Văn hóa Nghệ An

Di sản trong bối cảnh kinh tế kỹ thuật số

 

Số hóa và bảo tàng ảo 

Mở đầu

Ngay từ thời tiền sử con người đã làm biến đổi chất liệu đá, gỗ, xương, rồi đến kim loại để làm nên cuộc cách mạng công nghệ đầu tiên - và theo biến hệ Kuhn, người ta coi đây là siêu hệ mẫu (metaparadigm) thứ nhất trong quá trình phát triển của nhân loại. Siêu hệ mẫu thứ hai là cuộc cách mạng công nghiệp, nổi bật với vai trò động lực của hơi nước, các năng lượng đốt cháy và điện năng. Giờ đây chúng ta đang sống trong thời đại siêu hệ mẫu thứ ba của công nghệ kỹ thuật số, với đặc trưng nổi bật là tính kết nối rộng khắp của thông tin và trí tuệ nhân tạo; động lực tạo thành trào lưu này chính là quá trình biến đổi thông tin (Hilbert 2020, tr.191). Nó bắt đầu với sự gia tăng của truyền thông, lưu trữ dữ liệu và các thuật toán, nhằm tạo ra các quy trình tự động để chuyển đổi thông tin hiện có thành tri thức có thể hành động, chính vì vậy mà nó được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như thời đại thông tin, nền kinh tế thông tin, và nền kinh tế kỹ thuật số (Tapscott, 1995), hoặc đơn giản là kinh tế số. Với hàng tỷ kết nối trực tuyến hàng ngày giữa mọi người, doanh nghiệp, thiết bị, dữ liệu và quy trình, thông qua Internet, công nghệ di động và Internet vạn vật (IoT), càng ngày, nền kinh tế số càng đan dệt và cuốn theo mọi yếu tố kinh tế truyền thống, trong đó đương nhiên bao gồm cả kinh tế di sản.

1. Khái lược quá trình phát triển kinh tế số

Lịch sử kinh tế số bắt đầu với việc thương mại hóa các công nghệ được phát triển trong Thế chiến II. Những chiếc máy tính đầu tiên tập trung vào tính toán nhanh chóng nhưng lại có ít khả năng lưu trữ và truy xuất thông tin. Vào đầu những năm 1950, bộ nhớ lõi từ cho phép lưu trữ thông tin kỹ thuật số hiệu quả và có lẽ lần đầu tiên việc thể hiện thông tin bằng số nhị phân dùng bit làm đơn vị đã giúp tạo ra chi phí tái tạo thông tin biên thấp hơn. Lúc đầu, giao tiếp hạn chế giữa các máy tính đã không phát huy được tác dụng đáng kể đối với nền kinh tế. Nhưng sự phát triển của internet và cùng với nó, giao tiếp máy tính với máy tính với chi phí thấp, phục vụ cho thương mại bắt đầu có tác động có thể đo lường được trên nhiều thị trường. Quá trình này được xây dựng dựa trên những phát minh quan trọng của quân đội Hoa Kỳ trong những năm 1960-1970 (Greenstein, 2015). Ví dụ, DARPA (Defense Advanced Research Projects Agency - Cục Dự án Quốc phòng Tiên tiến) tài trợ cho phát minh chuyển gói chia nhỏ một thông báo dài thành các thông báo ngắn hơn có thể được gửi qua mạng và sau đó được tập hợp lại khi nhận. Các nghiên cứu này cũng đã phát triển các tiêu chuẩn chuyển gói cụ thể xác định giao tiếp internet: Giao thức Điều khiển Truyền dữ liệu Internet (TCP/IP).

Quá trình tư nhân hóa diễn ra từ năm 1990 đến 1995, dẫn đến Internet thương mại hiện đại lan truyền nhanh chóng, với vai trò đặc biệt quan trọng của các trường đại học (Goldfarb, 2006). Trong khoảng thời gian 2000-2010 đã xuất hiện hàng loạt thiết bị mới cho người dùng cuối như điện thoại di động, điện thoại thông minh, máy tính bảng, netbook, máy tính xách tay, máy in 3D; các mô hình kỹ thuật số mới như điện toán đám mây, nền tảng kỹ thuật số, dịch vụ kỹ thuật số, lan truyền dữ liệu lớn, phân tích dữ liệu và ra quyết định theo thuật toán; và các công nghệ robot và tự động hóa mới (OECD, 2015). Phát sinh từ các công nghệ này là một tập hợp các khả ứng kỹ thuật số (digital affordances), bao gồm quá trình dữ liệu hóa: mở rộng các hiện tượng mà dữ liệu được lưu giữ; số hóa: chuyển đổi tất cả các phần của chuỗi giá trị thông tin từ tương tự sang kỹ thuật số; ảo hóa: tách rời vật lý các quy trình; và tính tạo sinh: sử dụng dữ liệu và công nghệ bằng những cách thức không được lên kế hoạch lúc khởi đầu của chúng thông qua tái lập trình và tái tổ hợp. (Heeks, 2016)

Với sự lan tỏa nhanh chóng - nhất là ở các nước đang phát triển - tác động của công nghệ kỹ thuật số đối với nền kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ, và được coi là dấu hiệu của các quá trình, hệ thống và lĩnh vực kinh tế mới. Điều đó có thể thấy rõ qua sự chi phối của các loại hình thể chế kinh tế mới dưới dạng các công ty: Uber - công ty “taxi” lớn nhất thế giới, Facebook - công ty truyền thông phổ biến nhất thế giới, Alibaba - nhà bán lẻ lớn nhất và có giá trị nhất thế giới, và Airbnb - “khách sạn lớn nhất thế giới”. Nhiều loại công nghệ khác nhau của kinh tế học kỹ thuật số đã khám phá cách thức thay đổi các mô hình kinh tế chuẩn khi các khoản chi phí giảm xuống đáng kể, bao gồm: i) Giảm chi phí tìm kiếm thông tin: Chi phí tìm kiếm thấp hơn trong môi trường kỹ thuật số, bằng cách mở rộng phạm vi và chất lượng tìm kiếm tiềm năng; ii) Giảm chi phí nhân rộng: Hàng hóa kỹ thuật số có thể được nhân rộng với chi phí bằng không, có nghĩa là chúng thường không có đối thủ; iii) Giảm chi phí vận chuyển: Vai trò của khoảng cách địa lý thay đổi khi chi phí vận chuyển hàng hóa và thông tin kỹ thuật số xấp xỉ bằng không; iv) Giảm chi phí theo dõi: Công nghệ kỹ thuật số giúp dễ dàng theo dõi hành vi của bất kỳ cá nhân nào; và v) Giảm chi phí xác minh: Cuối cùng, xác minh kỹ thuật số có thể giúp dễ dàng xác minh danh tiếng và độ tin cậy của bất kỳ cá nhân, công ty hoặc tổ chức nào trong nền kinh tế kỹ thuật số (Goldfarb A., and C. Tuckery 2017, tr.4).

2. Nội hàm và đặc trưng của kinh tế kỹ thuật số

2.1. Nội hàm khái niệm kinh tế kỹ thuật số

Cho đến nay đã có hàng chục định nghĩa về kinh tế kỹ thuật số và kinh tế số hóa. Một trong những định nghĩa tương đối sớm và rõ ràng, chủ yếu tập trung vào cách thức xuất hiện của các hiện tượng thương mại điện tử và kinh doanh điện tửcho rằng “Kinh tế kỹ thuật số có ba thành phần chính: i) Cơ sở hạ tầng thương mại điện tử đại diện cho tỷ trọng tổng thể của hệ thống kinh tế được sử dụng để hỗ trợ các quy trình kinh doanh điện tử và làm nền tảng cho hoạt động kinh doanh điện tử; ii) Kinh doanh điện tử đại diện cho quá trình tổ chức trên các mạng dựa vào máy tính; iii) Thương mại điện tử đại diện cho giá trị của các dịch vụ và sản phẩm được bán qua mạng có sự hỗ trợ của máy tính.” (Daoud F., 2000). Một định nghĩa mới đây, nhấn mạnh về năng lực của kinh tế số hóa trong việc mang lại tăng trưởng bền vững và bao trùm: “Kinh tế số hóa đại diện cho sự kết hợp của các sáng kiến ​​có mục đích chung khác nhau cùng các hành động kinh tế và xã hội trên phạm vi rộng và các sáng kiến ​​liên quan. Nó tích hợp các hệ thống vật lý, trong đó các khu vực kinh tế số hóa tập trung vào các bộ định tuyến, đường truyền và băng thông rộng, các thiết bị được sử dụng cho khả năng truy cập (điện thoại thông minh và máy tính), các ứng dụng mà chúng cấp nguồn như Salesforce và Google; và các chức năng mà chúng có thể cung cấp như công nghệ thông tin, điện toán đám mây và phân tích dữ liệu” (BBez A. and Y. Brauner, 2018). Một định nghĩa cập nhật khác chủ yếu quan tâm đến phân đoạn chính của các chuyển đổi kỹ thuật số,tương lai của việc làm, coi hoạt động kinh tế kỹ thuật số “là kết quả của các kết nối trực tuyến khổng lồ từ các quy trình, dữ liệu, thiết bị, doanh nghiệp và con người. Xương sống của nền kinh tế số hóa đại diện cho siêu kết nối thể hiện sự kết nối đang phát triển của các cá nhân, máy móc và tổ chức, dựa trên web, công nghệ di động và (IoT) Internet Vạn vật (Patterson R., 2018).

Hầu hết các định nghĩa đều thừa nhận rằng các sáng kiến về một hình thức ​​số hóa nào đó chính là cơ sở của nền kinh tế kỹ thuật số. Tuy nhiên, người ta vẫn thường đưa ra định nghĩa dựa trên việc áp dụng định nghĩa của OECD về sự liên kết giữa các ngành dịch vụ và sản xuất, trong đó có hiển thị, truyền và thu thập dữ liệu dưới dạng điện tử (OECD 2018). Điều này hiện được đề cập trong mã ISIC code (rev 4) (Phân loại Tiêu chuẩn Công nghiệp Quốc tế về Tất cả các Hoạt động Kinh tế (ISIC) với nhiều hạng mục khác nhau, cụ thể là: i) Hàng hóa: Sự ra đời của các hàng hóa tiêu dùng của công nghệ thông tin, ví dụ: phần cứng máy tính và viễn thông kỹ thuật số, bao gồm cả hàng hóa của nhà sản xuất công nghệ thông tin truyền thông; tư liệu sản xuất như máy móc tự động để sản xuất máy tính cá nhân và hàng hóa trung gian như trình điều khiển DVD, ổ đĩa cứng, bảng mạch chính và chip được sử dụng trong sản xuất máy tính; ii) Phần mềm: Tiếp thị, sản xuất, thiết kế, v.v. Phần mềm tùy chỉnh và đóng gói; iii) Cơ sở hạ tầng: Hoạt động và phát triển của cơ sở hạ tầng mạng ảnh hưởng; cả các dịch vụ mạng viễn thông chức năng và mạng giá trị gia tăng; iv) Dịch vụ: Các dịch vụ chuyên gia không được xem xét trong các lớp khác, ví dụ: dịch vụ kỹ thuật, đào tạo và tư vấn; v) Bán lẻ: Phân phối, bán lại và bán phần mềm công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng và hàng hóa, bao gồm cả các dịch vụ liên quan; vi) Nội dung: Sản xuất và cung cấp nội dung thông tin tích hợp số hóa và xử lý tại văn phòng hỗ trợ (Williams L.D., 2021, tr.126).

Tóm lại, việc phân tích các định nghĩa về kinh tế kỹ thuật số có thể xác định một số quan điểm sau: i) Quan điểm về nguồn lực: nhiều định nghĩa xác định các công nghệ làm cơ sở cho sự hình thành của nền kinh tế kỹ thuật số, và quan điểm nguồn nhân lực là sự kết hợp các nguồn lực tri ​​thức, sự sáng tạo hoặc kỹ năng của con người được các công nghệ thông tin truyền thông hỗ trợ; ii) Quan điểm Quy trình/Lưu lượng: hầu hết các định nghĩa đều đề cập đến việc sử dụng các công nghệ để hỗ trợ các quy trình kinh doanh cụ thể như giao dịch/thương mại; iii) Quan điểm cấu trúc: có thể khá bao quát khi nói về chuyển đổi kinh tế hoặc cụ thể hơn trong việc xác định các cấu trúc dựa trên web/mạng mới nổi lên như một phần của nền kinh tế kỹ thuật số; iv) Quan điểm Mô hình Kinh doanh: nằm giữa quan điểm quy trình và cấu trúc, là một vài định nghĩa mang lại ý tưởng về các mô hình kinh doanh mới đang được kích hoạt, ví dụ kinh doanh điện tử, thương mại điện tử hoặc các nền tảng kỹ thuật số; v) Quan điểm về Tính mới, Tính cấp thiết, Tính nhất thiết: Trong các định nghĩa và các thảo luận liên quan, người ta liên tục đề cập đến tính mới của kinh tế kỹ thuật số: công nghệ mới, các hình thức tổ chức mới, mô hình kinh doanh mới, cấu trúc mới tiềm ẩn bên trong các giá trị và chuẩn mực mới. Đặc biệt là tính cấp bách xuất phát từ các công ty tư vấn, và nhiều chủ thể khác nữa về việc cần hành động ngay bây giờ để đưa ra các chiến lược kinh doanh mới và các chính sách mới của chính phủ (Bukht R. & R. Heeks, 2018).

2.2. Một vài đặc trưng của kinh tế kỹ thuật số

Mặc dù còn thiếu các phép đo lường trực tiếp, nhưng vẫn có thể chỉ ra một số đặc trưng nổi bật của nền kinh tế kỹ thuật số từ dữ liệu có sẵn như sau: i) Nền kinh tế kỹ thuật số phân bổ không đồng đều: Về phương diện địa lý, có thể thấy tình trạng phân bố không đồng đều giữa Bán cầu Bắc và Bán cầu Nam: tỷ trọng GDP của nền kinh tế Internet ở châu Phi thấp hơn nhiều so với các nhóm quốc gia khác, chỉ 1,1%. Tương tự như vậy, 3/4 thương mại điện tử toàn cầu do Mỹ, Anh, Nhật Bản và Trung Quốc nắm giữ. Hoa Kỳ thống trị lĩnh vực kỹ thuật số của khu vực Bán cầu Bắc, chiếm khoảng 1/4 tổng số toàn cầu. Ở Bán cầu Nam các quốc gia lãnh đạo nền kinh tế kỹ thuật số bao gồm Ấn Độ với hơn 7% GDP ước tính từ lĩnh vực công nghệ thông tin, Philippines cũng hơn 7% GDP ước tính từ lĩnh vực BPO (Business Process Outsourcing) thuê ngoài quy trình kinh doanh; ii) Kinh tế kỹ thuật số tăng trưởng nhanh hơn toàn bộ các loại hình kinh tế nói chung, đặc biệt là ở Bán cầu Nam. Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới ước tính rằng công nghệ thông tin truyền thông chiếm 17% tăng trưởng GDP ở các nước đang phát triển trong mười năm trước (WB 2016). Tốc độ tăng trưởng kinh tế kỹ thuật số ở mọi nơi đều nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tổng thể nền kinh tế, và đặc biệt cao ở Bán cầu Nam. Ví dụ, loại hình kinh tế Internet ở các nước G20 được cho là “tăng trưởng 10% một năm - nhanh hơn đáng kể so với tổng thể các loại hình kinh tế của các nước G20 nói chung. Mức tăng trưởng thậm chí còn cao hơn ở các nền kinh tế đang phát triển, ở mức 15-25% hàng năm” (WEF 2015); iii) Nền kinh tế kỹ thuật số đóng góp đáng kể vào việc làm: năm 2014 có hơn 3 triệu lao động được tuyển dụng trực tiếp và 7-10 triệu lao động gián tiếp khác làm việc thông qua lĩnh vực công nghệ thông tin của Ấn Độ, trong khi đó có khoảng 6 triệu lao động được tuyển dụng trực tiếp và gián tiếp nhờ khu vực kinh tế Internet (Bukht R. & R. Heeks, 2018).

 

Mã QR thông tin về đền Chiêu Trưng Lê Khôi ở Hà Tĩnh

3. Giao lộ kinh tế kỹ thuật số và kinh tế di sản

3.1. Số hóa di sản văn hóa

Khái niệm di sản văn hóa và số hóa di sản văn hóa là trọng tâm của các chuyên ngành số hóa di sản, đòi hỏi phải hiểu biết đầy đủ về các quá trình giao tiếp thiết yếu của ký ức di sản trong xã hội thông tin, chức năng và vai trò của các tổ chức ký ức di sản, kỹ năng trong việc bối cảnh hóa và diễn giải các đối tượng/tài liệu di sản văn hóa. Trong khi đó di sản văn hóa theo nghĩa rộng là tất cả những gì khả dĩ dùng làm bằng chứng về các hoạt động và thành tựu của con người trong một khoảng thời gian nhất định trong quá khứ. Hệ thống thuật ngữ này phân biệt di sản văn hóa với các yếu tố phi di sản, giúp hiểu rõ các quá trình chuyển hóa cơ bản của vật thể hoặc tài liệu thành di sản văn hóa. Số hóa như một phương pháp quản lý tài nguyên di sản văn hóa bằng cách tạo ra các cách thể hiện bằng kỹ thuật số, đôi khi đòi hỏi phải xem xét lại các khái niệm truyền thống. Điều quan trọng là phải lập bản đồ cảnh quan của di sản văn hóa, xác định các loại hình và quan điểm khác nhau (ví dụ di sản vật thể và phi vật thể; phân loại di sản về phương tiện truyền thông - văn bản/truyền khẩu/âm thanh/hình ảnh/kỹ thuật số, v.v…), cũng như các nhà khai thác di sản văn hóa (kho lưu trữ, bảo tàng, thư viện, trưng bày, nghiên cứu, tuyên truyền, các loại hình kinh tế di sản, dịch vụ du lịch di sản, phát triển du lịch sinh thái trên cơ sở di sản văn hóa của các cộng đồng người khác nhau, đặc biệt là các cộng đồng dân tộc thiểu số), nhấn mạnh quan điểm và lý do hợp tác của họ (Manžuch Z.; I. Huvila and T. Aparac-Jelusic, 2005, tr. 44).

3.2. Xây dựng kế hoạch cho các sáng kiến ​​số hóa di sản văn hóa

Sáng kiến ​​số hóa là một tập hợp các hoạt động đòi hỏi cam kết dài hạn của thể chế và các khoản đầu tư đáng kể về tài chính, nhân lực, vật lực và thời gian. Vì vậy việc xây dựng kế hoạch số hóa liên quan đến việc đưa ra các quyết định cần thiết để phát triển các dự án bền vững đáp ứng nhu cầu của người dùng. Một mặt, nó dựa trên kiến ​​thức lý thuyết có được từ nhiều lĩnh vực như quản lý di sản, khai thác giá trị di sản, các chính sách di sản và chính sách văn hóa liên quan. Mặt khác, nó đòi hỏi sự kết hợp linh hoạt giữa kiến ​​thức với khả năng nắm bắt xu hướng hiện tại của môi trường kinh tế - xã hội và các giá trị di sản với tư cách là động lực góp phần phát triển bền vững xã hội. Việc xây dựng kế hoạch cho các sáng kiến ​​số hóa bao gồm ba khía cạnh không thể tách rời là: i) Phát triển ý tưởng; ii) Xây dựng kế hoạch quản lý, bảo tồn lâu dài các nguồn di sản văn hóa được số hóa; iii) Phát huy các giá trị di sản văn hóa đã được số hóa. Việc phát triển một ý tưởng bao gồm việc phân tích môi trường từ quan điểm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và công nghệ, đòi hỏi phải phù hợp với bối cảnh rộng lớn hơn của sự phát triển và đổi mới trong lĩnh vực di sản văn hóa, đặc biệt là các quy định của pháp luật, các chính sách của địa phương, quốc gia và quốc tế (Manžuch Z.; I. Huvila and T. Aparac-Jelusic, 2005, tr. 45). Một tổ chức thực hiện một dự án số hóa, cần phải đánh giá tất cả các yếu tố mạnh, yếu, cơ hội, rủi ro xung quanh sáng kiến, và còn phải tính đến việc phân bổ các nguồn lực cần thiết, bao gồm nhân lực, vật lực, tài chính, quản lý rủi ro, nguồn lực thời gian; phải làm rõ và giải quyết các vấn đề bản quyền, thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng và thủ tục kiểm soát, việc quản lý các bộ sưu tập số hóa trong viễn cảnh dài hạn (Smith A., 2001).

3.3. Thiết kế chiến lược số hóa di sản lấy người dùng làm trung tâm

Chiến lược này có hai khía cạnh chính: i) Cần xác định nhóm người dùng mục tiêu và nhu cầu của họ để phát triển các dịch vụ phù hợp; và ii) Các dịch vụ này phải dễ sử dụng và dễ tiếp cận trong môi trường công nghệ, dựa trên các yếu tố đa dạng của bối cảnh sử dụng. Chiến lược thiết kế thích hợp nhất là “phân khúc thị trường”: phân biệt các nhóm khách hàng/người dùng mục tiêu dựa trên các đặc điểm nhân khẩu học xã hội, vị trí, lối sống và các đặc điểm khác của họ (Piercy, N., 2000). Phân khúc thị trường là điều kiện tiên quyết tạo ra lợi nhuận, thúc đẩy tính khả dụng của các dịch vụ hướng tới người dùng trong tương tác với một hệ thống dựa trên công nghệ kỹ thuật số. Ở đây, tính khả dụng được hiểu là: i) Một tập hợp các tiêu chí được xác định trước, phần cứng và phần mềm phải đáp ứng để có thể sử dụng hiệu quả; và ii) Một quá trình lấy người dùng làm trung tâm, khi phát triển phần cứng/phần mềm cần xem xét các mục tiêu, đặc điểm của người dùng và môi trường thích hợp với từng loại hình di sản; iii) Một bộ tiêu chí được thiết lập cung cấp một khuôn khổ vững chắc để đánh giá tính khả dụng trong bối cảnh số hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các tiêu chí hiện có một cách linh hoạt và sáng tạo (Manžuch Z.; I. Huvila and T. Aparac-Jelusic, 2005, tr. 46). Điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính khả dụng của kinh tế kỹ thuật số trước hết là khả năng tiếp cận giữa người dùng và môi trường vật lý, môi trường công nghệ; nó có thể chỉ ra các rào cản hoặc các hạn chế khả năng của người dùng trong một môi trường nhất định, chẳng hạn khuyết tật về vận động, thị giác, nhận thức, thính giác, v.v… (Glosiene A. and Z. Manzuch, 2004).

Tạm kết

Di sản văn hóa một di tích, một công trình hoặc nhóm công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khảo cổ học, khoa học, nhân học, văn hóa học, v.v… Nó bao gồm cả văn hóa vật thể như các tòa nhà, tượng đài, phong cảnh, tác phẩm nghệ thuật, hiện vật như sách vở, tài liệu, tranh ảnh, vật thể, và văn hóa phi vật thể như văn hóa dân gian, truyền thống, ngôn ngữ, tri thức bản địa và cả di sản thiên nhiên. Di sản văn hóa có tầm quan trọng đặc biệt vì nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý thức về bản sắc, lòng yêu nước, kiến ​​thức, niềm tin và hành vi của chúng ta. Các di sản văn hóa luôn đỏi hỏi phải được bảo tồn và phát huy vì chúng là nhữnghệ giá trị, bản sắc có thể giới thiệu với mọi người, kể cả trong nước và trên thế giới (Adane A., A. Chekole, G. Gedamu, 2019). Bên cạnh phương diện văn hóa và khoa học, số hóa các di sản văn hóa đang trở thành một loại hình kinh tế trung tâm góp phần phát huy và phát triển giá trị di sản văn hóa và là một phương pháp mới để tăng cường cơ hội tiếp cận di sản rộng rãi hơn cho mọi người. Ở nước ta, Nghệ An là một trong số các tỉnh có số lượng di sản phong phú, và là mộtnguồn lực tiềm tàng vô cùng to lớn không chỉ cho các giá trị văn hóa, lịch sử, thẩm mỹ, khoa học mà còn cho cả giá trị kinh tế kỹ thuật số trong lĩnh vực kinh tế di sản của địa phương và cả nước nữa.

________________________________________

Tài liệu dẫn

Adane A., A. Chekole, G. Gedamu (2019). Cultural Heritage Digitization: Challenges and Opportunities, In International Journal of Computer Applications, (0975 - 8887) Volume 178, No.33, July 2019

BBez A. and Y. Brauner (2018). Policy options regarding tax challenges of the digitalized economy: making a case for withholding taxes, In SSRN Electronic Journal.

Bukht R. & R. Heeks (2018). Defining, Conceptualising and Measuring the Digital Economy, In International Organisations Research Journal, September 2018.

Daoud F. (2000). Electronic commerce infrastructure, In IEEE Potentials, 19 (1) (2000), pp. 30-33,

Glosiene A. and Z. Manzuch (2004). Usability of ICT-based systems: state-of-the-art review, CALIMERA Deliverable 9, available at http://www.kf.vu.lt/site_files_doc/usability_final.doc

Goldfarb, A. (2006). The (teaching) role of universities in the diffusion of the internet. In International Journal of Industrial Organization 24 (2), 203 - 225.

Goldfarb A., and C. Tuckery (2017). Digital Economics, NBER Working Paper No. 23684, August 2017.

Greenstein, S. (2015). How the Internet Became Commercial. Princeton University Press.

Heeks, R., (2016). Examining "Digital Development", In Development Informatics Working Paper 64, University of Manchester, UK.

Hilbert M. (2020). Digital technology and social change: the digital transformation of society from a historical perspective,In Dialogues Clin Neurosci. 2020 Jun; 22(2): 189-194.

Manžuch Z.; I. Huvila and T. Aparac-Jelusic (2005). Digitization of Cultural Heritage
In European Curriculum Reflections on Library and Information Science Education, Edited by Leif Kajberg and Leif Lørring. The Royal School of Library and Information Science, Denmark
OECD (2015). OECD Digital Economy Outlook 2015, OECD, Paris.

OECD (2018). Observer Roundtable on Local Firms and Automation, OECD Observer, 2018.

Patterson R. (2018). Can behavioral tools improve online student outcomes? Experimental evidence from a massive open online course, In Journal of Economic Behavior & Organization., vol. 153 (2018), pp. 293-321.

Piercy, N. (2000). Market-Led Strategic Change, Oxford, Butterworth-Heinemann.

Smith A. (2001). Strategies for Building Digitized Collections, Council on Library and Information Resources, available at http://www.clir.org/pubs/reports/pub101/contents.html

Tapscott, D. (1995). The Digital Economy: Promise and Peril in the Age of Networked Intelligence, McGraw-Hill, New York, NY.

Williams L.D. (2021). Concepts of Digital Economy and Industry 4.0 in Intelligent and information systems, In International Journal of Intelligent Networks, Volume 2, 2021, Pages 122-129

World Bank (2016). Digital Dividends: World Development Report 2016, World Bank, Washington, DC.

Sửa lần cuối vào Thứ sáu, 03 Tháng 12 2021 15:16

Tìm kiếm


Thống kê truy cập

92427788
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần qua
Tháng này
Tháng qua
Tất cả
16305
21197
127362
12376233
933526
2133557
92427788

IP của bạn: 44.192.25.113
2022-05-29 12:36