Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Điều mấu chốt là Chủ tịch Hồ Chí Minh tin trí thức (*)

Luật sư Phan Anh trả lời phỏng vấn
của nhà sử học Na Uy Stein Tonnesson
 
Stein Tonnesson là nhà sử học người Na Uy đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu về Việt Nam. Năm 1989, ông sang nước ta để chuẩn bị cho cuốn sách viết về cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Ông đã phỏng vấn nhiều nhân chứng lịch sử, trong đó có luật sư Phan Anh, người đã từng làm Bộ trưởng Bộ Thanh niên trong chính phủ Trần Trọng Kim, sau đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của chính phủ cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Bày tỏ những quan điểm đánh giá của mình đối với chính phủ Trần Trọng Kim và những diễn biến của cuộc cách mạng, ông Phan Anh muốn nhấn mạnh đến chính sách đại đoàn kết toàn dân của những người cộng sản, của Mặt trận Việt Minh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân đã cuốn hút toàn bộ dân tộc và giới trí thức yêu nước tham gia khiến cho cuộc Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra thắng lợi một cách trọn vẹn và ít đổ máu.
Cách đây 6năm (8 - 1995) bài viết này đã được đăng, nay chúng tôi đăng lại nhân kỉ niệm 90 năm ngày sinh của luật sư Phan Anh.
S.T.: Ông có thể cho biết mấy nét về con người Trần Trọng Kim?
P.A.: Tôi quen Trần Trọng Kim từ ngày ông còn dạy học và viết sử. Trong những tác phẩm của mình, ông động viên lòng yêu nước, ý chí quật cường cho thanh niên. Lúc đó tôi đang theo học Đại học Luật. Tôi rất có cảm tình đối với ông ấy. Trần Trọng Kim là một người yêu nước nhưng không phải là một nhà chính trị. Ông ta cần được sự giúp đỡ ý kiến.
S.T.: Trước khi cộng tác với ông Kim, ông đã theo dõi hoạt động của Việt Minh?
P.A.: Lúc ấy, ai chả biết tiếng Việt Minh. Tôi đã có cái may được cử làm nhiệm vụ luật sư, có lẽ là người luật sư duy nhất cãi cho các chiến sĩ Việt Minh bị bắt đem ra toà xử từ những năm 1940 đến 1945. Làm nhiệm vụ này, tôi biết lắm chuyện. Mà cũng vì thế tôi quý Việt Minh. Ông đã rõ tôi không phải là cộng sản; đến nay vẫn không phải đảng viên, nhưng tôi cộng tác với Đảng. Nhật đảo chính Pháp ngày 9 - 3 -1945, thay chế độ Pháp bằng chế độ Nhật. Chúng tôi không có ảo tưởng gì đối với sự thay đổi ấy. Lúc ấy có người tưởng rằng Nhật sẽ cho Việt Nam độc lập. Nhưng trên đời này, chẳng có ai cho không ai cái gì! Tôi đã từng làm Bộ trưởng Ngoại thương nên thấy rõ tình thế. "Không có gì quý hơn độc lập tự do" như Hồ Chí Minh đã nói. Một thứ quý như vậy lại được người ta cho à?
Đúng là sau 9 - 3 - 1945 có một cuộc vận động thân Nhật lăng xăng, lung tung. Nào là chính khách bọn thả câu nước đục, nào là bọn con buôn, bọn lưu manh, một cuộc vận động không những lung tung mà còn nhơ bẩn, lộn mửa bị trí thức lên án. Ông biết rõ: Nhật cũng thất vọng, vì người lương thiện không ai theo bọn kia, tôi cùng một số bạn đã sáng lập ra một tờ tạp chí, nội dung là văn hoá, thực chất là chính trị(1).
S.T.: Vậy các ông nghĩ thế nào mà lại nhận lời mời của Bảo Đại?
P.A.: Lúc ấy, những công chức người Pháp vẫn tiếp tục làm việc. Nhưng họ có mưu mô. Ngoan ngoãn cúi đầu trước Nhật. Thâm ý là chờ đợi xem thế nào?Chờ đợi một cách tích cực. Cụ thể là: Chịu sự sai bảo của ông chủ mới để được ngồi lỳtrong bộ máy hành chính. Trong phủ Toàn quyền, trong phủ Thống sứ toàn là người Pháp. Họ đã mất con bài chính trị thì phải giữ con bài hành chính. Để làm gì? Thế đấy! Hai khả năng: hoặc Nhật sẽ bại trận, thì người Pháp cần giữ bộ máy hành chính để rồi đặt lại nền thống trị, hoặc trái lại người Nhật còn ở lại, thì ổn rồi - người Pháp với sự giúp đỡ của chính quốc, tiếp tục nắm một mảnh nhỏ quyền hành. Trong hai khả năng ấy thì khả năng thứ nhất là hiện thực hơn. Chắc chắn Nhật chóng hay chầy sẽ đầu hàng. Giữ chặt các chức vụ hành chính để còn có vai trò trong tương lai. Bên cạnh trận địa hành chính, lại còn trận địa kín nữa chứ.
Tôi, với tư cách người yêu nước, đã quan sát tình hình ấy. Chúng tôi không muốn bị cả người Pháp lẫn người Nhật đánh lừa mình. Nhóm trí thức chúng tôi không phải là một đảng mà là một nhóm, chúng tôi nghĩ rằng nhiệm vụ cấp bách là phải đuổi bọn Pháp ra khỏi bộ máy hành chính. Chúng tôi huy động sinh viên, công chức làm việc đó, đòi Nhật làm việc đó.
Khẩu hiệu thứ hai của chúng tôi là tạm thời ngồi làm việc với người Nhật, nhưng không phải là "đồng tác giả", không phải là "kẻ hợp tác" với họ; phải giữ thế trung lập.
S.T.: Thế chính phủ Trần Trọng Kim có phải là chính phủ bù nhìn không?
P.A.: Lấy tư cách là thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là: Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập. Trong chính phủ Trần Trọng Kim có một bộ mà chúng tôi đã phải suy nghĩ nhiều: Bộ "quốc phòng" hoặc bộ "quân lực" hoặc Bộ "chiến tranh". Chính vì muốn giữ thế trung lập mà chúng tôi đã quyết định không có Bộ Quốc phòng. Người Nhật muốn có bộ ấy để lôi kéo chúng tôi đi với họ. Thay bộ ấy, chúng tôi lập Bộ Thanh niên. Phong trào Việt Minh đã nổi tiếng và gây được hiệu quả là vì được thanh niên ủng hộ. Chúng tôi vận động một phong trào thanh niên là nhằm mục đích quốc gia và mục đích xã hội. Phong trào thanh niên của chúng tôi không hề xung đột gì với Việt Minh. Cùng theo đuổi một mục tiêu như nhau mà!
S.T.: Thế nhưng các ông hồi ấy có liên hệ gì với Việt Minh đâu?
P.A.: Khi tôi ở Huế, trong Bộ Thanh niên thì hiến binh Nhật đến khám xét nhà riêng tôi, một phòng dược, vợ tôi là dược sĩ. Phan Mỹ, em ruột tôi đã là cảm tình Việt Minh, và bọn Nhật biết điều đó. Tôi nghĩ đó là lý do để họ đến khám nhà tôi, muốn tịch thu tài liệu, nhưng chẳng thấy gì, vì có gì mà thấy!
Để tóm lại chuyện vừa kể về vai trò của chính phủ Trần Trọng Kim, đó là sự góp phần để thực hiện mục tiêu mà toàn dân vươn tới: độc lập của đất nước.
Tôi phác lại đường lối mà chúng tôi đã theo. Nhưng cần có chứng cớ. Thì đây, vài việc cụ thể, chính xác.
Một việc có ý nghĩa chính trị là đòi lại cho Việt Nam những mảnh đất mà chế độ thuộc địa Pháp đã tách ra khỏi Việt Nam: Nam Kỳ, Đà Nẵng (Tourane), Hà Nội. Đó là những nhượng địa. Dân cư sống trên đó - những thuộc dân (sujets) của Pháp, không phải là công dân Pháp mà là những thuộc dân được bảo hộ (sujets protégés). Chính phủ Trần Trọng Kim đòi lại những mảnh đất ấy trước đây được gọi là thuộc địa. Chúng tôi đã đòi được những văn bản chính thức (của Nhật) trả lại Hà Nội cho chính phủ Việt Nam. Một buổi lễ longtrọng được tổ chức để thừa nhận Hà Nộithuộc lãnh thổ Việt Nam. Trong buổi lễấy thanh niên sẽ nhớ mãi, một ông bạntôi là bác sĩ Trần Văn Lai được cử làm thịtrưởng. Ông ta đã đẩy quần chúng lênphá bỏ mọi di tích thực dân Pháp tại HàNội: tượng đài, tên phố...
Người Nhật muốn bảo tồn Nam Kỳ. Họ do dự trước yêu sách của chúng tôi. Họ tuyên bố ủng hộ quyền độc lập của Việt Nam, nhưng họ vẫn chập chờn. Chỉ đến phút cuối cùng họ mới nhận việc cử khâm sứ đại diện cho nhà vua tại Nam phần, ông Nguyễn Văn Sâm.
S.T.: Xin hỏi trong chính phủ Trần Trọng Kim có sự thống nhất quan điểm này không?
P.A.: Ông hiểu rõ từ thống nhất có nhiều nghĩa. Lúc nãy, trong giờ nghỉ ông có nói về một chính phủ Na Uy. Thế có sự thống nhất quan điểm trong các đảng cầm quyền hay không? Tôi tưởng về vấn đề thống nhất, cần nắm chắc cái cốt lõi, mục tiêu chủ yếu. Chẳng bao giờ thống nhất được nhiều người trong một người. Điều ấy vừa không thực tế vừa không đáng cầu mong. Thống nhất trong sự khác biệt, đó là dân chủ.
Trong nội các chúng tôi, dĩ nhiên có sự nhất trí về mục tiêu: Tổ quốc độc lập. Người ta đã biết rõ chế độ thực dân Pháp. Người ta không điên rồ để muốn rơi vào một chế độ thực dân khác. Các thành viên chính phủ đều là trí thức: họ nhất trí về mục tiêu độc lập. Đó là thống nhất. Nhưng xu hướng tất nhiên là khác nhau. Họ là luật sư, bác sĩ, giáo sư, một người theo đạo Gia tô; họ là dân của cả ba xứ Trung, Nam, Bắc. Tất cả đều sẵnsàng hy sinh cho lý tưởng độc lập.
Tôi cần phải nghĩ khách quan. Tôi không thể nói ai theo xu hướng nào. Tôi chỉ nói với ông những sự kiện chứ không xét đoán về ai.
S T.: Đồng ý... Bây giờ, tôi muốn hỏi ông về công việc đã làm trong Bộ ông phụ trách. Bằng cách nào thì ông cũng đã thừa kế phong trào của Ducouroy. Ông ta, người dưới quyền Đô đốc Decoux thuộc chế độ Pétain, đã dựng lên một tổ chức thể thao và thanh niên. Tổ chức ấy đã có vai trò gì đối với công việc của ông?
P.A.: Ducouroy làm bậy bạ. Nhưng phong trào Ducouroy không phải là nguyên nhân gây sức lực cho phong trào thanh niên nước tôi. Nguyên nhân sâu xa là hoài bão độc lập của thanh niên. Bọn trẻ đòi sự thay đổi và nhà sử học phải tìm cho được nguyên nhân sâu xa. Có một phong trào yêu nước mà người khởi xướng là Nguyễn ái Quốc. Nguyễn ái Quốc ngay trước 1930 đã phất cờ độc lập dân tộc chống thực dân. Bản án chế độ thực dân Pháp chứng minh như vậy. Toàn thể thanh niên Việt Nam in vào đầu tinh thần ấy.
Ducouroy chỉ là một cái nắp an toàn (soupape de sureté) chế ngự áp suất thanh niên. Thực dân Pháp cần đến những soupape. Việt Minh là kết quảcủa chính phong trào lớn lao ấy, vàphong trào thanh niên tôi chỉ huy mớiđược ba tháng, không phải do tôi tạo rađược. Tôi từ chối danh hiệu người ta đặtcho phong trào ấy: "Thanh niên PhanAnh". Đó là thanh niên yêu nước củatoàn dân tộc. Tôi không thừa kế cái gìcủa Ducouroy(1). Tuyệt đối không. Nhưngtôi cũng như Việt Minh: là một động cơ.Việt Minh là động cơ lớn! Bộ Thanhniên là một động cơ nhỏ.
Khi chúng tôi lập ra Bộ Thanh niên, chúng tôi đã hiểu được sức mạnh và hoài bão sâu sắc của thanh niên. Về mặt tổ chức ở trên có bộ do tôi phụ trách. Bên cạnh bộ và ở địa phương, chúng tôi đã chọn đặc biệt là những nhân vật về chính trị tán thành quan điểm chống Pháp của chúng tôi, tán thành quan điểm trung lập đối với Nhật và đối với đồng minh. Nói chính xác hơn, đó là những thành viên của phong trào Hướng đạo. Phong trào này bao gồm những người trẻ tuổi tha thiết với vấn đề độc lập. Họ giữ một vai trò quan trọng. Nhiều thanh niên đã tìm kiếm một tổ chức mà chế độ thực dân dung nạp được và họ đã tìm ra tổ chức Hướng đạo. Người Pháp đã định dùng nó làm một soupape. Và chúng tôi đã chọn đúng cái soupape ấy để biến nó thành động cơ. Thanh niên thuộc mọi tầng lớp xã hội đều có ý thức về thực chất ấy. Chúng tôi đã sử dụng cái soupape an toàn của chủ nghĩa thực dân.
Trong số bạn của tôi có Tạ Quang Bửu - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sau tôi, rồi Bộ trưởng Đại học. Tôi đã chọn anh, tháng 4 - 1945, làm Thứ trưởng. Một cộng sự khác làm đại diện ở miền Bắc là một huynh trưởng hướng đạo có tiếng tăm lớn, một nhà giáo sau này trở thành Cục trưởng Cục Thông tin Bộ Quốc phòng và hiệu trưởng đầu tiên Học viện Quân sự: ông Hoàng Đạo Thuý. Hiện nay còn sống, tuổi đã hơn 90(1).
Và ông biết đấy. Trong chính phủ đầu tiên của nước Cộng hoà chúng tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng và để cho tôi chủ động tìm lấy những cục trưởng của bảy, tám cục đều là anh em trí thức; trong đó, năm 1946 chỉ có một người là đảng viên.
S.T.: Nhưng nhiệm vụ chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam không phải thuộc Bộ ông, mà thuộc Quân sự Uỷ viên hội, đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
P.A.: Vâng. Lúc ấy, có sự phân công như vậy. Nhưng điều mấu chốt là Chủ tịch Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tín nhiệm đối với trí thức.
S.T. - Ông nói đúng và tôi nghĩ đây là nhân tố chính yếu đem lại sự thành công cho Cách mạng Tháng Tám... Ông giải thích thế nào việc chính phủ Trần Trọng Kim gồm toàn trí thức yêu nước, suốt ba tháng bị Việt Minh tố cáo là một chính phủ phản bội Tổ quốc, thế mà sau đó đã từ chức trong cuộc khởi nghĩa do chính phe Việt Minh dấy lên, nghĩa là chịu cúi đầu trước cuộc cách mạng do những người cộng sản lãnh đạo? Phải chăng lúc nào cũng có sự thống nhất quan điểm trong nội các Trần Trọng Kim?
P.A.: Lúc nãy tôi đã nói với ông về cái nguyên tắc lớn này của lịch sử: Sự liên tục. Vậy thì chính phủ Trần Trọng Kim với tất cả bộ trưởng cùng theo đuổi một mục đích như tôi, đã tự vạch ra đường lối chung cho mình mà tôi vừa phác lại để ông rõ. chính phủ ấy ngay khi ra đời đã tự coi như một mắt xích lâm thời, tôi có thể nói rõ hơn là, theo tôi nhận định, như một công cụ phục vụ cho sự nghiệp giành độc lập. Chúng tôi đã tự coi không phải là những người lãnh đạo phong trào, lãnh đạo đất nước, mà là những công cụ, những tay chân của công cuộc đấu tranh dân tộc. Và do đó sự chuyển tiếp từ chính phủ Trần Trọng Kim đến nền Cộng hoà trong Cách mạng Tháng Tám diễn ra một cách tự nhiên, suôn sẻ nữa cơ. Tôi có thể nói với ông rằng với tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim. Đã có sự nhất trí toàn vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy. Đấy, tôi khẳng định như vậy đấy. Nhưng cũng phải có chứng cớ. Đây chứng cớ: Ngay ngày hôm sau mà chính phủ Nhật tuyên bố đầu hàng thì chính phủ Trần Trọng Kim đệ đơn từ chức lên nhà vua và thông báo tin ấy cho tất cả các tỉnh, đồng thời bày tỏ ý định của mình sẵn sàng giao quyền cho quốc dân. Cụ thể hơn nữa, chính phủ gửi thông điệp cho các nhân vật đại diện tất cả các giới và các địa phương mời tới Huế để nghiên cứu vấn đề thành lập một chính phủ mới. Trong số các nhân vật ghi trong thông điệp, tôi nhớ có hai vị mà ai cũng biết là thuộc tổ chức Việt Minh. Đó là hai bạn tôi, anh Bùi Công Trừng(1) - một nhà cách mạng và cộng sản trứ danh và anh Lê Văn Hiến, sau này trở thành Bộ trưởng Tài chính. Hai nhân vật đó thuộc miền Nam. Thuộc miền Bắc, tôi còn nhớ là anh Đặng Thai Mai, một bạn thân của tôi, không phải cộng sản mà là một giáo sư yêu nước có xu hướng tả. Lẽ dĩ nhiên thông điệp trên đã không có thể chấp hành được, bởi vì Việt Minh chủ trương khác. Phong trào do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã khởi động.
Nhưng còn lại một vấn đề pháp lý. Chính phủ nước Việt Nam là một chính phủ cách mạng, hẳn là thế, nhưng ngay đối với một chính phủ cách mạng, nếu kẻ đương quyền tuyên bố từ chức và bằng cách nào đó thừa nhận chính phủ cách mạng thì cũng có thể coi là điều có lợi. Tôi đã mang thông điệp từ chức đến các tỉnh mà tôi đi qua, từ Huế ra Hà Nội. Tôi đã báo tin như vậy cho quốc dân, và việc làm ấy tiến hành song song với các hoạt động của chính phủ cách mạng. Tới tỉnh Hà Tĩnh, quê hương tôi, ở đấy Việt Minh đã giành được chính quyền trước Hà Nội, tôi với danh nghĩa là bộ trưởng từ chức, đã được nhiều bạn bè trong Uỷ ban cách mạng tiếp đón. Tôi đưa tin chính phủ Trần Trọng Kim từ chức cho Uỷ ban cách mạng thì mọi người tỏ ra vui mừng. Tôi, thành viên của chính phủ đương quyền từ chức được các nhà cách mạng của tỉnh quê hương mình đón tiếp. Vậy thì không có một sự thống nhất sâu sắc hay sao?
Nhưng hãy còn một vấn đề. Sau chính phủ, còn cái ngai vàng ở trước mắt, biểu tượng của chủ quyền quốc gia. Đó là một vấn đề pháp lý và nhất là chính trị. Nhà vua sẽ chọn thái độ thế nào đối với cách mạng? Nhiều trí thức Hà Nội có ý kiến phải yêu cầu nhà vua thoái vị. Chính phủ vừa từ chức ở Huế nhận được một điện tín mang chữ ký của ba nhà trí thức: Giáo sư Nguyễn Xiển(1), Nguỵ Như Kon Tum(2)… yêu cầu nhà vua thoái vị chính thức. Không phải bức điện ấy định đoạt tình thế, nhưng nó là dấu hiệu của một phong trào toàn dân. Tất cả đại diện của các chính đảng, trong đó có giới trí thức, thấy cần có sự thoái vị ấy. Và chúng tôi, những thành viên của chính phủ vừa từ chức, chúng tôi cũng tán thành đòi sự thoái vị ấy. Dĩ nhiên, mức độ hăng hái trong yêu cầu đó không phải mạnh như nhau trong mỗi người chúng tôi. Nhưng những bộ trưởng quan trọng nhất đều tin chắc rằng việc nhà vua tuyên bố chính thức thoái vị sẽ là một việc có ích lợi lớn cho đất nước (…).




(*) Bài đăng trên tạp chí Xưa và Nay số tháng 8 - 2001.
(1) Tờ tp chí Thanh Ngh.
(1)Đại úy Pháp (có tài liu ghi là "đại tá"), th lĩnh Thanh niên thi Pháp nhng năm 1940 - 1945 Đông Dương.
(1) Cụ Hoàng Đạo Thuý đã qua đời đầu năm 1995.
(1) Sinh năm 1905, quê Tha Thiên - Huế, năm 1927 hc ti trường Đại hc Nhng người Lao động phương Đông Matxcơva mang tên Stalin, tng công tác trong B Kinh tế ca Chính ph Hồ Chí Minh.
(1) Giám đốc đài Thiên văn Kiến An, nguyên Tng ThưĐảng Xã hi Việt Nam.
(2) Sau là Hiệu trưởng Trường Đại hc Tng hp Hà Nội.