin nguồn nhân lực, là cấp sơ khai, mục tiêu chủ yếu là chuẩn hóa thông tin, giảm chi phí lưu trữ và nâng cao hiệu quả quản lý, là giai đoạn nền tảng mà hầu hết các tổ chức đều phải thực hiện trước khi tiến hành các bước chuyển đổi sâu hơn. Ở cấp độ thứ hai là số hóa quy trình quản trị nhân lực bằng việc tích hợp phần mềm quản lý nhân sự, hệ thống hoạch định nguồn lực, tuyển dụng trực tuyến, đánh giá năng lực bằng dữ liệu và quản lý hiệu suất theo thời gian thực. Ở cấp độ này, công nghệ không chỉ hỗ trợ lưu trữ dữ liệu mà còn tái cấu trúc quy trình quản trị, giúp nâng cao năng suất, tính minh bạch và khả năng ra quyết định. Ở cấp độ thứ ba là chuyển đổi số nguồn nhân lực, là cấp độ cao hơn khi dữ liệu, công nghệ và con người được tích hợp thành một hệ sinh thái thống nhất. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, phân tích dự báo hay trợ lý số được sử dụng để dự báo nhu cầu nhân lực, phát hiện khoảng trống kỹ năng, cá nhân hóa quá trình đào tạo, tối ưu hóa việc phân bổ nhân sự và hỗ trợ ra quyết định chiến lược.

Trong bối cảnh nước ta hiện nay, số hóa nguồn nhân lực không chỉ là yêu cầu của tiến trình chuyển đổi số quốc gia mà còn là giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh già hóa dân số, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Tuy nhiên, quá trình này không thể đồng nhất với việc đầu tư công nghệ hay trang bị phần mềm quản trị hiện đại. Thành công của số hóa nguồn nhân lực phụ thuộc trước hết vào việc phát triển con người với tư cách là chủ thể của chuyển đổi số. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng năng lực số cho toàn xã hội, hình thành văn hóa số. Chỉ khi con người được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình số hóa thì chuyển đổi số mới thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong kỷ nguyên số.

Chính sách số hóa nguồn nhân lực

Như đã nói ở phần trên, việc số hóa nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng, nên cần phải có chính sách để thực hiện và đẩy mạnh công cuộc số hóa nguồn nhân lực trong bối cảnh Việt Nam tăng cường chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số. Đến nay chúng ta chưa xây dựng một chính sách riêng về chuyển đổi số nguồn nhân lực, nhưng nội dung này được đặt ra trong nhiều chính sách chuyển đổi số của Nhà nước.

Quá trình số hóa nguồn nhân lực ở Việt Nam trong những năm gần đây được định hình rõ nét thông qua ba văn bản có tính nền tảng gồm Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Ba văn bản này phản ánh sự chuyển biến nhất quán trong tư duy phát triển của Việt Nam, từ coi chuyển đổi số chủ yếu là ứng dụng công nghệ trong quản lý sang xem nguồn nhân lực số là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững của quốc gia.

Dù ra đời trong thời gian không quá cách xa nhau, nhưng ba văn bản chính sách này thể hiện những bước quan trọng trong nhận thức và giải quyết vấn đề số hóa nguồn nhân lực nói riêng cũng như chuyển đổi số nói chung của Đảng và Nhà nước. Trong đó, Quyết định 749/QĐ-TTg đặt nền móng bằng việc xác định phát triển nguồn nhân lực là một trong những trụ cột của chuyển đổi số quốc gia, nhấn mạnh yêu cầu phổ cập kỹ năng số, xây dựng xã hội học tập số và đào tạo lực lượng lao động có khả năng thích ứng với môi trường số. Chỉ một năm rưỡi sau đó, Quyết định 146/QĐ-TTg đã cụ thể hóa các nhiệm vụ này thông qua hệ thống mục tiêu phát triển kỹ năng số cho toàn dân, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và hình thành lực lượng chuyên gia chuyển đổi số phục vụ cả khu vực công và khu vực tư. Sang đến Nghị quyết 57-NQ/TW, tư duy phát triển đã được nâng lên một bước mới khi nguồn nhân lực không chỉ được tiếp cận dưới góc độ "được trang bị kỹ năng số" mà còn phải trở thành lực lượng sáng tạo, làm chủ và phát triển các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bán dẫn, điện toán đám mây và an ninh mạng.

Các chính sách trên là nền tảng chung của cả nước, cũng là cơ sở để các địa phương xây dựng các chính sách chuyển đổi số, trong đó có liên quan đến vấn đề số hóa nguồn nhân lực. Đối với Nghệ An, ba định hướng chính sách này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tỉnh đang triển khai đồng thời các mục tiêu của Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 18/7/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết 39 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là những động lực mới để đưa Nghệ An trở thành trung tâm của khu vực Bắc Trung Bộ. Với quy mô dân số lớn, lực lượng lao động dồi dào nhưng chất lượng chưa đồng đều giữa khu vực đô thị và miền núi, việc triển khai các chuyển đổi số không chỉ góp phần nâng cao kỹ năng số cho lực lượng lao động hiện hữu mà còn tạo điều kiện xây dựng đội ngũ nhân lực số phục vụ phát triển công nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, chính quyền số và xã hội số.

Nếu phân tích theo khái niệm chuyển đổi số đã nêu ở phần trước với ba cấp độ thì số hóa nguồn nhân lực ở Nghệ An hiện nay đang ở giữa cấp độ một và cấp độ hai. Điều này thể hiện qua những kết quả mà tỉnh nhà đã đạt được trong những năm qua. Trước hết, đã xây dựng được nền tảng chính sách khá đồng bộ, quan trọng nhất là Nghị quyết số 09-NQ/TU về chuyển đổi số và nhiều kế hoạch chuyên ngành trong giáo dục, hành chính công và đào tạo nghề. Điểm đáng chú ý là các văn bản của tỉnh không chỉ xem chuyển đổi số là quá trình ứng dụng công nghệ mà còn xác định phát triển nguồn nhân lực là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của địa phương. Bên cạnh đó, từng bước cải thiện năng lực số của nguồn nhân lực bằng các chương trình đào tạo trên diện rộng. Đối với khu vực công, đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức thường xuyên được tập huấn về sử dụng nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến, chữ ký số, quản trị dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin... Trong lĩnh vực giáo dục, các cơ sở đào tạo đã đẩy mạnh xây dựng học liệu số, triển khai nền tảng quản lý học tập và từng bước đưa kỹ năng số vào chương trình đào tạo. Đối với giáo dục nghề nghiệp, tỉnh đã tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, đổi mới chương trình theo hướng tích hợp kỹ năng số và kỹ năng công nghệ, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao. Đặc biệt, sau mấy năm triển khai Đề án phát triển nhân lực kỹ năng nghề, Nghệ An đã đào tạo hơn 200.000 lượt người, tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt khoảng 82%, tạo nguồn lao động có trình độ kỹ thuật ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các doanh nghiệp và khu công nghiệp trên địa bàn.

Tuy nhiên, nếu tiếp cận theo nghĩa đầy đủ của khái niệm số hóa nguồn nhân lực - tức là ở cấp độ ba thì kết quả của Nghệ An vẫn còn khá khiêm tốn. Hiện nay, tỉnh chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu số thống nhất về nguồn nhân lực; chưa hình thành hồ sơ năng lực số của người lao động; chưa có hệ thống phân tích, dự báo nhu cầu lao động dựa trên dữ liệu lớn cũng như các nền tảng thông minh hỗ trợ hoạch định chính sách nhân lực. Đây cũng chính là khoảng trống cần được ưu tiên trong giai đoạn tới, nhất là khi Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và làm chủ công nghệ số là động lực quan trọng của tăng trưởng.

Hướng đến phát triển nguồn nhân lực số làm động lực tăng trưởng kinh tế

Nếu số hóa nguồn nhân lực là quá trình chuyển đổi phương thức quản trị và phát triển nguồn nhân lực thì nhân lực số là kết quả trực tiếp của quá trình đó, đồng thời cũng là lực lượng nòng cốt thúc đẩy chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển nhanh chóng, khái niệm nhân lực số ngày càng được sử dụng phổ biến trong các chiến lược phát triển quốc gia cũng như trong các nghiên cứu về nguồn nhân lực.

Nhân lực số là một khái niệm mới mẻ, ra đời trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 ngày càng ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình phát triển. Nhân lực số không phải là một ngành nghề riêng biệt mà là một trạng thái phát triển mới của nguồn nhân lực. Đó là lực lượng lao động có khả năng sử dụng công nghệ số như một công cụ để nâng cao hiệu quả công việc, đổi mới phương thức sản xuất, cung cấp dịch vụ và tạo ra giá trị mới. Theo cách hiểu này, thì một kỹ sư xây dựng ứng dụng mô hình thông tin công trình, một bác sĩ sử dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ chẩn đoán, một giáo viên triển khai lớp học số, một cán bộ hành chính giải quyết thủ tục trên nền tảng chính quyền điện tử hay một nông dân sử dụng cảm biến và dữ liệu để quản lý sản xuất… được xem là nhân lực số. Điều quyết định không phải là nghề nghiệp của họ mà là khả năng khai thác công nghệ số trong hoạt động chuyên môn.

Sự hình thành nhân lực số phản ánh sự chuyển dịch từ nền kinh tế dựa trên lao động thủ công và tri thức chuyên môn sang nền kinh tế dựa trên dữ liệu, kết nối và đổi mới sáng tạo. Trong môi trường đó, người lao động không còn chỉ thực hiện các nhiệm vụ theo quy trình cố định mà phải liên tục cập nhật tri thức, thích ứng với công nghệ mới và tham gia vào quá trình sáng tạo. Điều này làm thay đổi căn bản yêu cầu đối với nguồn nhân lực. Nếu trước đây bằng cấp và kinh nghiệm được coi là yếu tố quyết định thì ngày nay năng lực học hỏi, khả năng thích ứng và tư duy đổi mới mới là những tiêu chí quan trọng phản ánh chât lượng của nhân lực số. Hướng đến phát triển nhân lực số cũng có nghĩa là nhấn mạnh là khả năng cộng tác với trí tuệ nhân tạo và các hệ thống thông minh. Nếu trước đây tự động hóa chủ yếu thay thế lao động chân tay thì ngày nay trí tuệ nhân tạo đang hỗ trợ hoặc thay thế một phần các công việc mang tính phân tích và xử lý thông tin. Điều đó không có nghĩa vai trò của con người suy giảm mà ngược lại, đòi hỏi người lao động phải biết phối hợp với công nghệ để phát huy thế mạnh của cả hai. Máy móc có thể xử lý khối lượng dữ liệu lớn với tốc độ cao, nhưng con người vẫn giữ vai trò quyết định trong sáng tạo, đánh giá, lựa chọn phương án và giải quyết các vấn đề phức tạp gắn với bối cảnh xã hội.

Đối với phát triển địa phương, nhân lực số không chỉ là nguồn lực phục vụ chuyển đổi số mà còn là động lực thúc đẩy đổi mới mô hinh tăng trưởng. Một địa phương muốn phát triển kinh tế số, chính quyền số hay xã hội số đều phải có đội ngũ cán bộ, doanh nhân, người lao động và người dan có đủ năng lực số để khai thác hiệu quả các nền tảng công nghệ. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, nhân lực số góp phần nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công, cải thiện hiệu quả quản trị và tăng cường tính minh bạch. Trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh, nhân lực số giúp doanh nghiep đổi mới quy trình sản xuất, phát triển thương mại điện tử, mở rộng thị trường và nâng cao năng suất lao động. Trong giáo dục, y tế, văn hóa và du lịch, nhân lực số tạo điều kiện để các địa phương phát triển các mô hình dịch vụ thông minh, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Đặc biệt, đối với những địa phương có thế mạnh về di sản van hóa, nông nghiệp hoặc du lịch, nhân lực số đóng vai trò cầu nối giữa giá trị truyền thống và công nghệ hiện đại. Những người có khả năng ứng dụng công nghệ để số hóa di sản, phát triển sản phẩm văn hóa trên nền tảng số, quảng bá điểm đến thông qua các công cụ truyền thông số hay khai thác dữ liệu phục vụ quản lý tài nguyên sẽ góp phần tạo ra các động lực tăng trưởng mới. Điều này cho thấy phát triển nhân lực số không chỉ hướng tới nâng cao nang lực cạnh tranh của từng cá nhân mà còn góp phần chuyển hóa các nguồn lực sẵn có của địa phương thành lợi thế phát triển trong nền kinh tế số.

Có thể khẳng định rằng, nhân lực số là hình mẫu nguồn nhân lực của thời đại chuyển đổi số. Đó không chỉ là lực lượng lao động có trình độ công nghệ mà còn là những con người có tư duy đổi mới, khả năng học tập suốt đời, năng lực thích ứng cao và trách nhiệm xã hội trong môi trường số. Đối với các địa phương, xây dựng đội ngũ nhân lực số chính là điều kiện để thực hiện thành công chuyển đổi số, nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế tri thức và tạo dựng nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững trong những thập niên tới. Trong giai đoạn phát triển tới đây, nhân lực số sẽ là động lực quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, cũng là yếu tố cốt lõi khẳng định sức mạnh cạnh canh của địa phương, của quốc gia./.

 

tin tức liên quan

Thư viện ảnh

Thống kê truy cập

114804470

Hôm nay

2112

Hôm qua

2645

Tuần này

24135

Tháng này

247747

Tháng qua

154586

Tất cả

114804470